DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,043,907

Nguyễn Đức Tùng - Bài Thơ Tháng Tư

Wednesday, May 1, 20196:40 AM(View: 348)
Nguyễn Đức Tùng - Bài Thơ Tháng Tư


Bài Thơ Tháng Tư




blank

Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng



Tháng Tư anh về Sài Gòn

Đi tìm em trên đường Tự do
Đồng khởi
Chùm me chín vội trong tay em ngày ấy
Mái ngói rêu xanh còn đây
Bầy sẻ nâu bằng đất
Cửa sổ đèn khuya hiu hắt người về

Dân tộc đi qua cơn mê
Người lính trận mạc miền quê
Bên kia núi, lạc đường thành phố
Kẻ ngây thơ khốn khổ hoặc trở thành lưu manh
Hay bị gạt ra ngoài
Trả về quê cũ
Kiếp ăn mày
Người lính thất trận cởi áo giáp
Cởi nón sắt
Ngơ ngác
Quần cọc ra về
Đi từng hàng trước lưỡi lê họng súng AK
Về làng, qua lũy tre xanh
Ngày ấy chúng ta tưởng rằng chiến tranh đã qua
Nhưng chiến tranh không hề đi qua
Trái ổi xanh bên tường nhà em ngày một chín
Nàng Tô thị đi lấy chồng


Đường Tự do không còn tự do
Người thắng trận thành người bại trận
Người bại trận chết trên biển Đông
Dinh Độc lập hóa thành dinh Thống nhất
Mà lòng người cách chia
Chiến tranh càng lùi xa hận thù càng lớn
Càng nói càng không hiểu nhau
Càng đọc nhau càng thêm ngu ngốc
Núi sông không biết khóc
Nhân dân đã già
Các mùa hoa nở em không về


Anh đi giữa hàng me
Nhớ em như mùa nhãn chín nhớ loài chim tu hú
Trái hạnh phúc không còn anh đứng dưới gốc cây
Mùa hè nung như lửa, nhớ như điên
Ký ức đuổi anh bỏ chạy
Thời gian đầy kẻ ăn quỵt
Trong khu vườn lặng im quận Nhất
Tiếng ve vang rền quanh tường
Trái mộng rơi thình lình trên vai anh
Cây bàng giật mình rụng thêm một lá
Quán cà phê chưa mở, anh tìm gốc cây con
Ngồi xuống mà nhặt lên
Hình bóng cũ dại khờ, đoàn quân thất trận, thắng trận
Hương lúa đồng xưa, căn hầm bí mật
Cánh diều bung trời xanh


Anh tìm thấy chú ve sầu nhỏ bé
Rơi mơ hồ như sợi tơ qua
Từ cõi mơ ngoái lại
Anh ngoái nhìn bạn bè
Đứa chửi rủa tục tĩu
Đứa dịu dàng cười cười
Đứa cười cười làm bí thư đảng ủy
Có năm căn nhà cho thuê
Ba đứa con, hai đứa du học Mỹ
Một đứa bị Úc trả về
Ngậm miệng ăn tiền
Dịu hiền đưa tay sờ lông mu kỹ nữ
Đứa chửi rủa tục tĩu
Chạy xe ôm, đổi qua uber, rồi grab
Vừa bị đánh đập
Bởi bọn taxi
Trong quán Karaokê
Thằng bạn cười cười ngồi bên nhắc khéo
Nó co chân lại cho thằng kia bước qua
Như một người tử tế, nhắc chuyện ngày xưa


Ngay chiến tranh cũng chưa là thảm kịch
Chưa là gì so với hôm nay
Tra tấn, giết người, bịt miệng
Hãm hiếp trẻ con, dạy dỗ trí thức làm nô lệ
Lễ nghĩa bề ngoài
Ích kỷ đầy bụng
Chiếc hầm bí mật bốn mươi năm vỡ tung
Trời xanh trên đầu không xanh nữa
Mây bay qua buồn ngất buồn ngơ
Giặc ngoại thù chỉ là giả dối
Chính chúng ta là kẻ thù của chúng ta
Những bài ca mở cõi
Lý tưởng ngày xưa vội xếp giáo quy hàng
Bạn bè lạc nhau chia làm hai nửa
Một nửa dạt về phía cái chết
Một nửa dạt về phía có trăng lên


