DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,374,667

Nguyễn Đức Tùng - Bài Thơ Tháng Tư

Wednesday, May 1, 20196:40 AM(View: 1629)
Nguyễn Đức Tùng - Bài Thơ Tháng Tư


Bài Thơ Tháng Tư




blank

Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng



Tháng Tư anh về Sài Gòn

Đi tìm em trên đường Tự do
Đồng khởi
Chùm me chín vội trong tay em ngày ấy
Mái ngói rêu xanh còn đây
Bầy sẻ nâu bằng đất
Cửa sổ đèn khuya hiu hắt người về

Dân tộc đi qua cơn mê
Người lính trận mạc miền quê
Bên kia núi, lạc đường thành phố
Kẻ ngây thơ khốn khổ hoặc trở thành lưu manh
Hay bị gạt ra ngoài
Trả về quê cũ
Kiếp ăn mày
Người lính thất trận cởi áo giáp
Cởi nón sắt
Ngơ ngác
Quần cọc ra về
Đi từng hàng trước lưỡi lê họng súng AK
Về làng, qua lũy tre xanh
Ngày ấy chúng ta tưởng rằng chiến tranh đã qua
Nhưng chiến tranh không hề đi qua
Trái ổi xanh bên tường nhà em ngày một chín
Nàng Tô thị đi lấy chồng


Đường Tự do không còn tự do
Người thắng trận thành người bại trận
Người bại trận chết trên biển Đông
Dinh Độc lập hóa thành dinh Thống nhất
Mà lòng người cách chia
Chiến tranh càng lùi xa hận thù càng lớn
Càng nói càng không hiểu nhau
Càng đọc nhau càng thêm ngu ngốc
Núi sông không biết khóc
Nhân dân đã già
Các mùa hoa nở em không về


Anh đi giữa hàng me
Nhớ em như mùa nhãn chín nhớ loài chim tu hú
Trái hạnh phúc không còn anh đứng dưới gốc cây
Mùa hè nung như lửa, nhớ như điên
Ký ức đuổi anh bỏ chạy
Thời gian đầy kẻ ăn quỵt
Trong khu vườn lặng im quận Nhất
Tiếng ve vang rền quanh tường
Trái mộng rơi thình lình trên vai anh
Cây bàng giật mình rụng thêm một lá
Quán cà phê chưa mở, anh tìm gốc cây con
Ngồi xuống mà nhặt lên
Hình bóng cũ dại khờ, đoàn quân thất trận, thắng trận
Hương lúa đồng xưa, căn hầm bí mật
Cánh diều bung trời xanh


Anh tìm thấy chú ve sầu nhỏ bé
Rơi mơ hồ như sợi tơ qua
Từ cõi mơ ngoái lại
Anh ngoái nhìn bạn bè
Đứa chửi rủa tục tĩu
Đứa dịu dàng cười cười
Đứa cười cười làm bí thư đảng ủy
Có năm căn nhà cho thuê
Ba đứa con, hai đứa du học Mỹ
Một đứa bị Úc trả về
Ngậm miệng ăn tiền
Dịu hiền đưa tay sờ lông mu kỹ nữ
Đứa chửi rủa tục tĩu
Chạy xe ôm, đổi qua uber, rồi grab
Vừa bị đánh đập
Bởi bọn taxi
Trong quán Karaokê
Thằng bạn cười cười ngồi bên nhắc khéo
Nó co chân lại cho thằng kia bước qua
Như một người tử tế, nhắc chuyện ngày xưa


Ngay chiến tranh cũng chưa là thảm kịch
Chưa là gì so với hôm nay
Tra tấn, giết người, bịt miệng
Hãm hiếp trẻ con, dạy dỗ trí thức làm nô lệ
Lễ nghĩa bề ngoài
Ích kỷ đầy bụng
Chiếc hầm bí mật bốn mươi năm vỡ tung
Trời xanh trên đầu không xanh nữa
Mây bay qua buồn ngất buồn ngơ
Giặc ngoại thù chỉ là giả dối
Chính chúng ta là kẻ thù của chúng ta
Những bài ca mở cõi
Lý tưởng ngày xưa vội xếp giáo quy hàng
Bạn bè lạc nhau chia làm hai nửa
Một nửa dạt về phía cái chết
Một nửa dạt về phía có trăng lên


Trời sập tối rồi em
Thắp đèn khuya đợi anh
Người đàn bà tưởng sau chiến tranh không còn chờ đợi
Kẻ chiến thắng tươi cười
Người thất bại lặng lẽ
Tất cả bây giờ nhường chỗ
Cho một đám trẻ tuổi thông minh lém lỉnh
Làm giàu rất nhanh
Núp sau khẩu hiệu
Đã lo liệu xong phần mình, phần vợ con, nhà cửa
Người mẹ thở nào nuôi chúng lớn lên
Chết rấp dọc bờ dọc bụi
Trong khi ở đây chúng nói toàn ơn ngãi, tự do
Nhà xa hoa treo đầy cờ đỏ
Giữa hai giàn hoa ti gôn
Bếp xưa khi về lửa lạnh
Chúng ta đi loanh quanh ba mươi năm chiến tranh
Đất nước toàn anh hùng và kẻ cắp
Lụa Hà đông và thi sĩ
Anh đi từ mũi Cà mau đến núi nàng Tô thị


