DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,094,149

10 Truyện rất ngắn - NT2 Trần Thanh Kiều Diệp.

Thursday, November 17, 201112:00 AM(View: 11896)
10 Truyện rất ngắn - NT2 Trần Thanh Kiều Diệp.

10 TRUYỆN RẤT NGẮN

 

 

 1 - Nồi cá bống kho tiêu.

 

 Ba mươi tuổi đầu, lận đận chiến chinh, chưa kịp lấy vợ thì trời sập. Đi tù. Mẹ thăm nuôi 6 tháng một lần. Quà chỉ có nồi cá bống kho tiêu và nước mắt thương con. Được 3 năm thấy mẹ già đi, tóc bạc phơ. Thương mẹ, hắn bảo mẹ đừng lên thăm nữa. Nhưng đến kỳ thăm lại đi ra đi vào, trông ngóng mẹ. Suốt hai năm không thấy mẹ lên thăm.

 

 Được tha, về nhà mới hay khi mẹ về gặp mưa bị cảm nặng trong lần thăm nuôi sau cùng và đã qua đời hai năm rồi. Giỗ mẹ, hắn đi chợ mua cá bống về kho tiêu. Giỗ xong bưng chén cơm và đĩa cá bống kho tiêu cúng mẹ xuống ăn, hình như có vị mặn của nước mắt.

 

2 - Tình đầu.

 

 Mười tám tuổi, yêu tha thiết, tỏ tình. Nàng chu mỏ: học trò, nhỏ xíu, bày đặt. Hai mươi hai, Thiếu úy Sư đoàn 18, về phép đến thăm, nàng lạnh lùng. Sợ làm góa phụ lắm. Hai mươi sáu, Đại úy Trưởng khối CTCT Trung Đoàn. Khó chết rồi, xin bỏ trầu cau. Nàng ậm ừ để suy nghĩ lại đã. Tháng 4/75 chạy giặc, lạc mất nhau.

 

 Ở tù ra, gặp lại. Nàng đã có chồng, hai con. Buồn và mặc cảm, thôi cứ ở vậy không lấy ai. Ba mươi năm sau, lận đận quê người, gặp lại. Nàng chồng chết, các con trưởng thành ra ở riêng. Mừng rơn, mời nàng đi ăn cơm tối nhà hàng. Tỏ tình. Nàng thẳng thừng: già rồi bận bịu nhau làm gì, ở một mình cho khỏe.

 

3 - Hai chị em.

 

 Chị quen anh Hân, Trung úy phi công. Anh đến nhà chơi, thấy em gái quấn quít Hân, chị nhường. Hai người tổ chức đám cưới, chị gom hết tiền để dành tặng đôi vợ chồng mới.

 Em có thai đứa con đầu lòng được 6 tháng thì Hân đi tù cải tạo. Chi thương em đang có con dại, thay em đi ra Bắc thăm nuôi Hân. Con được hai tuổi, em đi buôn hàng chuyến, lỡ có thai với người tài xế. Chị tiếp tục đi thăm, dối Hân em dẫn con đi vượt biên rồi. Thấy Hân mừng cho tương lai vợ con mình, chị xấu hỗ, tủi thân, âm thầm khóc lặng lẽ trên chuyến tàu lửa từ Hà Nội về lại Sài Gòn.

 

 Hân về, biết sự thật. Buồn, dẫn con gái đi vượt biên. Nghe tin hai cha con chết trên biển, chị lập bàn thờ. Lấy tấm hình Hân đứng bên cạnh chiếc máy bay phản lực F5 Hân tặng chị hồi mới quen rọi lớn ra, bỏ vào khung đặt lên bàn thờ, chị ứa nước mắt thầm gọi Hân ơi…

 

4 - Trả hiếu.

 

 Thằng Út đói bụng, tìm Lan. Chị ơi nấu cho em gói mì. Từ sáng đến giờ hai chị em chưa ăn gì cả. Nhà hết mì gói ăn liền lại hết cả gạo.