Trời sập tối rồi em
Thắp đèn khuya đợi anh
Người đàn bà tưởng sau chiến tranh không còn chờ đợi
Kẻ chiến thắng tươi cười
Người thất bại lặng lẽ
Tất cả bây giờ nhường chỗ
Cho một đám trẻ tuổi thông minh lém lỉnh
Làm giàu rất nhanh
Núp sau khẩu hiệu
Đã lo liệu xong phần mình, phần vợ con, nhà cửa
Người mẹ thở nào nuôi chúng lớn lên
Chết rấp dọc bờ dọc bụi
Trong khi ở đây chúng nói toàn ơn ngãi, tự do
Nhà xa hoa treo đầy cờ đỏ
Giữa hai giàn hoa ti gôn
Bếp xưa khi về lửa lạnh
Chúng ta đi loanh quanh ba mươi năm chiến tranh
Đất nước toàn anh hùng và kẻ cắp
Lụa Hà đông và thi sĩ
Anh đi từ mũi Cà mau đến núi nàng Tô thị


Đâu đâu cũng buồn
Lời nguyền thổi bạc núi non
Mùa xuân đốt khói trên đồng
Em chẳng về thăm
Tuổi thơ đi qua sáu vày mười hai nhịp
Vai gầy mòn sắt thép
Khúc hát rong rêu phỉnh phờ
Em bước ra từ cửa Ngọ môn như từ trong giấc mơ
Thở dài im lặng
Trong mắt anh nhòe ngả đường
Chúng đã đổi tên xong những ngả đường
Và sẽ đổi thêm nhiều lần nữa
Ba năm một lần
Năm năm một lần
Xóa sạch ký ức con cái chúng ta
Tiếng rao chè đậu hũ đi qua
Chỉ còn là kỷ niệm


Lá vàng rơi im lìm bên suối
Trái tim ngưng đập trên sườn núi
Của một người chết trẻ vì ai
Mùa xuân thung lũng đầy mai trắng
Người lính dù trúng đạn
Rơi nằm bên người lính đặc công vừa nhắm mắt
Lục tìm thấy lá thư anh viết về cho mẹ
Ở Bắc Giang
Anh đã đi qua ngôi làng không trẻ con
Không cây đa không miếu thờ
Hoa gạo đỏ nở bừng lần cuối
Trước lệnh di dời
Sông Thạch Hãn thở dài
Tiếc dòng máu chảy
Tiếc những nén nhang, mưa bụi
Một bên cố thủ để làm gì
Một bên tái chiếm để làm chi


Chỉ còn gạch vụn
Các anh để lại quê hương vỡ nát
Người đau lòng cất bước ra đi
Để lại lời chia ly
Cho người nằm xuống
Như anh tôi nằm xuống trên cánh đồng cỏ ướt
Trong tiếng dế kêu sương suốt mùa hạ ấy
Tất cả trở về mỗi người một gốc cây
Những người chết không ai thù hận mãi
Quắc mắt nhìn chúng ta
Tiếng sấm xa vang rền thúc giục
Buổi đoàn viên hứa hẹn bao ngày, không tới
Em đừng hỏi


Đời thường chiếm lĩnh căn nhà
Đám cưới, đám ma, tình yêu, lật kèo, lầm lỗi
Làm nên lễ hội hôm nay
Viên đạn lên nòng
Nằm quá lâu hoen rỉ đường khương tuyến
Trời sao lấp lánh đứng chờ


Cho anh cầm tay em
Khởi đầu không có đêm chỉ có chúng ta
Hai kẻ không nhà ngoài tường dinh thự cũ
Buổi sáng hàng quán cà phê chưa mở cửa
Dưới cửa sổ khép hờ tiếng nhạc
Thì thầm
Đêm chưa vội sáng
Chúng ta gọi về trắng xóa cơn mưa
Lời hứa xưa chưa thành sự thật
Hành quân Lam sơn vinh quang đường chín
Hổ xám Nam Lào bị bắt vì buôn lậu
Anh hùng Khe sanh chết không nhà
Mẹ ở đâu khi chúng ta trở về
Ngày ba mươi tháng tư
Anh hôn em dưới khoảng trời nhỏ bé
Cửa sơn xanh mở hé lời bí mật
Sự thật tới pháp trường
Mang vòng hoa qua hư không
Anh hôn em mùi khói nhang lồng lộng
Mùi mồ hôi muối mặn ước mơ xưa


Em bây giờ ở đâu
Gió thổi bạc đầu bến cũ
Không còn ai mơ ước
Hòa bình, không ai bước một mình trong đêm trăng
Đi tìm con, không còn đoàn người chạy giặc
Lá bàng bay xao xác tóc người
Anh lặng im đi giữa trời mây
Thành phố nỗi khổ đau cùng tận
Vỡ tan từng mảnh
Thành phố hòa bình đẹp giật mình như khoảnh khắc chiến tranh


