DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,094,149

Chế độ Ngô Đình Diệm?

Friday, November 11, 201112:00 AM(View: 5118)
Chế độ Ngô Đình Diệm?


CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM?



ndd 


… Dưới nền Đệ Nhất Cng hòa, dù Hiến Pháp 1956 đã bộc lộ rõ ràng tính phi dân chủ của nó, nhưng thật ra, chính thực tế sinh hoạt chính trị miền Nam trong những năm sau đó là đối lập chính trị bị đàn áp, nhà tù chất đầy chính trị phạm, và quyền tự do báo chí bị thủ tiêu, mới là những xác quyết không thể chối cải rằng chế độ Diệm là một chế độ phản dân quyền. Những thuộc tính nỗi tiếng khác của chế độ Diệm như Gia đình trị, Công an trị, Công giáo trị,… chỉ làm mạnh thêm và rõ thêm tính độc tài của gia đình cầm quyền họ Ngô mà thôi.

Chính vì chế độ độc tài đó đã kềm hãm, thậm chí còn tiêu diệt, sức mạnh phát triển quốc gia để đối đầu với miền Bắc, lại chẳng đem lại ấm no và tự do cho đồng bào miền Nam, nên chỉ trong 7 năm cầm quyền (từ khi ông Diệm làm tổng thống vào tháng 10/1956 đến khi chế độ của ông sụp đổ vào tháng 11/1963), người dân miền Nam đã 7 lần chống đối lại chế độ của ông:

1- Tháng 2/1957, hàng giáo phẩm Cao Đài đã ủng hộ cho một tín đồ tên là Hà Minh Trí mưu sát ông Diệm tại Hội chợ Xuân Tây Nguyên ở thành phố Ban Mê Thuột, với lý do là để trả thù cho tướng Trình Minh Thế và cho tín đồ Cao Đài bị đàn áp khiến Hộ pháp Phạm Công Tắc phải tị nạn qua Cam Bốt. Súng bị két đạn, mưu sát không thành, ông Hà Minh Trí bị cầm tù đến sau 1963 mới được thả ra. Nhưng cũng từ sau vụ mưu sát đó, trong mỗi bài diễn văn, ông Diệm lại dùng câu "Xin Ơn Trên che chở cho chúng ta" [Que Dieu nous protège!] để kết bài.


ndd1

  Ông Ngô Đình Nhu


2- Tháng 5/1957, không chịu được nền độc tài gia đình trị và chính sách trả thù ĐV Quốc Dân đảng thông qua chiến dịch chống Cng bừa bãi, Đai Việt Quốc Dân đảng "thành lập chiến khu Ba Lòng tại vùng rừng núi phía Tây tỉnh Quảng Trị nhằm mục đích chống lại chế độ gia đình trị của Nhu-Diệm, đồng thời cũng là cơ hội dẹp tan các âm mưu cố thủ của Cộng Sản tại nam vĩ tuyến 17. Tuy nhiên, dưới sự điều động sắt máu của ông Cố vấn miền Trung Ngô Đình Cẩn, quân đội đã dẹp được chiến khu nầy. Một phần lớn các đảng viên bị bắt và tù đày. Từ đó, mâu thuẫn giữa đảng Đại Việt và chính quyền Ngô Đình Diệm không những không hàn gắn được mà càng lúc càng sâu sắc thêm.

3- Tháng 4/1960, mười tám nhân vật tên tuổi của miền Nam họp tại một khách sạn ở trung tâm thủ đô Sài Gòn để công bố một Bản Tuyên Ngôn chỉ trích và lên án ông Diệm đã không đem lại cho dân chúng một cuộc sống tốt đẹp, tự do. Vì biết không thể xin họp công khai, những nhân vật nầy đã bí mật mời một số thông tín viên ngoại quốc và vài ký giả Việt Nam đến họp tại hội trường khách sạn Caravelle (vì vậy, nhóm nầy còn được gọi là "nhóm Caravelle"). Bản Tuyên ngôn gồm phần mở đầu và phần nhận định về 4 lãnh vực Chính trị, Chính quyền, Quân đội và Kinh tế Xã hội. Họ thẳng thắn cho rằng Quốc hội chỉ là tay sai của chính phủ, bầu cử chỉ là trò bịp bợm, tình trạng tham những bè phái khắp nơi, các chính đảng quốc gia bị đàn áp, quân đội chỉ là một công cụ để củng cố chính quyền chứ không được dùng để chống Cng, lấy "sự trung thành với một đảng để tùng phục mù quáng những kẻ lãnh đạo đảng làm tiêu chuẩn thăng thưởng"…

Bản Tuyên Ngôn kết luận:

"Cho đến nay, chúng tôi đã giữ im lặng và để cho chính quyền mặc ý hành động. Nhưng bây giờ đã đến lúc khẩn thiết, chúng tôi cảm thấy rằng bổn phận của chúng tôi - và trong lúc nước nhà gặp cảnh rối loạn thì ngay cả những kẻ hèn kém nhất cũng phải chia xẻ bổn phận này - là phải nói lên sự thật, thức tỉnh dư luận, báo động với nhân dân, và liên kết những kẻ đối lập, để cho thấy lối thoát.

Chúng tôi thỉnh cầu chính quyền gấp thay đổi chính sách để cứu vãn tình thế, bảo vệ chế độ Cộng Hòa và bảo vệ sự sống còn của quốc gia. Chúng tôi giữ vững niềm hy vọng là dân tộc Việt Nam sẽ có một tương lai sáng lạn để được hưởng thanh bình và thịnh vượng trong Tự Do và Tiến Bộ", nhưng lời "thỉnh cầu" tâm huyết và cấp thiết nầy của 18 nhân vật ưu tú nhất của miền Nam lúc bấy giờ đã bị hai ông Diệm Nhu không đếm xĩa đến. Dĩ nhiên sau đó, 18 nhân vật nầy đa số đều bị bắt bớ, tra tấn, giam cầm. Điểm đặc biệt là trong số 18 nhân vật kể trên thì có đến 10 người là cựu ân nhân, đồng chí, bạn thân và những Bộ trưởng đã từng hợp tác với ông Diệm thời ông chưa có quyền hành hay còn gặp khó khăn.