 Lan dỗ dành, ba đi thồ về thế nào cũng mua bánh mì cho em. Trời tối dần vẫn không thấy ba về, Lan dẫn em ra đầu hẽm nơi anh Tư sửa xe gắn máy, ngồi đợi. Tư và Lan thương nhau đã hơn hai năm. Tư đang cố dành dụm ít tiền để sang năm làm đám cưới. Trời tối hơn, chú Bảy xe thồ chạy về báo tin ba bị xe đụng gãy chân rồi. Bệnh viện đòi 5 triệu mới chịu bó bột.

 

 Lan về nhà thay áo, chạy vội ra nhà dì Năm đầu phố. Dì ơi con bằng lòng. Đêm bán trinh cho ông Đài Loan, Lan khóc lặng lẽ. Anh Tư ơi, cho em xin lỗi…

 

5 - Khói thuốc.

 

 Năm thứ hai ở Đại học CTCT Đà Lạt, Duy quen Trinh, học năm thứ nhất ở Đại học Chính Trị Kinh Doanh. Hai đứa yêu nhau tha thiết, thề hẹn sống chết với nhau. Tốt nghiệp, Duy về Sư Đoàn 5 bộ binh, hành quân liên miên Bình Dương, Bình Long, Phước Long. Đêm hành quân giăng võng nằm trong rừng cao su Đồng Xoài, Duy mơ có dịp về phép Đà Lạt, cùng Trinh tay trong tay dạo khắp Thành Phố Sương Mù, rồi vào Cà phê Tùng gọi một gói thuốc Capstan, một tách cà phê sữa, một ly sữa đậu nành nóng, cho ấm.

 

 Trinh ra trường về nhà ba mẹ ở Sài Gòn. Duy xin phép thường niên được 7 ngày, ghé thăm. Trinh báo tin ba mẹ gả em cho anh giám đốc Trung Á ngân hàng. Cưới xong chắc em cũng vào làm ở đó luôn cho tiện. Mẹ bảo em hãy quên ông Trung úy đó đi.

 

 Hai tháng sau Duy bị thương về nằm Tổng Y Viện Cộng Hòa. Anh lính đơn vị cử đi theo chăm sóc chạy về báo tin hôm nay đám cưới cô Trinh, thấy nhà trai tới với nhiều xe hơi sang trọng lắm.

 Duy chống nạng ra ngồi trước hiên, châm điếu thuốc. Thẩm quyền, bộ ông đang khóc đó hay sao? Không phải đâu, chỉ là khói thuốc lá cay cay làm chảy ra nước mắt…


dsc00197-content

 (từ phải qua: NT2 Nguyễn Văn Diệp, Trần Yên Hòa, Trần Thanh Kiều Diệp, Đào Trung Chính, Trịnh Tùng, Nguyễn Đạt Quỳền, Phó Thái Toàn tại San Jose)




6 - Chồng xa.

 

 Tin vào chủ trương của lãnh đạo ủy ban nhân dân huyện, cha Hạnh bỏ lúa đổi sang nuôi tôm xuất khẩu. Vay của ngân hàng nhà nước 3 tỷ bạc. Tôm chết trắng ruộng, lỗ nặng. Đến hạn trả nợ, không trả được bị ngân hàng hăm tịch thu nhà. Vịnh, em trai đang học lớp 10 muốn bỏ học đi làm thuê. Hạnh khuyên em cứ tiếp tục học lên đại học, mong sau nầy đổi đời. Nợ nần của gia đình để chị lo.