Đâu đâu cũng buồn
Lời nguyền thổi bạc núi non
Mùa xuân đốt khói trên đồng
Em chẳng về thăm
Tuổi thơ đi qua sáu vày mười hai nhịp
Vai gầy mòn sắt thép
Khúc hát rong rêu phỉnh phờ
Em bước ra từ cửa Ngọ môn như từ trong giấc mơ
Thở dài im lặng
Trong mắt anh nhòe ngả đường
Chúng đã đổi tên xong những ngả đường
Và sẽ đổi thêm nhiều lần nữa
Ba năm một lần
Năm năm một lần
Xóa sạch ký ức con cái chúng ta
Tiếng rao chè đậu hũ đi qua
Chỉ còn là kỷ niệm


Lá vàng rơi im lìm bên suối
Trái tim ngưng đập trên sườn núi
Của một người chết trẻ vì ai
Mùa xuân thung lũng đầy mai trắng
Người lính dù trúng đạn
Rơi nằm bên người lính đặc công vừa nhắm mắt
Lục tìm thấy lá thư anh viết về cho mẹ
Ở Bắc Giang
Anh đã đi qua ngôi làng không trẻ con
Không cây đa không miếu thờ
Hoa gạo đỏ nở bừng lần cuối
Trước lệnh di dời
Sông Thạch Hãn thở dài
Tiếc dòng máu chảy
Tiếc những nén nhang, mưa bụi
Một bên cố thủ để làm gì
Một bên tái chiếm để làm chi


Chỉ còn gạch vụn
Các anh để lại quê hương vỡ nát
Người đau lòng cất bước ra đi
Để lại lời chia ly
Cho người nằm xuống
Như anh tôi nằm xuống trên cánh đồng cỏ ướt
Trong tiếng dế kêu sương suốt mùa hạ ấy
Tất cả trở về mỗi người một gốc cây
Những người chết không ai thù hận mãi
Quắc mắt nhìn chúng ta
Tiếng sấm xa vang rền thúc giục
Buổi đoàn viên hứa hẹn bao ngày, không tới
Em đừng hỏi


Đời thường chiếm lĩnh căn nhà
Đám cưới, đám ma, tình yêu, lật kèo, lầm lỗi
Làm nên lễ hội hôm nay
Viên đạn lên nòng
Nằm quá lâu hoen rỉ đường khương tuyến
Trời sao lấp lánh đứng chờ


Cho anh cầm tay em
Khởi đầu không có đêm chỉ có chúng ta
Hai kẻ không nhà ngoài tường dinh thự cũ
Buổi sáng hàng quán cà phê chưa mở cửa
Dưới cửa sổ khép hờ tiếng nhạc
Thì thầm
Đêm chưa vội sáng
Chúng ta gọi về trắng xóa cơn mưa
Lời hứa xưa chưa thành sự thật
Hành quân Lam sơn vinh quang đường chín
Hổ xám Nam Lào bị bắt vì buôn lậu
Anh hùng Khe sanh chết không nhà
Mẹ ở đâu khi chúng ta trở về
Ngày ba mươi tháng tư
Anh hôn em dưới khoảng trời nhỏ bé
Cửa sơn xanh mở hé lời bí mật
Sự thật tới pháp trường
Mang vòng hoa qua hư không
Anh hôn em mùi khói nhang lồng lộng
Mùi mồ hôi muối mặn ước mơ xưa


Em bây giờ ở đâu
Gió thổi bạc đầu bến cũ
Không còn ai mơ ước
Hòa bình, không ai bước một mình trong đêm trăng
Đi tìm con, không còn đoàn người chạy giặc
Lá bàng bay xao xác tóc người
Anh lặng im đi giữa trời mây
Thành phố nỗi khổ đau cùng tận
Vỡ tan từng mảnh
Thành phố hòa bình đẹp giật mình như khoảnh khắc chiến tranh


Anh đi trên đường Tự do
Mùi cà phê thơm ngát
Nhìn kỹ mặt người lạ người quen
Cầm tay em nói lời từ tạ
Hẹn gặp nhau nhưng lòng chẳng tin
Trời xanh giản dị mà im sâu
Con đường lát đá đầy vết máu
Người lính xưa về đâu
Em về đâu
Màu hạ ve kêu xé trời xanh
Mối tình xưa khắc khoải
Anh đi tìm em dọc bờ suối
Nồng nàn gói ghém trong tay
Tháng Tư
Hoa lan đỏ góc tường
Sương đổ, trăng lên
Anh về như bướm trắng lang thang


Về như chú bé
Trượt ngã một lần trên ngưỡng cửa nhà em
Em che nghiêng khuôn mặt đời mình
Chỉ thấy trăng tàn bóng lửa
Choáng ngợp lòng mưa lá rụng
Anh nhớ lời xưa em dặn
Không thức khuya, không mặc áo phong phanh trời gió
Anh đi trên đường Tự do
Tay anh cầm lấy tay mình
Thì thầm tên cũ
Thấy một người đứng chờ trên bến xe lam
Dưới chân xòe đám lá sen xanh
Anh hôn em trời chiều ngả bóng


Nguyễn Đức Tùng
(từ: DĐTK)


Mời đọc

Nhà thơ Thành Tôn và Nguyễn Vũ đã tiếp tục thực hiện ebooks
tác phẩm của Trần Yên Hòa

Rớt Xuống Tuổi Thơ, Tôi 
Xin bấm vào:
https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=r_t_xu_ng_tu_i_th___t_i_-_tr_n_y_n_


Sấp Ngửa

Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=s_p_ng_a__opt__-_tr_n_y_n_ho_
Mẫu Hệ
Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=m_u_h___opt__-_tr_n_y_n_ho_

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa

Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=h_n_55_n_m_l_m_th___opt__-_tr_n_y_n

Đi Mỹ
Xin click vào:
https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=_i_m___opt__-_tr_n_y_n_ho_



---------------------------------------------------------------------------------------------------

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 134)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 165)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 432)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 370)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 293)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,