ndd2

 Ông Ngô Đình Diệm


4- Tháng 11/1960, chỉ 7 tháng sau "Tuyên ngôn Caravelle", trước những biện pháp chính trị thất nhân tâm của chính quyền Diệm và trước tình hình an ninh miền Nam càng lúc càng tồi tệ (Đầu năm 1960, sư đoàn 21 bị tấn công và thiệt hại nặng nề ở Tây Ninh, cuối năm đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Cộng Sản trá hình, ra đời), binh chủng Nhảy Dù (với các sĩ quan chỉ huy như Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu Hồng, Phan Trọng Chinh, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Huy Lợi …) cùng nhiều nhân vật đảng phái quốc gia tập họp trong Liên Minh Dân Chủ Mặt trận Quốc gia Đoàn kết đã phát động cuộc binh biến, đánh thẳng vào dinh Độc Lập, đòi ông Diệm cải tổ toàn diện cơ cấu lãnh đạo quốc gia để xây dựng lại chính nghĩa và nâng cao hiệu năng chiến đấu của quân dân miền Nam. Bị cô lập và bao vây trong Dinh Độc Lập, ông Diệm hứa sẽ đáp ứng những đòi hỏi đó nhưng thật ra ông chỉ kéo dài thời gian để chờ quân đội ở miền Tây về cứu ứng. Tin vào lời hứa đó nên quân Nhảy Dù ngưng chiến, và sau đó trở tay không kịp, bị thua nên cấp lãnh đạo cuộc binh biến một phần bị bắt đưa ra Tòa án kết tội phản loạn, một phần phải trốn sang tị nạn chính trị tại Cam Bốt. Binh chũng Nhãy Dù, từ đó, không được ông Diệm tin tưởng nữa. (trong đó đưa ra tòa Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, sau đó Nhất Linh tự hũy mình)

5- Tháng 2/1962, hơn một năm sau "Đảo chánh Nhãy dù", hai sĩ quan của một binh chủng khác của quân đội lại hành động: Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn văn Cử đã bay 2 chiếc Skyrider A-1 ném bom Napalm và bắn rocket vào dinh Độc Lập với mục đích tiêu diệt đầu não của chế độ ông Diệm (Ngoài ông bà Ngô Đình Nhu ở và làm việc trong Dinh Độc Lập, hôm đó còn có TGM Ngô Đình Thục nữa). Trung úy Quốc là giòng dõi của cụ Phạm Phú Thứ, một nhà cách mạng khí khái ở Quảng Nam mà giòng họ Ngô Đình vừa ghen vừa ghét trong thời Nam triều. Còn trung úy Cử là con của cụ Nguyễn Văn Lực, một lãnh tụ của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Bom và phi tiển chỉ làm hư hại cánh trái của Dinh Độc Lập mà thôi. Máy bay của Trung úy Quốc bị phòng không Hải quân bắn hạ, ông nhảy dù và bị bắt. Còn Trung úy Cử thì bay qua Cam bốt tị nạn. Sau 1963, hai ông trở về binh chủng Không quân và tiếp tục thi hành các phi vụ oanh kích Việt Cng trên chiến trường miền Nam. 

6- Một năm sau, vào tháng 5/1963, chính sách kỳ thị Phật giáo của chế độ Diệm lên đến cao điểm với lệnh cấm treo Phật kỳ trong lễ Phật đản tại Huế và sau đó nổ súng giết 8 Phật tử tại Đài Phát thanh. Đây là giọt nước làm tràn sự bất công của chính sách tiêu diệt Phật giáo một cách có hệ thống để Công giáo hóa miền Nam vốn bắt đầu từ năm 1956, khi lần đầu tiên Hoà thượng Trí Thủ gửi văn thư chính thức phản đối Linh mục Vàng, giảng sư của Trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long, đòi cắm cây thánh giá lên núi Ngũ Hành Sơn, nơi có chùa Non Nước ở Đà Nẵng (Vị Linh mục tên Vàng nầy, vào năm 1960, còn nỗi tiếng về chuyện xúi dục con chiên Nhà thờ Phú Cam đòi lại chùa Thiên Mụ ở Huế với lời giải thích quái đản rằng chùa Thiên Mụ là nơi "Mẹ của Trời", tức Đức Mẹ Maria, giáng trần nên phải trả chùa nầy lại cho Công giáo ! – (Tâm Đức, Như Áng Mây Bay, USA 2010, trang 230.)

Kể từ năm 1956 đó cho đến suốt 7 năm còn lại, Phật giáo đã bị đối xử phân biệt, áp lực đổi đạo, đày đọa đi các vùng dinh điền trên cao nguyên, bị chụp mũ là Cọng sản, chùa chiền bị các cha xứ lấn chiếm tranh dành, công chức quân nhân Phật tử bị trù dập.


ndd3

 Ông Ngô Đình Diệm (trẻ)


Xin ghi lại đây ba tình trạng kỳ thị Phât giáo tiêu biểu và trắng trợn mà ở miến Nam lúc bấy giờ ai cũng biết là: (a) Lễ Phật đản không được ghi trong danh sách ngày nghĩ quốc gia trong khi lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh, … của Công giáo thì lại được xem như quốc lễ. Mãi cho đến năm 1957, Hội chủ Phật giáo phải làm đơn "xin", chính phủ mới "cho" nghĩ ngày Phật Đản; (b) Khi Phật tử bị ép buộc vào sống trong các khu Trù mật., Dinh điền, Ấp Chiến lược của chính phủ, họ bị đủ mọi áp bức, nhất là áp bức kinh tế để đổi đạo đến nỗi có câu vè thật ai oán rằng "theo đạo có gạo mà ăn"; (c) Nhưng quan trọng hơn cả là chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn duy trì Dụ số 10 để khống chế Phật giáo trong quy chế của một Hội bình thường, trong khi Công giáo thì không bị ràng buộc, muốn tự do điều hành và sinh hoạt sao cũng được. Ông Diệm đã truất phế vua Bảo Đại, đã thành lập nền Cng hòa, đã thủ tiêu tất cả luật lệ thời phong kiến thực dân Tây để lại, vậy tại sao lại duy trì Dụ số 10 cực kỳ bất công và nham hiểm của phong kiến và thực dân, nếu không phải là để đạp Phật giáo xuống cho Công giáo lên ngôi vị độc tôn tại Việt Nam ?

