DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,983,144

Phạm Đức Khôi - MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN VẬT TỔ & NGUỒN GỐC VIỆT TỘC

Wednesday, April 17, 20197:09 PM(View: 81)
Phạm Đức Khôi - MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN VẬT TỔ & NGUỒN GỐC VIỆT TỘC
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN VẬT TỔ
&
NGUỒN GỐC VIỆT TỘC

trong dong
 
Mỗi người dân Việt trong tâm thức đều mang niềm kiêu hãnh là con cháu Tiên-Rồng. Bởi lẽ theo truyền thuyết, hai linh vật siêu nhiên này là vật tổ của Việt tộc - Lạc Long Quân và Âu Cơ - đã từ lâu hiện hữu trong tâm khảm của chúng ta như thủy tổ của giống nòi. Một cách cụ thể, hai linh vật này đã hoá thân thành tổ phụ người Việt, mang thuộc tính cao qúy của giống Rồng-Tiên, có phép nhiệm màu có thể bay bổng, lặn sâu, làm mưa, làm gió hay “hô phong hoán vũ,” phò trợ thị tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách của thời tiết khắc nghiệt của nghề nông và sự xâm lấn, hủy diệt của các thị tộc khác. Hai Linh vật này xuất hiện trong thần thoại dựng nước, sản sinh ra thủy tổ người Việt dưới hình thức một bọc trăm trứng của loài chim hoá thân. Đó chính là tiền thân của Họ Hồng Bàng, với 18 đời vua Hùng dựng nước.

Khái niệm vật tổ Tiên-Rồng hoá thân dưới dạng Giao long, Lạc Hồng, Phượng Hoàng... là những sinh vật cụ thể hoặc siêu nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh hoặc sinh hoạt đời thường của quần chúng; bàng bạc trong lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước, tạo thành khí thiêng sông núi, khiến mỗi con dân Việt cảm nhận được bằng thần giao cách cảm, đôi khi linh nghiệm đến độ ngỡ ngàng trước tri thức linh vật hóa thân ở khắp mọi nơi.
Hơn nữa, về nguồn gốc dân tộc, theo các nhà nhân chủng học, người Việt ta vốn là một bộ tộc gốc Nam đảo (Austronesian).  Bộ tộc này đã có mặt tại đồng bằng Bắc Việt vào thời kỳ đồ đá cũ sang thời đồ đá giữa, có niên kỷ từ 50.000 đến 25.000 năm Trước Công Nguyên. Trong quá trình đấu tranh sinh tồn và phát huy sáng kiến, tạo dựng cơ đồ, tổ tiên ta đã vuợt thắng kiên cường, chống chỏi với mọi thế lực nghịch thù có khả năng tiêu diệt và đồng hóa bộ tộc, giữ gìn bản sắc giống nòi, để từ đó ra sức phát triển dân tộc, nâng cao trình độ kỹ thuật theo đà văn minh của nhân loại.

Nhằm mục đích phổ cập những khái niệm vật tổ căn bản của Việt tộc, và nhắc nhở nguồn cội dân tộc, đồng thời làm sáng tỏ những công trình chuyên khảo của các nhà nhân chủng học, khảo cổ học, di truyền học và sử học đã có công khai sáng nền văn minh Hoà Bình tại Đông Nam Á, giành cho nó một chỗ đứng xứng đáng trong cái nôi văn minh của nhân loại, trong đó có Việt tộc.Từ đó tiếp tục nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc, nhằm hâm nóng bầu nhiệt huyết đấu tranh trong huyết quản mỗi người Việt trước nguy Hán hóa của kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc. Đó là mục tiêu bài viết ước mong đạt được.

 
Mốí Quan Hệ Vật Tổ Việt Tộc:
Rồng-Tiên, Chim Lạc, Giao Long,Giao Chỉ, Lạc Hồng.


Theo nhà nghiên cứu Phạm Trần Anh trong bài “Vật Tổ Biểu Trưng Của Viêt Tộc” trên Khoahoc.net cách nay gần chục năm, cho chúng ta biết khi một xã hội thị tộc phát triển đến một giai đoạn nhất định nào đó thì người nguyên thủy bắt đầu tìm hiểu về cội nguồn thị tộc của mình. Ở vào thời kỳ tri thức con người chưa phân biệt được ranh giớí xã hội loài người và vạn vật thiên nhiên, nên cho thiên nhiên có một sức mạnh kỳ bí và thị tộc có một quan hệ huyết thống mật thiết với một động vật, thực vật hay sự vật nào đó. Từ ý niệm sơ khai coi động vật/thực vật hay sự vật mang ý nghĩa thần linh, có khả năng bảo vệ, che chở họ chống lại sức mạnh của thiên nhiên và sức mạnh của các bộ tộc khác. Trong hoàn cảnh ấy, phát sinh lễ nghi sùng bái vật tổ, coi đó là biểu tượng thiêng liêng của thị tộc mà các nhà nhân loại học gọi là Totem. Tuy người xưa sùng bái vật tổ nhưng không có nghĩa coi nó là tôn giáo, vì tự thân chữ totem tiếng Indian có nghĩa tông tộc, bao hàm ý nghĩa biểu trưng cho giống dòng thị tộc. Người Viêt chúng ta vẫn hãnh diện là con cháu Rồng-Tiên. Hai vật tổ Rồng và Tiên xuất hiện dưới nhiều dạng như Chim, Thuồng Luồng, Cá sấu, Giao Long, Phượng Hoàng, Thràng, chim Hồng, chim Lạc, chim Trĩ...những con vật thiêng liêng qúy hiếm này có ảnh hưởng trong đời sống và hiện diện trong tâm thức của mọi người dân Việt qua suốt qúa trình lịch sử hình thành và bảo vệ đất nước.


Vật Tổ Chim


Thật vậy, các di chỉ đào được ở Hà Mẫu Độ có khắc hình tượng chim, chứng tỏ Việt tộc đã sùng bái totem Chim là vật tổ thiêng liêng của tộc  mình. Di chỉ khảo cổ và nguồn sử liệu minh văn trên cho chúng ta biết về totem vật tổ của Việt tộc là Rồng và Tiên (Chim). Chi tộc Âu Việt thờ vật tổ Chim trên khắp địa bàn cư trú, nên ngưòi xưa thần thánh hoá Âu Cơ là Chim hóa thành tiên, do vậy chuyện thần thoại Lạc Long Quân lấy Âu Cơ đẻ ra Trăm trứng là chuyện hợp lẽ thường tình.
Hình ảnh vũ công hóa trang thành chim, đầu dắt lông trĩ trên các mặt trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ thể hiện totem vật tổ của Việt tộc là Chim. Trong các loài chim được sùng bái, chim Phượng Hoàng được coi là chúa tể. Theo truyền thuyết dân gian, mỗi khi Phượng Hoàng xuất hiện là có thánh nhân ra đời. Thời Quang Trung hoàng đế xướng nghĩa kháng Thanh, tục truyền rằng có chim Phượng Hoàng xuất hiện nên dân gian tin  Quang Trung hoàng đế là thánh nhân ra đời để cứu dân giúp nước. Vì lẽ đó, Hoàng đế Quang Trung đã cho xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô.