Anh đi trên đường Tự do
Mùi cà phê thơm ngát
Nhìn kỹ mặt người lạ người quen
Cầm tay em nói lời từ tạ
Hẹn gặp nhau nhưng lòng chẳng tin
Trời xanh giản dị mà im sâu
Con đường lát đá đầy vết máu
Người lính xưa về đâu
Em về đâu
Màu hạ ve kêu xé trời xanh
Mối tình xưa khắc khoải
Anh đi tìm em dọc bờ suối
Nồng nàn gói ghém trong tay
Tháng Tư
Hoa lan đỏ góc tường
Sương đổ, trăng lên
Anh về như bướm trắng lang thang


Về như chú bé
Trượt ngã một lần trên ngưỡng cửa nhà em
Em che nghiêng khuôn mặt đời mình
Chỉ thấy trăng tàn bóng lửa
Choáng ngợp lòng mưa lá rụng
Anh nhớ lời xưa em dặn
Không thức khuya, không mặc áo phong phanh trời gió
Anh đi trên đường Tự do
Tay anh cầm lấy tay mình
Thì thầm tên cũ
Thấy một người đứng chờ trên bến xe lam
Dưới chân xòe đám lá sen xanh
Anh hôn em trời chiều ngả bóng


Nguyễn Đức Tùng
(từ: DĐTK)


Mời đọc

Nhà thơ Thành Tôn và Nguyễn Vũ đã tiếp tục thực hiện ebooks
tác phẩm của Trần Yên Hòa

Rớt Xuống Tuổi Thơ, Tôi 
Xin bấm vào:
https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=r_t_xu_ng_tu_i_th___t_i_-_tr_n_y_n_


Sấp Ngửa

Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=s_p_ng_a__opt__-_tr_n_y_n_ho_
Mẫu Hệ
Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=m_u_h___opt__-_tr_n_y_n_ho_

Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ Trần Yên Hòa

Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=h_n_55_n_m_l_m_th___opt__-_tr_n_y_n

Đi Mỹ
Xin click vào:
https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=_i_m___opt__-_tr_n_y_n_ho_



---------------------------------------------------------------------------------------------------