 

 Nuốt nước mắt vào lòng, Hạnh lên Sài Gòn tìm mối lấy chồng Đại Hàn. Được ba tháng chị gọi phôn về thăm Vịnh, dặn dò em cố gắng học và chăm sóc cho cha. Tiếng chị nghèn nghẹn như đang khóc. Thương chị, Vịnh nghẹn ngào hứa vâng theo lời chị dặn dò. Ba tuần sau, tòa lãnh sự Đại Hàn tại Sài Gòn mời gia đình đến nhận bình đựng tro cốt của Hạnh. Họ giải thích tại chị nhảy lầu tự tử…

 

 Trên chuyến xe đò từ Sài Gòn về Long Xuyên, xe chạy qua những cánh đồng lúa bạt ngàn tận chân trời, Vịnh ôm bình tro cốt thút thít khóc gọi chị Hai ơi …

 

7 - Chiếc đồng hồ đeo tay.

 

 Hôm gia đình Duy ra đi theo chương trình HO, Mẹ tiễn ra tận bến xe, nước mắt ràn rụa, ôm hôn từng đứa cháu. Duy nghẹn ngào cầm tay Mẹ, ưóc gì Mẹ sống lâu đến ngày Duy đưa các cháu về lại quê thăm Mẹ…

 

 Sang Mỹ hơn hai năm vẫn chưa dành dụm đủ tiền cho một chuyến về thăm. Ngày Lễ Mẹ Mother’s Day chợt nhớ lại ngày xưa Mẹ luôn mơ ước có được chiếc đồng hồ đeo tay. Vậy mà từ thời con gái, đến khi lấy chồng cho tới lúc về già, Mẹ cũng không sắm nỗi. Thế là Duy mua chiếc đồng hồ thật đẹp, gói ghém cẩn thận gởi về biếu Mẹ. Chắc là Mẹ sẽ mừng lắm…

 

 Một tháng sau, Duy nhận được thư của Lan, cô em gái út. “Mẹ bệnh nặng, dặn dò không được báo cho anh, sợ anh không có tiền về thăm, sẽ đau khổ trong lòng…Mẹ dặn khi mẹ qua đời, chôn cất xong mới được cho anh biết. Mẹ mất được một tuần thì gói quà của anh về đến, em lấy chiếc đồng hồ anh tặng đặt lên bàn thờ, cúng Mẹ ...”

 

 Đi shopping, Duy không dám đi qua khu trưng bày đồng hồ, sợ lại chảy ra nước mắt…

 

8 - Chén canh rau có thịt.

 

 Gia đình ở quê, bị chính quyền thu hồi lại đất canh tác cho công ty Đại Hàn lập sân golf, anh Bảy đành dắt vợ và hai con lên Sài Gòn tìm kế sinh sống. Bảy thuê được chiếc xích lô, hàng ngày chở khách. Dân lao động vùng quê lên Sài Gòn kiếm việc làm thuê ngày càng đông, cuộc sống khó khăn. Hai vợ chồng quần quật suốt ngày chỉ kiếm đủ tiền mua gạo cho hai bữa cơm rau mắm.

 

 Được 3 tháng, thấy Bảy xơ xác quá mẹ họp các con bàn: mỗi tuần cố mua bồi dưỡng cho ba một lạng thịt bò, chỉ mình ba ăn thôi để đủ sức đạp xích lô, 3 mẹ con mình thì rau mắm qua ngày sao cũng được. Bữa cơm trưa hôm sau có đĩa thịt bò xào cải, Bảy gắp một đũa bỏ vào chén mình rồi gắp bỏ cho vợ và các con. Thấy ai cũng từ chối bảo là không thích ăn thịt bò, Bảy ngạc nhiên rồi bỗng ứa nước mắt, bỏ ngang bữa ăn vào giường nằm. Mẹ vào theo, cầm bàn tay đen đúa trơ xương của chồng, nói thầm mình ra ăn cơm cho có sức chiều còn đạp xe.

 

 Bảy ra ngồi vào mâm cơm, nghiêm giọng bảo: từ nay khi nào ăn thịt thì ăn cả nhà. Không đủ tiền thì mua một lạng thịt băm nhỏ ra nấu canh, mỗi người ăn một chén canh rau có thịt.


9- Tình yêu của Bố.