Biến cố ở Huế sau đó trở thành cuộc đấu tranh cho nguyện vọng 5 điểm đòi bình đẳng tôn giáo. Trước sự ngoan cố của chính phủ Diệm, ngày 11/6 Hoà thương Thích Quảng Đức tự thiêu để "trân trọng kính gởi lời cho Tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thủa" khiến cuộc đấu tranh của Phật giáo lan rộng ra với sự hiện diện mạnh mẽ và đông đão của sinh viên, học sinh và đảng phái. Ngày 7/7, văn hào Nhất Linh tự thiêu để cảnh báo chế độ Diệm đang làm "tội nặng mất vào tay Cọng sản". Khuya 20/8, ông Nhu ra lệnh cho Cảnh sát dã chiến và Lực lượng Đặc biệt của Đại tá Lê Quang Tung phát động chiến dịch Nước Lũ ào ạt tấn công chùa Xá Lợi, Giác Minh, Ấn Quang, Từ Quang, Therevada ở Sài Gòn và chùa chiền khắp toàn quốc, bắt Tăng Ni (riêng tại Sài Gòn là 1,400 vị) và Phật tử giam giữ, phản bội Thông cáo Chung và vu khống cho Phật giáo là tay sai của Việt cọng. Hệ quả tức thời của chiến dịch Nước Lũ là toàn bộ thành phần lãnh đạo Phật giáo bị triệt tiêu, phong trào đấu tranh của Phật giáo gần như bị tê liệt, nhưng chính vì vậy mà phong trào đã trở thành tiền đề văn hóa và sức bật chính trị cho ngày 1/11/1963 của Quân đội ba tháng sau đó.

7- Trong ba tháng sau chiến dịch Nước Lũ để dứt điểm Phật giáo, nhiều vị lãnh đạo trên thế giới, kể cả Đức Giáo hoàng Paul VI và các tổ chức Công giáo, đã lên án chế độ Diệm. TGM Thục đến Vatican nhưng không được Giáo hoàng tiếp, bà Nhu dẫn phái đoàn Quốc hội đi "giải độc" trên thế giới bị chống đối. Cuối tháng 9/1963, Tồ chức Liên Hiệp Quốc quyết định gửi phái đoàn đến Việt Nam để điều tra tình hình đàn áp Phật giáo. Sinh viên học sinh và đông đảo đồng bào thay thế Phật tử và Tăng Ni ào ạt xuống đường biểu tình … Những tin đồn về việc ông Nhu sẽ tổ chức đảo chánh (kế hoạch "Bravo") để thay ông Diệm, nhất là tin về hai anh em ông Nhu-Diệm đang thỏa hiệp với chính quyền Cọng sản miền Bắc được truyền đi khắp hang cùng ngõ hẻm. Trường học đóng cửa, quân nhân bị cắm trại 100%, nhu yếu phẩm bị đầu cơ tích trữ. Sài Gòn như bốc lữa …

Ngày 1/11/1963, quân đội phát động cuộc binh biến lần thứ ba để lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Và lần nầy họ thành công. Ngày hôm sau, 2/11, hai anh em ông Nhu và Diệm bị bắn chết. Toàn quân toàn dân trên 35 tỉnh thị miền Nam hân hoan vui mừng ngày Cách mạng.


ndd4

 (?)


Hai nhà làm văn hóa ở Sài Gòn đã mô tả lại tâm tình của người dân thủ đô trong những ngày đó như sau:

"Từ 7 giờ sáng ngày 2-11-1963, khi đài phát thanh Sài Gòn báo tin dinh Gia Long bị quân đội chiếm thì già trẻ lớn bé lũ lượt kéo nhau đi xem. Lời hò reo, tiếng cười vang với sắc diện tươi vui của mọi người chứng tỏ sự giải thoát gông cùm kềm kẹp của độc tài đã bóp nghẹt lòng dân trong chín năm trời đăng đẳng" (Bác sĩ Dương Tấn Tươi, Cười - Nguyên nhân và Thực chất , Sài Gòn 1968, tr.44 ).

 

Còn thi sĩ Đông Hồ thì: "Nỗi ức hiếp, nỗi căm hờn bị đè nén, bị vùi dập một cách tàn nhẫn bất công trong 9 năm trời, một sớm được giải thoát, được cởi mở, mà phản ứng chỉ có chứng ấy thì tưởng quần chúng nhân dân Việt Nam năm 1963 này cũng đã tỏ ra hiền lành nhiều lắm, và cũng đã biết tự hạn chế, tự biết kềm hãm sức giận dữ hung hãn của mình rồi đó." (Nguyễn Hiến Lê, Tôi Tập Viết Tiếng Việt, 1988, tr. 21). 

 

Ba điều đặc biệt về biến cố nầy là:

(a) Thứ nhất, ngày 1/11 không tự nó là một kết quả riêng lẽ đến từ chỉ một nguyên nhân, mà là cao điểm kết tụ của một chuổi liên hoàn nhiều biến cố nối tiếp và gối đầu lên nhau trong thời gian (7 năm bạo trị), cũng như là kết quả tất yếu kết tinh từ nhiều thành tố đan bện và kết hợp với nhau (như kỳ thị Phật giáo, đàn áp đảng phái quốc gia, bất công tham những, mâu thuẫn với Mỹ, bè phái gia đình trị, thoả hiệp với Hà Nội, …). Nói như lý Duyên Sinh của nhà chùa: "Cái nầy có là vì (nhiều) cái kia có". Do đó, nói rằng chỉ quân đội bất mãn nên lật đổ ông Diệm là một cách nói giản lược, phi lịch sử và thiếu tính hệ thống, nếu không muốn nói là bất lương.