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content





Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, July 17, 201910:14 PM(View: 49)
Nhạc sĩ Phạm Duy là một thiên tài. Rất hiếm hoi để có một tài năng như thế. Tôi đã nghe nhạc Phạm Duy từ thời mới lớn, qua nhiều thể loại nhạc, phần lớn thời xa xưa là nghe qua các làn sóng phát thanh tại Sài Gòn, và rồi nghe qua băng Cassette – đó là những năm chưa có máy truyền hình màu, và dĩ nhiên là rất xa với kỷ nguyên Internet bây giờ. Chỉ gần đây, nghe được ca khúc “Xuân Hành” qua CD Phạm Duy Hát Vào Đời trong đó gồm 10 ca khúc do ca sĩ Bích Liên chọn và hát. Tôi không biết rằng việc mưu sinh bằng nghề bác sĩ của chị Bích Liên có ảnh hưởng gì tới việc chọn lựa nhóm ca khúc này từ cả ngàn ca khúc của Phạm Duy hay không, nhưng tự nhiên một bài trong CD lưu mãi một câu hỏi trong tôi, và nhiều ngày đầu mới nghe, tôi cứ nghĩ rằng ca khúc đó có tên là “Người Là Ai” – nhưng đó là nhớ nhầm, nhan đề đúng của ca khúc đó là “Xuân Hành”… Ngay từ dòng nhạc đầu tiên, sức mạnh của chữ “ai” đã chụp lấy suy nghĩ của tôi: Người là ai, từ đâu tới và người ơi, người sẽ bước chân về nơi nao
Friday, July 12, 20197:18 PM(View: 156)
Nơi Trần Thị NgH. vận tốc làm cho người đọc giật mình: "Mặt mụ ta thấy ghét thật. Da căng bóng, hai con mắt nhỏ, tóc chải xước ra sau túm lại thành cái búi củ hành chừa cái trán trống trên đó một mụt ruồi bằng đầu đũa đậu lửng lơ giữa đôi chân mày đã bị cạo trọc lóc để thay vào hai đường xăm vụng về. Đầu đít một mét tư, mụ ngồi thun lại còn có mấy tấc sau lưng ông xe ba bánh, hai tay bấu hai bên yên. Tưởng tượng từ đàng xa lao xe 100 phân khối tới mục tiêu, tôi có thể cày nát mụ không kịp ngáp. Chắc chắn lúc đó mụ đang nhìn kẻ sát nhân trong cự li gần." (Lạc Đạn Và Mười Truyện Ngắn, Thời Mới, Toronto, 2000, t. 148). Đó là vận tốc của những ý tưởng độc ác chảy trong đầu một người. Từ quan niệm nhân bản truyền thống, phát xuất một số nhà văn chuyên trị những ý tưởng đẹp, hành động cao cả của con người. Ở Trần Thị NgH., ngược lại, thường là những ý tưởng quái đản, những tính toán hèn hạ được ghi lại rất rõ ràng rành mạch. Sự ngược đời đó tạo nên một tác phong văn học đặc biệt.
Tuesday, July 9, 20197:08 AM(View: 155)
Đã là học sinh trung học, dù là học sinh trường công hay trường tư, không ai là không biết tới hai tác phẩm văn học vô cùng giá trị của giáo sư Dương Quảng Hàm đó là Việt Nam Văn Học Sử Yếu xuất bản năm 1941 và Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển xuất bản năm 1942. Cả hai tác phẩm này đều được được Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa chính thức công nhận làm sách giáo khoa cho chương trình trung học. Giáo Sư Dương Quảng Hàm, hiệu là Hải Lượng, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1898 tai làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông là nhà nghiên cứu văn hóa và đã đặt nền móng cho môn lịch sử văn học và văn học so sánh ở Việt Nam. Ông là người khởi xướng chương trình quốc học cho nền giáo dục hiện đại và cũng là người thầy xuất sắc đã đào tạo hàng ngàn môn đệ trong một phần tư thế kỷ. Thân phụ ông là nhà Nho yêu nước Dương Trọng Phổ và anh cả ông là nhà văn Dương Bá Trạc, một trong các nhà văn đi tiên phong ở đầu thế kỷ 20. Cả hai đều tham gia tích cực vào phong trào Đông Kinh Nghĩa
Thursday, July 4, 20195:18 AM(View: 230)
Năm ngoái, từ bên kia bán cầu, nơi mà quê hương chỉ hiện diện trong những chiếc bóng mờ, giữa không gian của đêm và không khí của ma, tôi đọc tin một con chó ngoạm xác hài nhi chạy nhong nhong trên đường làng ngoại ô Hà Đông. Ngay lập tức, ông tướng về hưu xuất hiện đuổi theo con chó. Hà Đông không xa Khương Trung, không xa làng Cò, quê Nguyễn Huy Thiệp. Không xa cái đơn vị hành chính ghi là phố nhưng lại sinh hoạt làng trong truyện Nguyễn Huy Thiệp. Ông tướng về hưu ba mươi hai năm trước đã chết lặng khi nhìn thấy mấy ngón tay hồng hồng nhỏ tí trong nồi thức ăn chó dưới nhà ngang. Giờ đây, bác sĩ Thuỷ không cần dặn ông Cơ cô Lài giấu diếm bố chồng, bởi không chỉ con chó ngây thơ vô tội cắp thai nhi chạy hoang, ngay cả con người cũng thản nhiên vứt bỏ, đánh đập, ăn thịt chính huyết thống của mình. Nhà máy rác Cần Thơ phát hiện hơn 300 xác thai nhi trong bảy năm, nghe đã rùng mình. Nghĩ tới bàn tay ai đó đã ném những hài nhi bé bỏng ấy vào túi rác, càng rùng mình hơn. Suy cho cùng,
Saturday, June 29, 201910:16 AM(View: 302)
Anh từ miền Bắc vào thị xã tôi khoảng giữa năm bảy lăm, lúc Sài Gòn vừa mới mất chưa đầy bốn tuần lễ. Đúng ra phải gọi là anh về, bởi bác tôi tập kết, mang anh theo lúc anh chỉ độ một tuổi. Khi bác tôi trở về, anh trở về cùng. Và lẽ ra tôi phải dùng chữ hồi hương cho trường hợp của anh mới đúng. Nhưng trông anh chẳng có gì là về. Cũng không là trở lại. Cái vẻ ngơ ngác, lạ lẫm với tất cả mọi thứ, từ khung cảnh quê nội quê ngoại, đến bầu không khí anh chưa từng được nhìn thấy, chưa từng được trải qua trong đời, không xuất hiện nhiều lắm trên mặt anh, trong ánh mắt anh, nhưng trong những lời nói dè dặt, nhỏ nhẻ, trong những ngại ngần khoảng cách của anh khi tiếp xúc với chúng tôi lần đầu, khiến chúng tôi nhận ra, quê hương của anh chẳng phải là nơi này. Trời thị xã tôi tháng năm nóng cháy da. Anh vào. Mang dáng dấp bên ngoài, hoàn toàn chẳng có gì khác, so với những cán binh Bắc Việt, những người lính phía bên kia vĩ tuyến mới vừa tràn vào thành phố. Trên vai anh, cũng chỉ một