Ngôn ngữ các tộc người Nam Á gọi Phượng Hoàng là “Thràng” và địa danh Mê Linh của nước Văn Lang xuất phát từ Miling. Miling hay Minh Ling có nghĩa là lấp lánh tương tự như “Thràng”, đó chính là Phượng Hoàng vật tổ của người Việt Cổ xưa.

Thư tịch cổ cũng xác định người Việt cổ ở nước Sở chọn vật biểu là chim Hồng Hạc. Hồng Hộc, một loài chim nước gần với cò, sếu, hạc. Những loại chim rất phổ biến ở sứ sở có ruộng đồng cấy trồng lúa nước ở vùng nhiệt đới như như nước ta. Ngoài ra, Chim Hồng, Chim Lạc còn là loài chim có khả năng bay cao, bay xa nên người xưa có truyền thống tự hào là gìong giống Lạc Hồng, cũng tương tợ như Tiên-Rồng.

 
Vật Tổ Rồng


Bên cạnh vật biểu chim của chi Âu Việt, chi Lạc Việt tiền thân của Việt tộc còn tôn thờ vật tổ Rồng, biểu trưng cho tổ phụ của giòng gìống. Nếu Mẹ Tiên là biểu tượng của tình cảm và đời sống tâm linh, thì Bố Rồng biểu tượng của ý chí và sức mạnh vật chất, tạo thành con người Việt Nam toàn diện về tinh thần và thể chất.

Theo quan niệm Đông phương, Rồng là con vật huyền thọai, đứng đầu trong Tứ Linh ( Long, Li, Qui, Phượng), Rồng thường xuất hiện trên mây trời hay dưới nước. Việt tộc là cư dân sống về nông nghiệp nên tổ tiên ta đã thần thánh hoá con Giao long (cá sấu giống Phi châu, alligator, lớn và dài tới 5,6 thước) là Rồng. Rồng biểu lộ một sức mạnh tiềm tàng. Lúc ở dưới nước, lúc bay lên trời, làm mưa phun nước cho dân cày cấy.
Theo nhà nghiên cứu An Chi trong bộ sách “Rong Chơì Miền Chữ Nghĩa”, xuất bản năm 2016 tại Tp/SG, thì vật tổ của người Việt chính là Giao Long hay Cá Sấu mang biểu tượng cụ thể của Rồng.

Đi xa hơn một bước, ông dẫn sách Lĩnh Nam Chích Quái (phần Hồng Bàng Thị truyện): “bấy giờ dân trên núi xuống nước bắt đánh cá thường bị thuồng luồng (cá sấu) gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với vua Hùng. Vua nói:
“- Các gìống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình, và ghét những gì khác mình, vì vậy ta mới bị gây hại. Nói rồi vua bèn ra lệnh cho ai nấy phải lấy màu xâm hình thủy quái vào người. Từ đó không bị thuồng luồng gây thương tích nữa. Tục lệ vẽ mình, hay văn thân (文身)của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy.”

Tục lệ này áp dụng chỉ cho nam giới chuyên về nghề đánh cá, nó bắt rễ sâu vào đời sống của cư dân đến độ, mỗi thành viên nam sinh ra phải được đặt tên với chữ VĂN (文) ở giữa tên họ (surname) và tên riêng (first name). vd. Nguyễn văn B. Có nghĩa họ Nguyễn tên B đã xâm mình. Tục lệ này dần dà bị lãng quên, và chữ xâm mình (văn) bị ngộ nhận là tên đệm (middle name). Vì lẽ đó, để phân biệt chi nhánh khác nhau của cùng một dòng họ, người ta đã dùng tên đệm khác nhau để phân biệt thay cho chữ Văn như lúc ban đầu.
Một từ nữa là tên cổ của Việt tộc, cũng liên hệ với Giao Long là Giao Chỉ.  La Hương Lâm trong sách Cổ Đại Việt Tộc Khảo cho rằng tục xâm mình là do sự sùng bái giao long làm totem của người Giao chỉ ( 交趾 hay 交阯) thuộc chi Bách Việt phía nam sông Dương Tử. Theo Hà Y trong bài “Rồng: Vật Tổ Của Dân Việt” thì phải hiểu “Giao” là giao long, như thành ngữ “giao long đắc thủy” (蛟龍得水) - rồng gặp nước, để chỉ sự may mắn -  và “Chỉ” là đất ( ) chứ không phải ngón chân cái ().Giao Chỉ là đất có nhiều giao long (cá sấu). Cách hiểu xưa nay Giao Chỉ là giống người có hai ngón chân cái giao nhau là không hợp lý. Vì hiện tượng này nếu có chỉ là một bệnh lý, chỉ giới hạn trong một số người, không thể có một dân tộc mà toàn dân đều mắc bệnh đầu ngón chân cái giao nhau!
 
Nguồn Gốc Dân tộc: Họ Hồng-Bàng
(2879-258 TCN)


Image result for họ hồng bàng
 

Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, tục truyền vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam, đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.
Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp biển Nam Hải.

Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào khoảng năm Nhâm tuất (2879 TCN) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ ra một bọc gồm trăm trái trứng, sinh ra một trăm người con trai. Một hôm, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: “Ta là dòng dõi Long Quân, nàng là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được; nay được trăm con thì nàng đem 50 đứa lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống biển Nam Hải.”

Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua gọi là Mị nương, các quan nhỏ gọi là Bồ chính. Quyền chính theo chế độ cha truyền con nối, gọi là Phụ đạo. Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quý mão (158 TCN) thì bị nhà Thục xâm chiếm.
Xét từ đời Kinh Dương Vương đến đời vua Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20 đời vua, tính từ năm nhâm tuất (2879) đến năm quý mão (258 TCN) thì vừa được 2622 năm. Chia đều, mỗi vị vua trị vì được gần 150 năm!

Theo GS. Lê Manh Hùng, trong Nhìn Lại Lịch Sử - Từ tiền sử đến tự chủ - thì thần thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ diễn tả phần nào sự tập họp của hai tộc dân miền núi và miền biển. Nhưng dân Lạc ấy đi từ đâu đến và đến khi nào? Câu hỏi này được nhà nghiên cứu người Pháp Aurousseau của trường Viễn Đông Bác Cổ cho rằng, dân ta có nguồn gốc dân tộc mà người Hoa gọi là Bách Việt, có quan hệ với nước Việt của Việt Câu Tiễn thời Xuân Thu Chiến Quốc. Theo ông, dân Việt ta chính là con cháu của giống người sau này. Chính họ đã di cư xuống phía Nam sau khi nước Việt bị nước Sở diệt vào thế kỷ thứ Tư trước Công Nguyên. Cụ Trần Trọng Kim và học gỉa Đào Duy Anh thừa nhận thuyết của Aurousseau, do vậy đã chấp nhận tổ tiên Việt tộc thuộc gốc Bách Việt từ phía Nam sông Dương tử. Dựa vào thuyết này và dựa vào cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên dưới thời Hán Vũ Đế (156--87 TCN), Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim đã nhìn nhận mối quan hệ họ hàng của Họ Hồng Bàng với con cháu của vua Thần Nông phát xuất từ phía Nam sông Dương tử bên Tàu!
Sự thực, lợi dụng giai đoạn huyền sử này của Tàu lẫn của ta, Tư Mã Thiên, sử quan nhà Hán, đã “múa gậy giữa rừng hoang” mạnh dạn bịa đặt ra một đoạn sử: “Lạc Long Quân kết duyên cùng Âu cơ, con  gái của Đế Lai....” Đó là lý do hoài thai của đoạn sử “râu ông nọ cắm cằm bà kia” trong Việt Nam Sử Lược.