(b) Thứ nhì, ngày 1/11 đã trình hiện rõ ràng tình trạng cô lập tuyệt đối của gia đình họ Ngô và các công cụ bạo lực của họ trước cao trào chống đối của quân dân miền Nam. Đảng Cần Lao, Sở Nghiên cứu Chính trị, Lực lượng Đặc biệt, 4 cơ quan Mật vụ Công an, Phong trào Cách mạng Quốc gia, Thanh Niên Cọng hòa, Phụ nữ Liên đớì, các xóm Đạo võ trang… tất cả đều tê liệt rồi tan rã không một phản ứng vì tính phi chánh nghĩa, nặng bè phái và kém tổ chức của bản thân từng tổ chức một. Chế độ đang tan, lãnh tụ đang bôn tẩu, cả cấu trúc chính trị và bạo lực của nó sụp đổ trong 24 tiếng đồng hồ !. Chế độ Diệm đúng là một chế độ đã tồn tại như một ốc đảo trong dân, không một chút gốc rễ trong dân.

(c) Và thứ ba, người Mỹ đã đóng một vai trò vừa quan sát vừa tham dự vào biến cố 1/11 nầy vì sự sống còn của "tiền đồn" mà chính họ đã khai sinh, đã đầu tư cả tài lực lẫn vốn liếng chính trị trong chiến lược chống Cọng toàn cầu của họ. Chính ông Diệm chứ không ai cả, đã là nguyên nhân, từ đầu, làm cho người Mỹ có được một vai trò và thế lực áp đảo đáng kể, can thiệp quá sâu vào sinh hoạt chính trị của miền Nam sau nầy. Người Mỹ "nặn" ra ông, "bồng" ông về và "đặt" ông lên ngôi Tổng thống. Rồi quân viện và kinh viện, nhân sự và tiền bạc đổ vào miền Nam như thác đổ, từ viên đạn cho đến giọt xăng, từ lương tổng thống cho đến đôi giày bốtđờxô của anh binh nhì … Nhưng khác với các lãnh tụ cũng độc tài nhưng vì dân tộc và tổ quốc ở Đài Loan và Nam Hàn, ông Diệm độc tài vì gia đình và vì tôn giáo của ông chứ không vì nhân dân và lý tưởng chống Cọng. Ông đã chấp nhận làm con cờ cho Mỹ, nhưng lại bất lực trong nhiệm vụ làm con cờ, rồi lại thoả hiệp với kẻ thù Hà Nội, phản bội không những "người nặn ra ông" mà còn cả cái Hiến pháp chống Cọng và quân dân miền Nam, thì Mỹ phải đồng ý với và giúp đở cho quân dân miền Nam "dứt điểm" ông là đúng rồi. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ tóm tắt trong một câu rất ngắn mà thật tuyệt đối đúng: "Bảo là người Mỹ đã giết Diệm. Không! Diệm đã chết trong lòng dân tộc từ lâu. Mỹ chỉ đến lượm xác sống của y."   [Người Việt Đáng Yêu, (Lời Mở Đầu) Nhà xuất bản Sáng Tạo, Sài Gòn, 1965. Đăng lại trên Tạp chí Việt Nam Hải Ngoại (của Luật sư Đinh Thạch Bích) số 8 ngày 15-9-1977, San Diego, Hoa Kỳ.]

ndd5

  Ông Ngô Đình Nhu


 

*


Làm tổng thống 7 năm mà bị 7 lần chống đối ! Chống đối từ ôn hòa đến bạo động, càng lúc càng mạnh, từ tuyên ngôn, đến biều tình, đến ám sát, đến chiến khu, đến ném bom, rồi đến 2 lần binh biến…. Chống đối càng lúc càng sâu rộng, từ sinh viên học sinh, đến tôn giáo và trí thức, đến đảng phái và báo chí, đến đồng minh và công luận thế giới, đến quân đội…. Rõ ràng có một điều gì căn bản và trầm trọng khiến quân dân miền Nam không thể chấp nhận được chế độ Ngô Đình Diệm. Điều không chấp nhận đó có thể tóm gọn trong 2 bản chất cốt lõi của chế độ: Ngược lòng dânPhản thời đại.

Chế độ Ngô Đình Diệm đã tiêu vong, để lại bao nhiêu máu lệ cho dân tộc và ngang trái cho lịch sử. Tuy nhiên, phải thẳng thắn một điều: Lịch sử hình thành và quá trình chấm dứt của chế độ đó vẫn còn có thể đóng góp cho dân tộc ta. Đó là chế độ nầy sẽ được xem:

§ như mẫu mực của một chế độ chính trị phi dân ộc, độc tài, và thiếu khả năng. Do đó, mọi mầm mống và biểu hiện của một chế độ như thế sẽ không bao giờ được phép xuất hiện lại và tồn tại trên đất nước Việt Nam nữa.

§ như một kính chiếu yêu để chúng ta điểm mặt nhận diện cái thành phần phi dân tộc và phản thời đại o vẫn còn ngoan cố bóp méo lịch sử để bào chữa cho chế độ nầy, tô son trét phấn cho cái quá khứ oan nghiệt của thời kỳ họ ê a hai câu kinh quái đản "Ngô tổng thống muôn năm" và "Xin Thượng đế ban phước lành cho Người".

 

Nguyễn Kha


Chúng ta có nên hoài Ngô không?

1. Theo Chân Ngoại Bang:

Ông được người Mỹ dưng lên để mong rằng ông dẫn con đường có chính nghĩa để tranh thủ với CS, để họ thay Pháp bành trướng Thương Mại, Ngoại Giao và tiêu thụ được số thặng dư vũ khí mà các nhà tài phệt chưa thâu lại vốn. Họ cần giải ngân từ tiền dân Mỹ đóng thuế: Họ có lý do để móc tiền nhân dân Mỹ.

Ý đồ của Mỹ tham dự hội nghị Geneva, nhưng không ký vào bàn Hiệp Định để khỏi tham gia vào Ũy Hội Kiểm Soát Đình Chiến và không bị ràng buộc khi thay Pháp nhảy vào Đông Dương.