 

 Mẹ bệnh nặng rồi mất. Hôm đưa tang, Bố không khóc, chỉ lặng lẽ quỳ xuống hôn nhẹ lên quan tài Mẹ thầm thì: “ mình cứ yên tâm an nghỉ, các con để anh lo”. Mẹ ra đi để lại cho Bố 3 đứa con, Cúc 12 tuổi, Lan 8 tuổi và thằng Út mới có 3 tuổi đầu.

 

 Vậy mà bố lo được. Đi làm về, Bố lo nấu ăn, giặt quần áo và dọn dẹp nhà cửa trong lúc các con làm bài. Cuối tuần, Bố đi chợ và làm sẵn vài món ăn để vào tủ lạnh. Bố không còn thời giờ để uống cà phê với bạn bè của Bố nữa. Có người hỏi Bố bao giờ đi thêm bước nữa, Bố chỉ cười: đợi các con xong đại học đã.

 

 Rồi lần lượt Cúc và Lan xong cử nhân, có chồng ra ở riêng. Khi thằng Út tốt nghiệp đại học, Bố gọi các con về làm mâm cơm cúng Mẹ. Lúc nầy mới thấy Bố khóc, nước mắt ràn rụa rồi ôm ngực ho rũ rượi …

 

 Bệnh viện bó tay, cho xe đưa Bố về nhà. Bố lặng lẽ vẫy các con đến gần, thì thào:

Bố sắp đi thêm bước nữa đây, Bố đi về với Mẹ …

 

10 - Chuyện con bò.

 

 Hai năm trước, sau mấy năm dành dụm Bố mua được con bò đực. Bố cưng quý lắm, lo cho nó còn hơn lo cho vợ con. Tắm rửa, cho ăn thêm cỏ tươi mỗi ngày. Nhờ thế con bò lớn rất nhanh, dáng mạnh khỏe trông thật đep.

 

 Hôm đầu tiên dắt nó đi cày mãnh đất hoang mới vỡ để trồng khoai, thấy thân thể nó đẫm mồ hôi, Bố thương đến độ đã cởi chiếc nón lá đang đội trên đầu xuống quạt cho nó mát. Con bò như cũng hiểu được tình thương của Bố, tựa đầu vào người Bố, mắt mơ màng.

 

 Từ khi Rá, đứa con trai lên lớp 11, Bố đã dành dụm cho nó vào đại học. Bố bảo nhà chỉ có mỗi mình nó là con trai, phải lo cho nó vào đại học để đổi đời. Con Rổ, đứa con gái đầu, đã phải bỏ học hồi lớp 7 để phụ cha mẹ mưu sinh. Bây giờ, Rổ đã có gia đình, hai vợ chồng sinh sống với mấy sào đất, sống lây lất bữa đói bữa no. Nhiều lúc Bố thầm trách giá như Bố có đủ tiền cho Rổ ăn học đàng hoàng, có lẽ bây giờ cuộc sống của nó đã khác…

 

 Có tin thằng Rá nhắn về, nó thi đỗ vào cả hai trường đại học ở Hà Nội. Cả nhà mừng rỡ, bà con lối xóm chạy tới chia vui. Khách về rồi, Bố vào buồng đập con heo đất ra đếm tiền dành dụm rồi thở dài. Nửa đêm, thức giấc không thấy Bố, Mẹ đi tìm và thấy Bố đang vuốt ve con bò, nước mắt chảy dài…

 

 Sáng hôm sau, Bố kêu người bán con bò. Khi người mua dắt bò đi, Bố lặng lẽ quay mặt đi chỗ khác, âm thầm lấy vạt áo lau nước mắt.

 

NT2 Trần Thanh Kiều Diệp.