Một số các nhà nghiên cứu khác không đồng ý, đã chỉ ra một số khiếm khuyết của gỉa thuyết này: đặc biệt, thuyết đã không lưu ý đến những khó khăn của một cuộc hành trình dài mấy ngàn dặm, xuyên qua phần đất của nhiều dân tộc khác nhau, cũng như phản ứng của dân bản xứ trước một cuộc di cư lớn lao như vậy! một cuộc di cư đội đá vá trời ở thời hồng hoang, nói cho đúng, chỉ là huyền thoại được bóp méo theo mưu đồ Hán hoá của người Phương Bắc.

Đấy là chưa nói đến những công trình nghiên cứu gần đây, tài liệu Genetic Relationship of Population in China của nhóm J.Y. Chu và Eden of the East của Stephen Oppenheimer, chứng minh rằng người từ châu Phi di cư đến Đông Nam Á, rồi từ đây đi lên khai phá Trung hoa, chứng tỏ tổ tiên người người Việt tại ĐNA đã có mặt tại nơi này từ thời kỳ trước Hồng thủy, cách nay cả 100,000 năm. Việc di cư lên, xuống miền Bắc Trung Hoa chỉ là kết qủa của giai đoạn biển tiến hay lùi và chính sách hà khắc của nhà Tần đối với nhóm Bách Việt, khiến tổ tiên người Việt phải tháo chạy xuống đồng bằng sông Hồng, và định cư ở đây hàng mấy chục ngàn năm, sản sinh ra nền văn minh Hoà bình rực rỡ, tuyệt nhiên không có vấn đề tổ tiên ta là người Hoa Hán.
Cuộc khai quật gần đây tại Thái Lan. Clark Neher, trong bài viết “ The Bronze Drum Tradition”, trên tạp chí Asian Studies ,1975, cũng cho biết: ”Trái với những điều các học gỉa Trung quốc vẫn thường tự nhận, việc đúc đồng đã được biết trước tại Đông Nam Á, và truyền sang Trung Quốc về sau này.”

Những bằng chứng khác cũng cho thấy, nền văn hoá Đông Sơn đã phát triển độc lập với Trung Quốc và là một kế thừa của một nền văn hóa xưa hơn tại chỗ, thuộc thời kỳ đồ đá mới, mà các nhà khảo cổ gọi là văn hóa Phùng Nguyên (tại Bắc Việt khỏang thiên niên kỷ thứ 3 TCN).
Tuy nhiên người ta còn ghi nhận chính nền văn hóa Đông Sơn, kéo dài 8 thế kỷ ( thế kỷ 7 TCN đến thế kỷ 1 SCN) tập trung tại vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã, đặc biệt tại Vĩnh Phúc Yên, Phú Thọ vốn được coi là cái nôi của vương quốc các vua Hùng. Sự trùng lặp giữa việc phân bổ các di chỉ văn hóa Đông Sơn với vùng mà  hầu hết hiện nay người ta công nhận là cương vực của nước Văn Lang thời xưa, đã khiến cho các học gỉa đồng nhất các giai đoạn văn hóa Đông Sơn cũng là giai đoạn then chốt hình thành dân tộc việt Nam.

Với những bằng chứng trên, chúng ta có thể đi đến kết luận: thần thoại Lạc Long - Âu Cơ và 18 đời vua Hùng là của Việt tộc. Dân tộc Việt là  một tộc dân độc lập với ngừơi Hoa Hán và có một nền văn minh Phùng Nguyên-Đông Sơn rực rỡ tại đồng bằng sông Hồng, Bắc Việt từ thời đồ đá mới (neolithic). Một điều khẳng định là, có một vương triều có niên đại xấp xỉ giai đoạn văn hoá Đông Sơn, bắt đầu từ khoảng đầu thiên niên kỷ thứ Nhất mà ta tạm gọi là thời kỳ Hùng vương, và nước Văn Lang.

Về mặt sử liệu, lần đầu được ghi chép trong bộ Quảng Châu Ký, viết ra vào thời Tấn, cho biết có một ông vua là Thục Phán đã đánh chiếm nước Văn Lang của vua Hùng, xưng hiệu là An Dương Vương và đổi tên nước là Âu Lạc; sau bị Triệu Đà từ phương Bắc tới xâm lăng. Nhưng còn về An Dương Vương và những gì xảy ra trước đó hầu như chỉ được nói đến trong truyền thuyết và thần thoại của Việt Nam viết bằng chữ Hán qua hai cuốn sách cổ dưới thời Lê, Trần: Việt Điện U Linh Tập và Lĩnh Nam Chích Quái.

Riêng tên gọi họ Hồng Bàng mà “Lĩnh Nam Crích Quái” gọi là “Hồng-Bàng Thị,” về ý nghĩa, cũng còn là một vấn đề tranh cãi. Theo Hà văn Thùy,Trang Việt Học, (thuyvanha.blogspot.com/201) xưa nay chúng ta vẫn hiểu Hồng là con chim lớn (hồng là lớn, bàng là chim). Nhưng theo ông, Hồng có nghĩa là Rồng kí âm từ thời chưa có chữ viết. Nhưng chữ Hồng theo chữ Hán viết là (鴻) có bộ điểu và chữ giang, chúng có thể là chim hồng hạc, hồng hộc...tức loại chim lớn như ngỗng trời, có sải cánh rộng nên bay cao. Hồng ở đây là loại chim biểu trưng của Tiên.
Còn chữ Bàng (龐) có biến dạng với chữ mang, mạng, mãng, một ký âm của mãng xà mà ngày xưa ông cha ta hay gọi tên cho loài rắn biết bay; truyện Thạch Sanh, Lý Thông gọi mãng xà tinh, hay loài rắn hoá thân thành rồng.

Tóm lại Hồng Bàng là là hai vật tổ huyễn hóa chim và rắn, tức Tiên-Rồng. Câu chuyện huyền thoại về nguồn gốc Việt tộc dù các nhà sử học đặc biệt như cụ Trần Trọng Kim, đã không xác quyết là hiện thực, nhưng trong tâm thức người dân với lòng kiêu hãnh của một dân tộc kiên cường và bất khuất đã cấu thành khí thiêng sông núi, làm nên những chiến tích rạng danh giống giòng Việt tộc trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm.
Đôi câu đối lịch sử trước cổng tam quan Đền Hùng Phú thọ đã nói lên cái ý chí cao vời của những bậc tổ phụ tài ba, thao lược đã quyết tâm mở nước đắp nền, xây dựng một cơ đồ kỳ vĩ cho con cháu đời sau:
Thác thủy khai cơ, tứ cố sơn hà qui bản tịch
Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn.

(Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông quy một mối
Lên cao nhìn rộng, nghìn trùng đồi núi tợ đàn con)

Có ý kiến phân tích chữ Thác (拓), nghĩa là nâng lên, dùng sức tạo dựng. Chữ thủy đúng ra là chữ 始(có nghĩa chỗ bắt đầu hay khởi điểm) gồm chữ Nữ và chữ Thai, có nghĩa là sự sinh nở. Như vậy thác - sức lực tạo dựng được hiểu là cha, thủy – thai, sinh nở hiểu là mẹ. “Thác Thuỷ” là xuất phát từ truyền thuyết cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ sinh ra 100 người con, tỏa đi khắp cõi sơn hà, nhưng đều quy vào một gốc. Nếu như vế trước ca ngợi công ơn tiên tổ, thì vế sau nói về tiền đồ rộng mở, lên cao nhìn rộng, núi non trùng điệp, đông đúc như cháu con hơn 90 triệu hôm nay.