Tiền Mỹ viện trợ mà mọi người tưởng do tài ông Diệm làm cho miền Nam phồn vinh. Nên ông Diệm lạc quan mà hành xử độc tài đi ngược lại nguyện vọng toàn dân là xây dựng trong hòa bình để chờ tổng tuyển cử toàn thắng theo hiệp định Geneva có Ũy Hội KSĐC gồm Canada, Ấn Dộ và Ba lan

2. Gây Hận Thù Dân Tộc:

Luật số 10/ 59 là một sai lầm lớn khi loại Cọng Sản ra ngoài vòng Pháp Luật đi ngược lại chủ trương của người Mỹ là nền Dân Chủ cho mọi đảng phái tham gia như nước Mỹ vẫn có đảng CS. Ông Diệm đã ra sức tiêu diệt CS mà CS là ai là những người dân không biết CS là gì, Tư Bản luận của Karl Marx là gì. Vô tình ông đã đẩy toàn dân của của các tỉnh Nam, Ngãi , Bình, Phú, Bến Tre, Định Tường ngả theo CS. Chính người viết đã không thể về vùng quê hương mình giữ được mồ mả ông bà vì dân ở vùng nầy trở thành thù hận những người theo phía quốc gia như cá nhân tôi. Thay vì cảm hóa người dân thì ông lại đẩy người dân theo CS.


Luật số 10/59 ông Diệm đã dùng những phần tử như Quận Trưởng Phạm Quốc Thái ở Huyện Điện Bàn, Quảng Nam Đànẳng tàn sát dân lành vô tội. Sông Vĩnh Điện đã ngập xác người trôi sông, xô đẩy bao nhiêu người dân bị CS tuyên truyền tình nguyện lên núi theo CS. Lảnh chúa miền trung Ngô Đình Cẩn đã ra lịnh giết hại nhiều người tại Huế và Bình Trị Thiên tạo hận thù cho CS trả thù man rợ vào Tết Mậu Thân tại Huế. Người viết bài nầy gia đình cũng phải rời bỏ quê hương vì anh chị em đã bị CS cho vào danh sách bị thanh toán, bị thủ tiêu.

Khi ông Diệm bị ám sát hụt tại BMT là lúc lòng dần oán hận Ngô Đình Diệm lên đến đỉnh cao. Cọng Sản tuyên truyền xách động lòng dân để dân ở các vùng Nam, Ngãi, Bình ,Phú và miền Tây Nam Bộ theo CS khi họ chưa biết CS có hành động gì Phi Dân Chủ như ngày nay chúng đã làm. Ông Diệm là người phải chịu trách nhiệm nầy trước thảm cảnh mà ngày nay người dân Việt phải gánh chịu.

3. Phân Biệt Tôn Giáo:

Toàn dân Việt Nam có truyền thống thờ cúng ông bà và khuynh hướng Phật Giáo đến 95% dân số. Ông NĐD là người theo CG lại ra sức nâng đở dân CG và đàn áp Phật Giáo. Mà công giáo là ai? Họ là những người mà tổ tiên lâm cảnh nghèo khó được thực dân Pháp muốn xâm lược VN, Pháp đã lợi dụng các Cố Đạo người Pháp, Tây Ban Nha đêm tiền của mua chuộc để xử dụng trong những mưu đồ của họ trong hơn 8o năm đô hộ Đông Dương.


Phải thương xót cho người CG vì vô tình với nhưng lợi ích béo bở đã nhiều lúc yểm trợ cho Pháp làm hại cho tổ quốc VN. Họ là nạn nhân mà chính họ cũng không hiểu họ là ai và đã làm hại gì cho tố quốc VN. Họ chỉ biết rằng ông bà họ theo CG thì họ noi theo.

Ngược dòng Lich sử quý vị nên tìm hiểu vì sao vua Gia Long cầu viện Pháp thống nhát VN và đã đào mả vua Quang Trung, vị anh hùng dân tộc; lấy xác trộn thuốc súng; cho lính đái vào xương sọ của vua QT để trả thù. Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân bị voi dày, ngựa xéo...v.v.v. Đến nỗi những người Thừa Sai từ Pháp, Tây Ban Nha chứng kiến phải động lòng trắc ẩn mà viết lại sự kiện bi thương của LS Việt Nam mà ngày nay chúng ta còn tìm thấy đươc trong những Bảo Tàng Viện Pháp, Anh, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.


4. Hậu Quả Của Sai Lầm:

Chúa đã không cứu được NĐD, khi những biến chuyển đã dẫn đến bất lợi cho người Mỹ thì vai trò của NĐD không còn sáng sủa cho nền DC của Thế Giới Tư Do. Người Mỹ bắt buộc phải thay ông và thật tình Chúa đã không ủng hộ ông.


Luật nhân quả xuất hiện để ông dùng bà em dâu Trần Lệ Xuân tham gia làm chính trị mà thích phát ngôn bừa bài; không khác gì Nguyễn Cao Kỳ sau nầy.
Bà thấy những sư sải PG phẩn uất lại không tìm cách xoa dịu mà lại bảo Hòa Thựơng Thích Quảng Đức tư thiêu vì ông muốn bốc mùi BBQ, Cha bà Đại Sứ Trần Văn Chương buồn bã phải cạo đầu sám hối vì ông khuyên bà không nghe. Lúc nầy ông Diệm lại điên rồ cử bà sang Mỹ giải độc. Mớ Anh Văn, Pháp Văn + với tính kiêu ngạo của bà, bà đã đến Quốc Hội Hoa Kỳ phun nọc độc mà bao nhiêu cử tọa của QH Hoa Kỳ tham dự đều phải lắc đầu tán thưởng (?) mà kẽ viết bài nầy đang du học tại căn cứ Lackland Texas Hoa Kỳ ngồi xem TV trực tiếp truyền hình phải xấu hỗ cho bà và cho vận mệnh của đất nước Việt Nam.

5. Sự Từ Gi
ã
Việt Nam Của Người Mỹ:

Chính phủ Đệ Nhị Cộng Hòa với những tướng lảnh thiếu đoàn kết, tranh giành quyền lực gây xáo trộn lung tung. Bè phái lính nầy, lính nọ đánh lộn nhau. Chiến trường thì ai là chỉ huy đều dùng những chiêu thức kiêu binh. Lính tráng đánh giặc giỏi nhưng không biết cách lấy lòng dân. Chỉ huy phó hay CTCT đơn vị không có quyền hành gì, làm sao giáo dục binh sĩ tìm cách thân dân như phía CTV của CS. Nơi nào cũng bị cộng quân thao túng, chúng bao vây hết cả nông thôn, chỉ còn có những lỏm thành thị thì còn an ninh và còn có pháp luật.