 Cái  Nôi  Văn Minh Loài  Người ở  Phương  Đông


Các nhà khảo cổ học, sử học Tây phương và ngay cả Việt Nam như Đào Duy Anh trong Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Trần Trọng Kim với Việt Nam Sử Lược... xưa nay vẫn nhìn nhận nguồn gốc dân tộc Việt dưới dạng Bách Việt, đã xuất phát từ phía nam sông Dương Tử bên Tàu, và  nền văn minh cổ thời của Đông Nam Á cũng thoát thai từ hai nền văn minh Hoa-Ấn.  Gần đây một y sĩ người Anh, một, nhà nghiên cứu “tài tử” ông Stephen Oppenheimer đã cho ra đời cuốn sách dày 560 trang (1998), nghiên cứu một cách khoa học, trình bày dữ kiện có hệ thống về “Vườn Địa Đàng Phương Đông”, gây chấn động thế giới và thay đổi cái nhìn kỳ thị của người Hoa đối với các nước trong vùng: “Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia”  (tạm dịch là “Địa Đàng Phương Đông: Lục địa bị chìm ngập của Đông Nam Á).  Trong tác phẩm này, qua những dữ kiện dồi dào được thu thập một cách công phu từ nhiều ngành nghiên cứu khác nhau, Oppenheimer trực tiếp thách thức thuyết chính thống cho rằng các nền văn minh Đông Nam Á ( kể cả Việt Nam) chỉ là chi nhánh của hai nền văn hoá lớn hơn: Trung Hoa và Ắn Độ. Công cuộc nghiên cứu quy mô này đã làm thay đổi những quan niệm về thời tiền sử mà chúng ta từng hiểu và từng được dạy.  Đặc biệt, cuốn sách đặt trọng tâm vào việc thẩm định lại các quan điểm về văn minh vào thời tiền sử ở Đông Nam Á, tác giả cho rằng:

1. Trận đại hồng thủy tương tự như trong Kinh Thánh là có thật và xảy ra vào cuối thời đại Băng hà (Ice Age).
 
2.Trận đại hồng thủy này xảy ra khoảng 8000 năm về trước, làm chìm đắm lục địa Đông Nam Á, và làm cho dân chúng phải di tản đi các vùng đất khác để sống còn. Họ chính là những người gầy dựng nên nền văn hóa Tân Đồ Đá (Neolithic cultures) của Trung Quốc, Ấn Độ, Mesopotamia, Ai Cập và vùng đông Địa Trung Hải, và do đó, họ là những người cha đẻ và vun đắp các nền văn minh vĩ đại ở phương Tây.
 
3. Những dân tộc thuộc quần đảo Polynesian không phải xuất phát từ Trung Quốc, nhưng có nguồn gốc từ Đông Nam Á.
4. Người Trung Quốc không phải là người sáng chế ra kỹ thuật trồng lúa. Khoảng 9,000 đến 10,000 năm về trước, một số dân thuộc vùng Đông Nam Á đã là những nhà canh nông chuyên nghiệp đầu tiên của nhân loại (chứ không chỉ sống bằng nghề săn bắn), họ đã phát triển kỹ thuật trồng khoai và qua đó đã làm một cuộc cách mạng nông nghiệp.

Nói một cách rõ hơn, qua công trình nghiên cứu này, Oppenheimer đề xuất một thuyết cho rằng Đông Nam Á là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại ngày nay. Thuyết này thể hiện một thách thức rất lớn đến các tri thức về thời tiền sử đã và đang được lưu truyền trong giới khoa bảng. Oppenheimer cho rằng con đường phía Nam, từ châu Phi qua Biển Đỏ rồi men theo bờ Ấn Độ dương tơí lục địa Sundaland (vùng Đông Nam Á lúc chưa bị nưóc biển nhận chìm như ngày nay), là con đường di cư chủ yếu từ 80-90 ngàn năm trước. Từ đây người tinh khôn (Homo Sapiens) toả ra khắp thế giới. Vì lẽ đó Đông Nam Á được coi là Địa Đàng Phương Đông. Và do đó, Oppenheimer lần đầu tiên đã đặt vùng Đông Nam Á vào vị trí xứng đáng của một vùng đất thường bị lãng quên bên cạnh hai nền văn minh lớn là Trung Hoa và Ấn Độ.

Trong “Địa Đàng Phương Đông” Stephen Oppenheimer đặt một câu hỏi mà ai cũng phải suy nghĩ: người dân vùng duyên hải Đông Nam Á làm gì khi mực nước biển dâng cao làm ngập xứ sở họ vào thời gian gần Thuộc kỳ pleitocen (chu kỳ đóng băng Ice Age).  Câu trả lời của Oppenheimer dựa vào ba lý lẽ quan trọng:

1. Thứ nhất, vào thời cao điểm của Thời đại Băng hà (khoảng 20000 đến 18000 năm trước đây), Đông Nam Á là một lục địa rộng gấp hai lần Ấn Độ ngày nay, và bao gồm cả phần đất mà người Tây phương thường gọi là bán đảo Đông Dương, Mã Lai Á và Nam Dương.  Vào thời đó, Biển Nam (South China Sea), Vịnh Thái Lan và Biển Java là một vùng đất khô, nối liền các khu vực của lục địa. Theo địa chất học, bán phần của vùng đất bị ngập chìm này được gọi là Thềm lục địa Sunda (tiếng Anh là Sundaland). Vùng đồng bằng của thềm lục địa này bị chìm đắm rộng lớn bằng Ấn Độ ngày nay.  Sau Thời đại Băng hà, cuối cùng chỉ còn một số núi rải rác chung quanh quần đảo Mã Lai.  Vùng biển nối giữa Hàn Quốc, Nhật Bản, và Đài Loan mà ngày nay ta gọi là Biển Đông (East China Sea) từng là vùng đất liền.  Một bằng chứng rất thuyết phục mới nhất gần đây là những công trình xây cất, tòa nhà được kiến trúc rất độc đáo vừa được khám phá dưới lòng biển thuộc Đài Loan.

2. Thứ hai, Oppenheimer chứng minh rằng khoảng 9,000 đến 10,000 năm về trước, một số dân vùng Đông Nam Á đã là trở thành những nhà canh nông chuyên nghiệp, không chỉ là những người sống bằng nghề săn bắn ban sơ như giới khảo cổ học Tây phương mô tả. Ông trình bày dữ kiện liên quan đến trồng trọt khoai lang (khoai mỡ, yam) và khoai nước (taro) được tìm thấy ở Nam Dương, mà tuổi cỡ 15,000 đến 10,000 năm trước Dương lịch; kỹ thuật trồng lúa có xấp xỉ tuổi cũng được tìm thấy ở Mã Lai Á.

3·Thứ ba, dựa vào dữ kiện và các yếu tố địa chất học, Oppenheimer cho rằng vào khoảng 8000 năm trước đây, mực nước biển tăng một cách đột ngột và gây ra một trận đại hồng thủy, và trận lụt vĩ đại này đã làm cho những nhà nông đầu tiên trên thế giới này phải di tản đi các vùng đất khác để mưu sinh. Tuyến đường di cư là theo hướng Nam về Úc Đại Lợi, hướng Đông đến Thái Bình Dương, và hướng Tây đến ấn Độ Dương, và hướng Bắc vào vùng đất liền Á châu

(Đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc và văn minh Việt Nam, Nguyễn văn Tuấn, Thứ Bảy, 06/02/2016. www.chungta.com)
Theo LS. Cung Đình Thanh (Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Tập san Tư Tưởng , Australia, số 7, 14/4/2000) thì đến năm 1999 một học gỉa người Trung Hoa, GS. Li Yin, đứng đầu nhóm khoa học gia vể di truyền học (Đại học Stanford) đã nghiên cứu cùng một vấn đề nguốn gốc thủy tổ loài người, củng cố thuyết của ông Cavalli-Soforza và còn khẳng định thêm thuyết con người có gốc duy nhất từ Phi Châu đã đi các nơi khác qua ba đợt như sau:
 
Đợt 1 : Từ Phi Châu đến Nam Á rồi xuống châu Đại dương (Australia).
 
Đợt 2 : Từ Phi Châu đến Đông Nam Á chia hai ngả, một đến các hải đảo Thái Bình Dương, một ngược lên phía bắc đến Đông Á và Bắc Mỹ.
 
Đợt 3 : Từ Phi Châu đến Tây và Trung Á rồi từ đó chia hai: một nhóm đi lên Âu Châu rồi qua Bắc Mỹ; một nhóm đi qua Nam Á và Bán đảo Ân Độ.
 
Do tiếp cận tài liệu “Genetic Relationship of Populatìon in China” của nhóm J.Y. Chu và Eden in the East của Stephen Oppenheimer, nên LS. Cung Đình Thanh trong cuốn sách đầu tiên viết bằng tiếng Việt, “Tìm Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam Dưới Ánh Sáng Mới Của Khoa Học”, đã trình bày việc người từ Phi Châu di cư tới Đông Nam Á rồi từ đây đi lên khai phá Trung Hoa.


Image result for họ hồng bàng


Một cách cụ thể LS. Cung Đình Thanh xác định người thuộc văn hóa Hòa Bình Từ Đông Nam Á mà chính ra có thể từ Bắc Việt Nam đã di cư lên, góp phần thành lập nước Trung Hoa (Tư Tưởng số 2 - Nguồn gốc dân tộc Việt Nam; số 3 - Biển tiến và Sự thuần hóa cây lúa nước; Số 4 : Văn hóa Đông sơn). Nay thì nhóm bác học J.Y. Chu tại các trường đại học và nghiên cứu lớn nhất ở Trung Hoa về di truyền học DNA mang tên “Genetic Relationship Population in China” (đăng trên Tạp chí The Nation Academy of Sciences – USA – Vol.95, issue 20, 1763-1768, 29 tháng 7, 1998) đã chứng minh không phải người Đông Nam Á chỉ góp phần mà thực ra đã đóng vai trò chính bằng tuyệt đại bộ phận của nhân chủng, lập nên nước Trung Hoa. Ngay cả người phía Bắc Trung Hoa cũng chỉ là người lai giống từ Đông Nam Á đi lên với giống từ phương Tây. Việc đó cũng diễn ra nhiều lắm từ 15.000 năm trở lại đây mà thôi.
Đặc biệt trong chương 3 (Sự thuần hóa cây lúa nước và ảnh hưởng của nó với tư duy người Việt cổ),  tác giả Cung Đình Thanh nhấn mạnh đến văn minh cây lúa của người Lạc Việt bằng cách sử dụng các kết quả khai quật khảo cổ học Việt Nam và ý kiến của các nhà khoa học Nga để cho rằng, với những mẫu lúa phát hiện được ở Xóm Trại (tỉnh Hòa Bình), có niên đại 3500 năm trước Công nguyên, Văn Hóa Hòa Bình là một trong ba cái nôi phát sinh trồng trọt của thế giới và là nôi của cây lúa nước (hai nôi còn lại vùng Cận Đông trồng lúa mỳ và nôi trung tâm Nam Mỹ trồng khoai mỳ và các loại củ). Ngày càng có nhiều học giả thế giới công nhận thuyết này; từ đó càng có nhiều người để tâm nghiên cứu Văn Hóa Hòa Bình, với các tên gọi khác nhau “Truyền Thống Hòa Bình”, “Phức Hợp Kỹ Thuật Hòa Bình”… Học giả Nga Kriukov cho rằng, việc trồng lúa nước xuất hiện ở Bắc Việt Nam được một nhóm cư dân di cư đem nghề này theo ngả Chia Ling Chang  (thuộc tỉnh Tứ Xuyên hiện nay), vượt núi Chinh Linh để vào lưu vực sông Hoài, gặp môi trường thuận lợi đã nhanh chóng phát triển nghề nông ở đây, rồi nhờ lương thực phong phú mà phát triển nghề gốm, để trở thành nền Văn hóa Ngưỡng Thiều trong phạm vi lưu vực sông Hoài (tr. 61). Điều này ngược với luận điểm cho rằng, Văn hóa Ngưỡng Thiều là trung  tâm của văn hóa lúa nước “phát” đi các nơi khác.

LS. Cung Đình Thanh cũng vạch rõ những ý kiến của học giả T.T. Chang cho rằng, Trung Quốc đã phát hiện được dấu vết của các giống lúa tại nhiều địa phương với đầy đủ niên đại C14 (công bố tại Hội nghị Barkeley năm 1978) chỉ là ngụy biện, vì “niên đại này do phòng thí nghiệm tại Bắc Kinh thực hiện, hình như chưa được sự kiểm chứng của giới khoa học gia trên thế giới, và chưa thấy được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu quốc tế”. Riêng giới khoa học Nga còn phủ nhận những niên đại C14 của Trung Hoa vì cho nó “đã được phóng đại với mục đích chính trị” (tr. 56 - 57).

 
Văn Minh Lúa Nước Tại Đông Nam Á 


Văn minh lúa nước là nền văn minh cổ, canh tác cây lúa như phương tiện sản xuất lương thực chính để thỏa mãn nhu cầu thực phẩm của bộ tộc Việt. Người ta biết đến nền văn minh lúa nước khởi thủy từ bộ tộc Lạc Việt, được hiểu là ruộng Lạc. Ngay cả chữ Việt cổ () để chỉ người Việt, theo học gỉa Lương Kim Định trong Triết lý Cái Đình, cũng có nghĩa là giống “người có gạo mễ.

Lịch sử

Theo vi.m.wikipedia, Văn minh lúa nước là một nền văn minh cổ đại xuất hiện từ cách đây khoảng 10.000 năm tại vùng Đông Nam Á. Nền văn minh này đã đạt đến trình độ đủ cao về các kỹ thuật canh tác lúa nước, thuỷ lợi, phát triển công cụ và vật nuôi chuyên dụng; bảo đảm sự thặng dư thực phẩm phục vụ cho một xã hội dân cư đông đúc và thúc đẩy các yếu tố khác của một nền văn minh ra đời. Chính sự phát triển của nền văn minh lúa nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của những nền văn hóa đương thời như Văn hóa Hà Mỗ ĐộVăn hóa Đông Sơn v.v. Cũng có những ý kiến cho rằng, chính nền văn minh lúa nước là chiếc nôi để hình thành cộng đồng cư dân có lối sống định cư định canh và các giá trị văn hoá kèm theo, đó chính là văn hóa làng xã vốn là nền tảng của xã hội Việt tộc cho đến cuối thế kỷ này.