Nông thôn bị mất dần. Người Mỹ không còn hy vọng gì khi mãi đổ xương máu 58000 quân tử trận và hàng trăm ngàn thương phế bình trở về làm phản chiến gây náo lọan ở nhiều thành phố lớn. Ung nhọt của HK càng ngày càng lớn. Họ phải quyết định bỏ rơi chúng ta dù họ đã hứa là bảo vệ Việt Nam là Tiền Đồn của Thế Giới Tự Do (người viết bài nầy đã đứng tro
ng hàng lính danh dự bắt súng chào để đón tướng Đại sứ Maxwell Taylor đến nói chuyện tại phi trường ĐàNẳng). Hơi thở của Việt Nam là do Viện Trợ Mỹ. Mỹ cúp viện trợ, rời bỏ Việt Nam mà theo tài liệu mật của Ngũ Giác Đài và Tòa Bạch Ốc. Họ đã coi Chính Phủ Nguyễn Văn Thiệu như không có vì Kissinger đã đi đêm với Bác Kinh lấy cái thị trường hơn một tỉ người hơn là phải giữ miếng mồi khó nuốt của Việt Nam thiếu những con người lảnh đạo biết yêu tổ quốc Việt Nam và nền Dân Chủ Tự Do. Những hành động của tướng Nguyễn Cao Kỳ và tướng Nguyễn Văn Thiệu như quý vị đã thấy. Ôi ! Toàn là những kiêu binh tạo nhiều tham nhủng khắp nơi..


Khai Le

B
ài đọc thêm:

Cuộc tàn sát đêm 8-5-1963 tại Đài Phát Thanh, Huế



Theo đức Phật dạy: “lấy từ bi, hỷ xả để đối xử với mọi người, mọi thú vật…” Thấm nhuần giáo lý đó nên mặc dù tận mắt chứng kiến biến cố thảm sát đêm 08-05-1963 tại Đài phát thanh, Huế tôi vẫn ấp ủ trong lòng như một kỷ niệm cho riêng mình. Nhưng sau khi đọc một số sách xuất bản ở nước ngoài hoặc vài bài trên mạng lưới mới thấy rằng mình biết rõ câu chuyện mà không viết nó ra thì mang tội với bảy vong hồn đã ngả xuống vì tiếng súng oan nghiệt, có lỗi với các gia đình nạn nhân và phản lại sự hy sinh cao cả của qúy Hòa Thượng, qúy Đại-đức, Tăng, Ni đã vị Pháp thiêu thân để cảnh tỉnh gia đình độc tài họ Ngô cũng như có tội với những thế hệ kế tiếp vì họ bị xuyên tạc bởi một số người vì vô tình hay cố ý đã bóp méo sự thật như Ông Nguyễn Lý Tưởng đã viết trên mạng lưới như sau: đêm đó Ông ta đứng ở trước trường văn khoa , đối diện với nhà thuốc tây của ông Lê Đình Phòng, ông ta không thấy có xe nào chạy vào đài phát thanh, rồi ông ta hỏi một câu: “ Xe tăng làm sao leo lên lề để cán người?” Còn nơi trang 360 sách có tựa đề:” LÀM THỀ NÀO ĐỂ GIẾT MỘT TỔNG THỐNG” thì ông Cao Thế Dung kh
ng định:”Chiếc xe cơ giới của Thiếu tá Sĩ tiến đến gần đài phát thanh khoảng năm mươi thước thì có tiêng nổ lớn, rồi có tiếng nổ tiếp theo…”còn trong trang 182 tác phẩm “NHỚ LẠI NHỮNG NGÀY Ở CẠNH TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM” của ông Nguyễn Hữu Duệ thì Thiếu Tá Đặng Sĩ kể lại là khi Đài phát thanh, Huế, bị tràn ngập thì ông ta có mặt ở đó. Ông ta không ra lệnh bắn, anh em binh sĩ không bắn nhưng có tiếng nổ làm chết và bị thương một số người… Vì vậy, sau nhiều ngày đắn đo suy nghĩ, tôi quyết định phải viết ra sự thật. Câu chuyện được diễn biến như sau: Hằng năm cứ vào những ngày giữa tháng tư, lác đác vài hoa phượng nhoẽn miệng cười để chào đón ánh nắng như thiêu như đốt của đất Thần Kinh. Người người, nhà nhà ở thành phố Huế, nô nức, rộn ràng chuẩn bị vật liệu như tre, lá bòng bong, các loại hoa như lây ơn, hoa huệ, hoa sen, hoa mẫu đơn nhất là hoa sứ được kết lại thành từng chuỗi để trang trí cho xe hoa, kỳ đài ở các Chùa, các công viên, cổng tam quan trước các hẽm nối dài với các đường chính. Người ta dán những cây cờ ngũ sắc, những lồng đèn bánh ú, ngôi sao, những bông sen, sườn bằng tre với những mảnh giấy khéo đến nổi như những đóa hoa thật. Không khí tưng bừng ấy bỗng dưng khựng lại vì vào chiều ngày mùng sáu tháng năm, có một công điện được gởi đi từ Phủ Tổng Thống đến các Tỉnh với nội dung là cấm treo cờ Phật Giáo trong ngày Đản sanh. Người ta xôn xao, bàn tán, không ngớt. Kẻ lắc đầu, người đưa hai tay tỏ vẽ thất vọng! Sự kỳ thị cuả gia đình ông Diệm đối với Phật Giáo không phải là lần đầu tiên, nội cái việc chín năm làm Tổng Thống, Ông Diệm vẫn duy trì cái đạo dụ cắt cớ số mười của Pháp, ban hành ngày sáu tháng tám năm một nghìn chin trăm năm mươi, đặt Phật Giáo ngang hàng với các hiệp hội khác, như hiệp hội thương mại, hiệp hội thể thao… còn Thiên Chúa Giáo thì được xem như một tôn giáo. Thật là ngạo mạn, không đắc nhân tâm chút nào cả! Trong khi đó hơn tám mươi phần trăm người Việt Nam theo Phật Giáo. Đạo Phật không khắc khe, bắt buộc phải đến Chùa hằng tuần, hằng tháng mới là Phật Tử. Có nhiều người cả đời không bao giờ đến Chùa, hoặc chưa một lần quy y nhưng họ tự coi mình là con Phật . Vì vậy khi cha, mẹ hoặc người thân qua đời, họ không mời ông Mục Sư, ông Linh Mục đến làm lễ mà họ mời qúy Đại Đức, Thượng Tọa đến cầu siêu, niệm Phật. Trong những năm vừa qua, trong dân gian đã thì thầm: - Theo đạo có gạo mà ăn. Đạo ở đây ám chỉ Thiên Chúa Giáo. Hoặc muốn thăng quan tiến chức thì cần phải có: -C,C. Ám chỉ Cần Lao, Công Giáo hoặc muốn khỏi nghi ngờ là Việt Cọng thì chịu khó rửa tội theo Chúa v…v…Nhưng lần này quá lộ liễu, trắng trợn! vì trước đó một tháng, ngày lễ Kim khánh, nhậm chức Linh Mục của ông Ngô Đình Thục, anh ruột của ông Diệm, thì cờ Thiên Chúa Giáo, cờ Vatican được treo ngập đường thành phố. Trong khi đó giáo dân chỉ chiếm không quá mười phần trăm! Từng nhóm năm, nhóm ba tụ họp thảo luận, thì thầm bàn tán… Chiều ngày bảy tháng năm, vài Cảnh Sát quá hăng say đã vào vài tư gia, kỳ môn buộc gỡ cờ Phật Giáo xuống. Điều này được chuyển nhanh đến Chùa Tứ Đàm. Thấy vậy, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam nhóm họp khẩn cấp, đồng thời đề cử hai vị thiền sư Tịnh Khiết và Giác Nhiên lãnh đạo một phái đoàn Phật Giáo tới ngay tư dinh của Tỉnh Trưởng tỉnh Thừa Thiên. Nghe được tin này, một số đồng bào Phật Tử, khoảng bốn năm ngàn người rũ nhau đến tòa Hành Chánh Tỉnh, trương biểu ngữ để phản đối chính quyền. Ông tỉnh Trưởng Nguyễn Văn Đẳng thấy tình hình quá căng thẳng bèn tuyên bố: - Cảnh Sát đã làm sai thượng lệnh. Cờ Phật Giáo được treo như mọi năm. Mọi người giải tán. Đêm đó ông cho xe phóng thanh đi khắp thành phố để phổ biến lệnh này. Sáng ngày tám tháng năm, lúc sáu giờ ba mươi như thường lệ, đoàn rước Phật do các khuôn hội, các Gia Đình Phật Tử tổ chức tuần tự diễn hành từ Chùa Diệu Đế qua các đường phố Bạch Đằng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, dốc Nam Giao, rồi đến Từ Đàm, hơi trể, vì quý Thầy phải ngừng lại dọc đường để tịch thu một số biểu ngữ tự phát trương lên. Khi đoàn rước Phật vào khuôn viên Chùa Từ Đàm thì có rất nhiều biểu ngữ lại được căng ra: - Phật Giáo đồ nhất trí bảo vệ chánh pháp dù phải hy sinh - Yêu cầu chính phủ thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo - Chúng tôi không từ chối một hy sinh nào - Phản đối chính sách bất công gian ác - Đã đến lúc chúng tôi bắt buộc tranh đấu cho chủ trương bình đẳng tôn giáo… Trước khi hành lễ Thượng Tọa Trí Quang với giọng nói sắc bén lần lược đọc và phân tích rõ ràng, mạch