Vị trí địa lý

Các nhà khoa học như A.G. Haudricourt & Louis Hedin (1944), Jacques Barrau (1965, 1974), Soldheim, Chester Gorman (1970)... đã lập luận vững chắc và đưa ra những giả thuyết cho rằng vùng Đông Nam Á là nơi khai sinh nền nông nghiệp đa dạng rất sớm của thế giới.

Quê hương của cây lúa, không như nhiều người tưởng là ở Trung Quốc hay Ấn Độ, mà là ở vùng Đông Nam Á, vì vùng này khí hậu ẩm và có điều kiện lý tưởng cho phát triển nghề trồng lúa. Theo kết quả khảo cổ học trong vài thập niên gần đây, quê hương đầu tiên của cây lúa là vùng Đông Nam Á, những nơi mà dấu ấn của cây lúa đã được ghi nhận là khoảng 10.000 năm trước Công Nguyên. Còn ở Trung Quốc, bằng chứng về cây lúa lâu đời nhất chỉ 5.900 đến 7.000 năm về trước, thường thấy ở các vùng xung quanh sông Dương Tử. Từ Đông Nam Á, nghề trồng lúa được du nhập vào Trung Quốc, rồi lan sang Nhật BảnHàn Quốc, và những nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa mạch.

Ngày nay, giới khoa học quốc tế, kể cả các khoa học gia hàng đầu của Trung Quốc đồng thuận cho rằng quê hương của cây lúa nước là vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa. Các cuộc khảo cổ gần đây đã chứng minh sự tồn tại của con người trên lãnh thổ Việt Nam từ thời Đồ đá cũ. Vào thời kỳ Đồ đá mới, các nền văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn (gần 10.000 năm trước CN) đã chứng tỏ sự xuất hiện của nông nghiệp và chăn nuôi, có thể là cả nghệ thuật trồng lúa nước.

Các nhà khảo cổ tìm thấy trong lớp đất bên dưới khu khảo cổ thuộc Văn Hóa Hòa Bình những hạt thóc hóa thạch khoảng 9260-7620 năm trước. Nhưng theo nhiều nhà khảo cổ, đa số di tích, di vật tìm thấy ở Thái Lan, khi định tuổi lại thấy muộn hơn nhiều so với tuổi định ban đầu trước đó khi người ta tìm thấy những di tích về văn minh lúa nước.

Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới, 13.000 năm trước, được một nhóm khảo cổ Mỹ-Trung Hoa tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông Dương Tử (bắc tỉnh Giang Tây). Cư dân sống trong vùng này đã biết thử nghiệm các giống lúa và cách trồng trong thời gian dài tiếp nối. Điều này đă được nhóm khảo cổ chứng minh qua sự tăng độ lớn phytolith của lúa (phần thực vật hoá thạch, tồn tại nhờ giàu chất silica) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian. Tin này đã được đăng trên tạp chí khoa học Science, năm 1998. Các nhà khoa học nghiên cứu về phytoliths - thạch thể lúa - này đă chứng minh rằng từ 9000 năm trước dân cổ ở vùng đó đã ăn nhiều gạo của lúa trồng hơn lúa hoang. Nhóm cư dân bản địa này cũng bắt đầu làm đồ gốm thô xốp bằng đất trộn trấu. Kinh nghiệm về trồng lúa tích tụ tại đấy trong mấy ngàn năm đă đưa đến nghề trồng lúa trong toàn vùng nam Dương Tử. Di tích xưa thứ hai, 9000 năm trước, là Pengtou, gần hồ Động Đình phía nam sông Dương Tử. Hơn bốn mươi chỗ có di tích lúa cổ hàng ngàn năm đă được tìm thấy ở vùng nam Trường Giang. Gần cửa biển nam Trường Giang, di tích Văn hóa Hà Mỗ Độ cho thấy văn minh lúa nước trong vùng lên đến trình độ rất cao vào 7.000 năm trước, sớm hơn cả di tích làng trồng kê Banpo (Bán Pha) xưa nhất của dân tộc Hán phương Bắc.

Hà Mỗ Độ là một làng vài trăm người sống trên nhà sàn trong vùng đầm lầy ở cửa sông Tiền Đường. Dân Hà Mỗ Độ đã trồng lúa, ăn cơm, để lại lớp rơm và trấu dày 25–50 cm, có nơi dày đến cả mét, trên diện tích 400 mét vuông. Có thể đó là lớp rác để lại trên sân đập lúa. Di chỉ thực vật củ ấucủ năngtáo và di cốt động vật hoang: hươutrâutê giáccọpvoicá sấu... cho thấy khí hậu vùng phía Nam sông Dương Tử bấy giờ thuộc loại nhiệt đới, hoàn toàn thích hợp với việc canh tác lúa nước.

Nền văn hoá Hà Mỗ Độ xưa bảy ngàn năm có nhiều điểm gần gũi với văn hoá Phùng Nguyên-Đông Sơn vốn là những văn hoá trẻ hơn nhiều sau hơn 3000 năm. Cư dân vùng nam Trường Giang lúc ấy có lẽ gần với cư dân Bắc Việt về mặt chủng tộc và văn hoá hơn cư dân bắc Trung Hoa. Khuôn mặt đắp từ sọ người Hà Mỗ Độ trưng bày ở Viện Bảo tàng Hà Mỗ Độ cho thấy họ giống người thuộc chủng Nam Mongoloid, tức là chủng của người Việt Nam từ thời Đông Sơn về sau. Sau văn hoá Hà Mỗ Độ, hàng loạt văn hoá lúa nước khác đã sinh ra dọc lưu vực sông Trường Giang khoảng 4000 năm trước như Liangzhu, Majiabin, Quinshanyang, Qujialing, Daxi, Songze, Dadunze.

Điều kiện đồng bằng sông Hồng là nơi rất thích hợp cho lúa hoang và sau này là lúa trồng. Thật là kỳ lạ, người Việt trong cộng đồng chủng Nam Mongoloid là tổ tiên của văn minh lúa nước.

Nông cụ

Trong di chỉ khảo cổ cho ta một bộ sưu tập các lưỡi cày bằng đồng phong phú, vào giữa và cuối thời kỳ Đông Sơn đã xuất hiện khá nhiều đồ sắt và đồ đồng đã chuyển sang các loại vật dụng trang trí và tinh xảo hơn.

Ở giai đoạn đầu, Văn hóa Phùng Nguyên, công cụ bằng đá còn chiếm ưu thế, nền kinh tế còn mang tính chất nguyên thuỷ. Sang đến giai đoạn Đồng ĐậuGò Mun và nhất là Đông Sơn, nhiều loại hình công cụ bằng đồng ra đời và ngày càng phong phú như lưỡi cuốc, lưỡi cày, lưỡi thuổngxẻng, lưỡi rìu, v.v. Mỗi loại hình công cụ sản xuất cũng có các kiểu dáng khác nhau. Trong khoảng 200 chiếc lưỡi cày bằng đồng có tới 4 kiểu dáng, đó là lưỡi cày hình tam giác có họng tra cán to khoẻ được phân bố ở dọc sông Thao; lưỡi cày cánh bầu dục, hình thoi được phân bố ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, lưỡi cày hình thoi được phân bố tập trung ở vùng sông Mã, lưỡi cày hình xẻng vai ngang phân bố ở vùng làng Vạc. Cuốc bao gồm lưỡi cuốc có lỗ tra cán, cuốc hình tam giác, cuốc có vai, cuốc chữ U, cuốc hình quạt, v.v. Rìu có rìu chữ nhật, rìu tứ diện lưỡi xoè, rìu hình lưỡi xéo, hình bàn chân, rìu lưỡi lệch. Ngoài ra còn có lưỡi liềm đồng, công cụ lao động bằng sắt. Sự tiến bộ của công cụ sản xuất đã thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, đạt đến một trình độ khá cao. Nền kinh tế bao gồm nhiều ngành, nghề, trong đó nông nghiệp trồng lúa nước chiếm địa vị chủ đạo, phổ biến rộng rãi khắp lãnh thổ từ trung du đến đồng bằng ven biển.

Với việc chế tạo ra lưỡi cày và nông nghiệp dùng cày đã thay thế cho nền nông nghiệp dùng cuốc, đánh dấu bước phát triển mới, mạnh mẽ trong nền kinh tế thời Hùng Vương. Với việc ra đời nhiều loại hình công cụ sản xuất bằng đồng còn chứng tỏ bước tiến về kỹ thuật canh tác của cư dân bấy giờ. Nông nghiệp dùng cày là nguồn cung cấp lương thực chính nuôi sống xã hội, trở thành cơ sở chủ yếu của mọi hoạt động khác.
Những di cốt trâu, bò nhà, tìm thấy trong cùng một di tích văn hóa Đông Sơn, hình bò khắc hoạ trên mặt trống đồng chứng tỏ cư dân thời Hùng Vương đã sử dụng trâu, bò làm sức kéo trong nông nghiệp. Những dấu tích thóc, gạo, những công cụ gặt hái tìm thấy ở các di chỉ thuộc văn hóa Đông Sơn. Di tích thóc, gạo tìm thấy ở làng Vạc gồm 2 nồi gốm trong đó có nhiều hạt thóc, vỏ trấu tìm thấy trong thạp đồng. Các công cụ gặt hái có liềm, dao gặt, nhíp. Nhiều thư tịch cổ cũng ghi chép về sự hiện diện của nghề nông trồng lúa nước thời Hùng Vương như các sách Di vật chí của Dương Phù thời Đông Hán, Thuỷ Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên, thời Bắc Nguỵ, Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn..

Thủy lợi

Yếu tố nước trong việc trồng lúa nước là điều kiện bắt buộc để hình thành văn minh lúa nước. Có lẽ người nguyên thủy lúc đầu phát hiện ra sự khác nhau về năng suất của lúa nương, một loại lúa mọc trên các triền đất khô ẩm và lúa nước mọc ở khu vực ngập nước của lưu vực các con sông lớn là hoàn toàn khác nhau. Cây lúa nước chỉ có thể phát triển tốt khi sống ở những khu vực khí.

hậu phù hợp như các vùng nhiệt đới, và đặc biệt tốt, năng suất cao khi hàng năm các con sông lớn như sông Hồngsông Mã... mang theo một lượng phù sa mới, bồi đắp hàng năm vào các mùa nước lũ.
Nhưng nước để trồng lúa phải đủ và cũng vừa để cây lúa sinh trưởng. Việc bảo đảm đủ nước và không thừa, để làm ngập úng đã buộc các cư dân trồng lúa nước phải làm thủy lợi - cân bằng lượng nước cần thiết.

Thủy lợi tự nhiên và đơn giản nhất là đắp bờ ruộng và dẫn nước theo các con kênh vào ruộng và khống chế lượng nước bằng độ cao của lối thoát nước. "Con kênh" lớn nhất của cư dân trồng lúa nước chính là hệ thống đê điều hai bên sông lớn để khống chế nước tràn vào ruộng và mùa lũ lụt hàng năm.
 
Phần Kết


Image result for vn sử lược


Nói tóm lại, dân Việt chúng ta đã biết khai thác sức mạnh của thiên nhiên, khai thác sự huyền nhiệm của của vật tổ nhiệm mầu, gây lòng tự hào dân tộc, động viên toàn lực mọi con dân dưới sự lãnh đạo thần thánh của những nhân vật kiệt xuất. Như Thánh Dóng, với hình tượng phi thường của câu bé dưới thời Hùng Vương, vươn mình to lớn, uy nghi trên lưng ngựa với thanh gươm thép, đánh đuổi giặc Ân rồi bay về trời khi hòan thành sứ mạng cưú nươc an dân; Như Hưng Đạo Đại vương, với “lời nguyền Sát Thát” quyết ba lần tiêu diệt giặc Nguyên Mông, làm Bắc phương thất điên bát đảo; như Nguyễn Trãi vua Lê, hiểu được tâm lý sùng bái vật tổ trong quần chúng, với thủ thuật viết mật trên lá “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần,” 10 năm nằm gai nếm mật đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi; như Quang Trung với “Trung Đô Phượng Hoàng” thế như thác đổ, ào ạt đè bẹp quân Thanh.

Nước chúng ta là đất của “địa linh nhân kiệt,” con dân lại cần cù, thông minh, tháo vát, tương lai phải tương xứng với năng lực tiềm ẩn và nỗ lực khai phóng theo đà tiến hoá của nhân loại. Những ghi nhận khảo cổ học, nhân chủng học, dưới ánh sáng mới của khoa học di truyền thể DNA, đã trả lại cho vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt tộc, vai trò của nền văn minh lúa nước với những sáng tạo Trống Đồng và công cụ sản xuất từng bước đóng góp  phục đời sống và nâng cao trình độ tiến hóa của loài người từ thuở ban sơ.

Hãnh diện về vật tổ và vai trò chủ đạo của nền văn minh Đông Á, chúng ta cũng hãnh diện về óc tháo vát sáng tạo và tinh thần độc lập tự chủ của giống nòi. Từ nhận thức đó,  chúng ta nhìn rõ bản chất, cá tính của dân tộc mình- không hão huyền về vật tổ “con rồng cháu tiên” và “đất nước rừng vàng biển bạc”- quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc, đoàn kết muôn người như một, tâp trung trí tuệ, ra sức nỗ lực phát triển đất nước theo đường lối khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ dân trí và đời sống gang tầm với các nước tân tiến trên thế giới, tương xứng với nhân cách và trình độ của giống nòi Việt tộc.