lạc hết các biểu ngữ và cho rằng đây là nguyện vọng chính đáng của đại đa số dân chúng. Buổi Lễ chấm dứt vào khoảng mười hai giờ trưa cùng ngày trong bình yên. Tôi trở về Chùa Pháp Hoa để dùng cơm trưa và thân mật chuyện trò với hai anh con ông bác ruột cùng lứa tuổi với tôi đang tu hành ở đó.Thời gian qua mau, khoảng sáu giờ chiều tôi bách bộ dọc theo dốc Nam Giao, Trường luật, tòa Đại Biểu Chính Phủ, nơi đây có một nhóm người đang tụ tập, tôi hỏi thăm thì được biết họ xin gặp Ông Đại Biểu Chính phủ để chất vấn? Không bận lòng, tôi tiếp tục tiến bước với nhiều người về cầu Tràng Tiền. Đến hông trường Đại Học Văn Khoa, cạnh Đài phát thanh, Huế, có nhiều đám đông đang tụ họp, nói chuyện với nhau. Vì hiếu kỳ, tôi dừng lại và hỏi một bác lớn tuổi: - Thưa bác người ta đứng ở đây làm gì mà đông dữ vậy? - Đợi đài cho truyền thanh lại buổi lễ sáng nay ở Chùa Từ Đàm. Trời càng về chiều, lượng người càng đông, lên đến hàng ngàn người. Họ đứng chật hết lề đường Lê Lợi-phía Đại Học Văn Khoa cũng như phiá sân Đài Phát Thanh, múi cầu Trường Tiền, đường về Đập Đá, trong trật tự và đặc biệt lộ trình giao thông Lê Lợi, Duy Tân không bế tắt. Vì nhỏ, hơn nữa muốn nhìn rõ hết cả khu vực nên tôi đã lên đứng trên thềm nhà của cái Via răn đa lộ thiên, của Đài phát Thanh cao chừng năm, sáu tấc có nhiều tầng cấp để đi lên. Trời đã tối mà buổi phát thanh vẫn chưa bắt đầu. Nhân viên Đài cho biết vì lý do kỷ thuật, xin đồng bào chịu khó chờ đợi. Nghe lời nói dịu dàng cũng như có phần hợp lý nên đồng bào Phật Tử cảm thông. Đến quá tám giờ vẫn luận điệu trên, đồng bào bắt đầu nghi ngờ và bất mản nhưng vẫn kiên nhẫn đứng đợi trong trật tự. Một thanh niên tăng quá nhiệt tình đã leo lên giàn hoa trước Đài để phất qua, phất lại lá cờ Phật Giáo, có nhiều tràng vỗ tay hưởng ứng. Bỗng tiếng thông báo từ ngoài cổng vọng vào: - Thượng Toạ đã đến với chúng ta, mời đồng bào nhường chỗ. Thế là mọi người giãn ra tạo thành một lối đi danh dự để tiếp đón người. Thượng Tọa tiến vào Đài Phát Thanh, có lẽ để nói chuyện với ông Ngô Danh, giám đốc Đài. Sau chừng mười lăm phút thì ông Tỉnh Trưởng cũng xuất hiện, ông len lỏi gữa đám đông để váo đài. Với tuổi mười lăm nhỏ dại, tôi đã so sánh: - Ông Tỉnh Trưởng nhỏ hơn ông Thượng Tọa? Thình lình một đoàn xe chửa lửa xuất hiện, đứng ngoài khuôn viên, dùng vòi rồng phun nước vào đám đông làm mọi người ướt như chuột rớt xuống sông, hầu mong giải tán. Có một vài thanh niên có máu tiếu lâm đã la lên: - Trời đang nóng, chính quyền cho xe đến bơm nước, mát quá, mát quá! Cám ơn chính quyền. Mọi người hưởng ứng cười vang. Thấy đám đông vẫn đứng nguyên tại chỗ. Đoàn xe cứu hỏa từ từ rút đi. Nửa giờ sau, vào khoảng chin giờ, thình lình một đoàn xe khác từ đường Duy Tân chạy đến. Một xe ô-tô-lăng-đê đã cán cổng bằng gỗ, sơn màu đỏ đậm rồi từ từ tiến vào sân đài, mặt bắng sân đài cao bằng mặt bằng của đường Lê Lợi. Mọi người xô đẩy, chen lấn nhau vì sợ xe cán. Đến giữa sân, xe ngừng lại cách thềm nhà chừng năm mươi mét, thình lình có ba tiếng súng nhỏ, phát ra từ xe, rồi đến một tiếng nổ lớn long trời lỡ đất và những tràng súng máy liên thanh, bắn chỉ thiên hướng về Kỳ đài Phu Vân Lâu, thỉnh thoảng có những viên đạn lửa đỏ lòm nổ trên không. Sau này vào quân ngũ tôi mới biết đó là tiếng nổ của đại liên ba mươi. Lúc này dưới sân mới hỗn loạn. Tiếng khóc la thảm thiết nổi lên. Có vài người chạy lên lay cái cửa sổ trước mặt tôi, cầu cứu: - Thượng Tọa ơi! Cứu đồng bào với; chết và bị thương nhiều quá! Người ta xô đẩy, chen lấn nhau. Nhiều người chạy ra chân cầu Tràng Tiền, một đám đông ùa về hiên trường Đại Học. Số còn lại gần xe có tiếng nổ thì dẫm lên nhau chạy lui về sau Đài, nơi đây có một bức tường gạch cao chừng một mét hai, ngăn cách với một công viên. Tôi phải trèo lên, té xuống hai ba lần mới vượt qua được bức tường đó. Lại tiếng la, tiếng khóc nổi lên vì người chạy sau nhảy lên đầu kẻ chạy trước. Ra khỏi công viên, tôi trực chỉ về hướng tòa Tỉnh, rồi cặp hông trường Bình Minh, rẽ trái đi theo con đường song song với đường Lê Lợi, trở về lại trường Đại Học Văn Khoa, đến múi cầu Trường Tiền thì dừng lại. Hằng ngàn người tụ họp ở đây, đường về trường Kiểu Mẫu, khúc đường Duy Tân hướng về khách sạn Thuận Hóa, trên cầu Trường Tiền. Một cuộc biểu tình tự phát được nổ ra, rầm rộ diễn qua các đại lộ: Trần Hưng Đạo, Huỳnh Thúc Kháng, đến cửa Đông Ba thì trở lại đường Phan Bội Châu. Khí thế như sôi lên sùng sục. Cuộc biểu tình tưởng như kéo dài suốt đêm. Thành phố như thức dậy. Uất ức, đau thương. Bỗng một chiếc xe của Ty Thông tin Thừa Thiên xuất hiện, ông Tỉnh Trửơng Nguyễn Văn Đẳng thì ngồi, một ông sư đứng bên, trên tay cầm cái min cờ rô, với giọng nói lanh lảnh: - Tôi là Thượng Toạ Thích Trí Quang đang kêu gọi đồng bào Phật tử đây, mong đồng bào giải tán, trở về với gia đình. Lời kêu gọi lập đi, lập lại nhiều lần, tuy đơn giản, không hù doạ, không răn đe nhưng như có một ma lực thu hút lòng hưởng ứng của mọi người. Đoàn biểu tình từ từ giải tán, trả lại sự yên tỉnh muôn thuở cho xứ Huế mộng mơ. Ngày hôm sau nghe đài và đọc báo mới biết vụ nổ tối hôm qua tại Đài Phát Thanh đã gây cho bảy người chết và nhiều người bị thương.


Tâm Hòa
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, September 11, 20198:56 PM(View: 64)
Thẻ Nhà Báo có chữ ký của ông Nguyễn Bắc Son
Wednesday, September 4, 201912:04 PM(View: 86)
Trước hết cần khẳng định một điều: hiện nay không có sự “phân ly” nào
Wednesday, August 28, 20198:24 AM(View: 1365)
Tội lớn nhất của HNV/VN là đánh tráo
Monday, August 19, 20197:31 AM(View: 194)
Và những người di cư cũng đã từng bị gọi là “Xóm Bắc Kỳ, dân Bắc Kỳ
Friday, August 9, 201911:49 AM(View: 219)
Bạo Lực Lên Ngôi, Giả Dối Thắng Thế, Con Người Vô Cảm.