 
California ngày 2/3/2019
Phạm Đức Khôi
(K1/ĐH/CTCT/ĐL)
(Tác giả gởi)


*

Mời đọc

Nhà thơ Thành Tôn và Nguyễn Vũ đã tiếp tục thực hiện ebooks cho
Tân Truyện và Tạp Ghi Văn Nghệ

Sấp Ngửa

Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=s_p_ng_a__opt__-_tr_n_y_n_ho_
Mẫu Hệ
Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=m_u_h___opt__-_tr_n_y_n_ho_

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa

Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=h_n_55_n_m_l_m_th___opt__-_tr_n_y_n

Đi Mỹ
Xin click vào:
https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=_i_m___opt__-_tr_n_y_n_ho_



---------------------------------------------------------------------------------------------------

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content



 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, May 22, 20199:26 PM(View: 65)
Trong thời kỳ hai mươi năm của thơ miền Nam, và giai đoạn kéo dài của nó, Tô Thùy Yên giữ một vị trí rất đặc biệt (*). Đó là người khởi đi từ giai đoạn khai phóng đầu tiên, những năm 60, với sự nổi loạn chống ảnh hưởng của văn học tiền chiến. Nhà thơ của chiến tranh Việt Nam, của những suy nghiệm triết học, nhà thơ của những ngày tù tội cải tạo, và cuối cùng của giai đoạn lưu vong. Đời sống của ông đầy biến động. Tô Thùy Yên lúc nào cũng chăm chú sống cuộc đời mình, để tâm hồn rung lên theo nhịp điệu của thời thế. Nhưng đó không phải là thơ thời sự hay thơ trữ tình thế sự. Đó là một loại thơ trữ tình thực sự, tuy vậy mang dấu ấn lịch sử. Trong khi tuân thủ nghiêm ngặt một số quy ước về vần điệu, sở trường nghiêng về thơ có vần hơn là về thơ tự do, Tô Thùy Yên vẫn sở hữu một ngôn ngữ vừa truyền thống vừa mới lạ. Sự chọn chữ, cách thiết lập câu thơ, âm điệu và từ vựng trong từng bài thơ, tạo nên phong cách riêng, một phong cách của tài hoa dụng ngữ. Thơ Tô Thùy Yên có ba giai đoạn:
Monday, May 20, 20199:44 AM(View: 139)
Từ ngày hai vợ chồng về hưu, thì giờ như nhiều ra. Mấy đứa con gắn cable, mua TV đời mới, màn ảnh rộng, gắn trên tường. Thường ngày, mỗi buổi sáng, sau khi đi bộ chừng nửa giờ quanh xóm, thầy bắt đầu theo dõi thị trường chứng khoán, mua bán cổ phần các công ty. Thầy ăn cũng nhiều, mà thua cũng lắm. Thầy coi đây như một thú vui, cũng là cách thử thách sự nhạy bén của trí tuệ. Thầy vẫn thường tự hào sau hơn hai mươi năm trong thị trường, thầy về hưu với tình trạng tài chánh tương đối khá, một phần nhờ vào đầu tư. Bà Hiên không hiểu nhiều về cái gì gọi là đầu tư, tiền kiếm được sau bao năm lăn lộn trong nghề nail, bà nhốt hết vào mấy cái CD và trương mục tiết kiệm của ngân hàng, tiền lời dư cho bà mua mấy băng hay dĩa phim truyện bà thích, hay thỉnh thoảng về Việt Nam thăm bạn bè và bà con. Thầy cũng chẳng phản đối gì việc làm của bà, vì thầy cho rằng, bà có quyền hưởng thụ thành quả công việc của bà sau hơn hai mươi năm nơi xứ người. Công bình mà nói, công sức của bà nhiều hơn của thầy,
Friday, May 17, 20196:27 PM(View: 61)
Những bản giao hưởng tuyệt vời của Berlioz, Schuber, Mendelssohn, Tchaikovsky, Dvorak… đã làm thăng hoa thể loại âm nhạc nầy. Sở dĩ thể loại nầy trước đây được “gán ghép” là nhạc bác học, nhạc hàn lâm, nhạc quý tộc vì thời đó khi trình diễn chỉ hạn chế cho số người quyến quý và giàu có. Ở VN trước đây và trước năm 1975 ở miền Nam VN quan niệm rằng thể loại nầy thuộc âm nhạc bác học (hàn lâm) nhưng thời gian gần đây ở trong nước lại phủ nhận. Nếu tranh cãi thì rất dài dòng văn tự và coi như “nói chuyện với đầu gối” nen miễn bàn! Thưởng thức nhạc cổ điến Tây phương cũng đòi hỏi thêm phần kiến thức về nhạc sử, tiểu sử nhà soạn nhạc mới cảm nhận được trường hợp và môi trường sáng tác. Bây giờ thì loại “trưởng giả học làm sang” tham dự các cuộc trình diễn âm nhạc cổ điển như “đàn gãy tau trâu” cũng nhan nhản! B: Âm nhạc dân gian, trong một bài viết ghi nhận: “Đây là một nguồn cảm hứng lớn cho nhiều nhà soạn nhạc khác. Tại nước Anh, Vaughan Williams trộn lẫn những âm thanh của những bài
Wednesday, May 15, 20197:45 PM(View: 75)
Họ ở trước mặt tôi. Hẳn nhiên là như vậy. Họ có mười người, năm mươi hay năm trăm người, tôi không biết nhưng nhất định phải hơn một người. Tôi đã cảm nhận được điều đó qua sức nóng hừng hực của bầu không khí chung quanh bằng cảm xúc của mình ngay khi được tên lính canh dẫn ra quảng trường này. Bóng tối ở đây cũng dày đặc như những lần tôi bị lấy khẩu cung trong căn phòng nhỏ nóng bức, nhung nhúc chuột, dán. Hôm nay tôi được dẫn theo một lối đi khác với lối đi mọi ngày. Nó dường như dài hơn, quanh co hơn. Có đoạn tôi cảm tưởng như đi qua một trại nuôi súc vật, một con đường gập gềnh nhiều dốc rồi đến một bãi đất trống thường làm nơi họp chợ, một công viên nhiều hương thơm hoa trái trong tiếng nước chảy róc rách của một cái bồn nước. Tôi chưa từng đặt chân đến con đường này bao giờ mặc dù thành bang này không hề to lớn. Họ đưa tôi đi đâu? Phóng thích hay hành quyết? Tôi chẳng hề nghĩ nhiều đến việc này trong suốt thời gian bị giam cầm, nhưng bây giờ đối mặt với tình huống khác thường
Sunday, May 12, 201911:05 AM(View: 449)
Máy bay từ Sài Gòn ra Nha Trang đỗ tại phi trường Cam Ranh. Đường từ phi trường về Nha Trang là một xa lộ rất đẹp, không kém gì những đại lộ nổi danh trên thế giới mà tôi đã đi qua. Trước khi về nước, tôi đã được đọc những bài báo mạng vô cùng khẩn cấp báo động việc người Tầu đang chiếm miền Nam, họ đã chiếm hết Nha Trang rồi, có một "phóng viên tại chỗ" chụp hình những cửa hàng trên bờ biển Nha Trang 100% là Tầu, y hệt như ở Hồng Kông hay Thượng Hải, vị "phóng viên" này còn cho biết, Nha Trang hiện đã cho tiêu tiền Trung Cộng. Ngoài những thông tin giật gân này lại còn có bài báo (vẫn trên mạng) mô tả chuyện người Hoa ăn thịt người, với chứng cớ đầy đủ: chụp hình mâm cỗ thịt người có món xào, món rán, món nấu ninh rựa mận, kèm bên cạnh là ảnh cô kiểu mẫu chân dài tóc mượt, mắt bồ câu, trước khi bị chặt làm cơm. Chúng tôi đến Nha Trang không phải để kiểm tra những "sự kiện" này, vì khi về Sài Gòn và xuống miền Tây đã tìm chả ra mống Tầu nào, muốn ăn cơm Tầu, cũng khó kiếm,