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, September 12, 20198:46 AM(View: 166)
Đầu năm 1970, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Trần Quốc Lịch được thăng cấp Đại Tá Nhiệm Chức, chỉ huy các tiểu đoàn cơ hữu (TĐ 5, 7, 11) và các đơn vị tăng phái, thống thuộc hành quân trong giai đoạn 1970-1972. Tháng Chín, 1972, do công trận, chiến tích các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 2 thâu đoạt, Đại Tá Lịch được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thay thế Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng; 1 Tháng Mười Một, 1972, Đại Tá Lịch tiếp thăng cấp chuẩn tướng nhiệm chức; Tháng Bảy, 1973, Chuẩn Tướng Lịch được lệnh bàn giao Sư Đoàn 5 lại cho Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, tiếp giữ chức vụ chánh thanh tra Quân Đoàn IV/Quân Khu 4. Cuối năm 1974, Chuẩn Tướng Lịch bị câu lưu do tội danh tham nhũng, tạm giam tại Đề Lao Chí Hòa, buộc phải giải ngũ, giáng xuống cấp đại úy! Phiên tòa quân sự chính thức xét xử Đại Úy Trần Quốc Lịch về tội danh tham nhũng chưa thực hiện thì xẩy ra biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Vụ án Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch chìm khuất trong đại nạn nước mất nhà tan. Chẳng mấy ai trong, ngoài quân đội
Tuesday, September 10, 20198:45 PM(View: 94)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn. Thực chất, chúng ta biết rất ít về Petrus Key. Hầu hết chi tiết về gia đình
Wednesday, September 4, 201911:51 AM(View: 82)
Đến với nhau trong văn chương không phải là sự tình cờ. Và vì vậy, khi Nguyên Minh đến với thế giới chữ nghĩa là mang đến cả một niềm đam mê không biết mệt mỏi. 18 tuổi anh và bạn bè làm tờ Gió Mai ở Huế. Và từ đó đến nay anh có hơn 50 năm tuổi nghề, mặc dù có những lúc, thời gian đã chặn anh lại nửa đường. Nhưng thời gian mang những dấu ấn lịch sử kia đã không thể trói tay chân, đầu óc anh. Hết Gió Mai, ở Phan Rang anh lại cùng Ngy Hữu và bạn bè ra tờ Ý Thức, tờ báo in ronéo đẹp nhất Miền Nam thời bấy giờ và cũng tập trung đông đảo người viết trẻ nhất. Cả cuộc đời Nguyên Minh không thể thiếu mùi mực in, mùi giấy và kim chỉ. Vắng chúng chừng như anh không thể nào sống nổi thêm giây phút nào nữa, như một Trần Hoài Thư ở New Jersey vừa khâu sách trên bàn ăn tối vừa tiếp bạn xa! Thời in ronéo chấm dứt, có lúc Nguyên Minh thẫn thờ như kẻ mất hồn giữa thị trấn tràn gió và cát bay. Anh quyết định bỏ Phan Rang, chốn quê nhà yêu dấu của mình, vào Sài Gòn để làm một điều gì đó cho văn chương,
Friday, August 30, 20196:15 PM(View: 160)
thời đi lính ta làm thơ lạng quạng. có, đương nhiên súng đạn máu me. chạm sự thật lẽ nào nói nhảm. tình ý trong lòng khuân hết ra khoe. chuyện đánh đấm không cần hư cấu. thơ tháp tùng theo bước hành quân. thơ cũng dán lung tung nhiều chỗ. những chi chi ẩn nấp trong quần. hương tình ái cùng hơi cuộc chiến. vo tròn nhau thành một món ăn. vật tiêu hóa không qua cửa miệng. mà đi vào máu đỏ tim đen. ta vốn dĩ không vờ cao ngạo. không huênh hoang kiểu bất cần đời. cực-chẳng-đã vài lần văng tục. thói quen bất thần từ một cuộc chơi. không hào sảng lập lờ khí cốt. dựa rượu dựa tình tạo cách nói ngông. thơ để nói và thơ để vẽ. diễn tiến mỗi ngày xâm nhập nội tâm. giết con rắn bắn con bò thượng cấp. chơi nhằm em trụi lủi no hair. sợ són đái đôi lần rút chạy. cũng cùng thơ vai sánh cặp kè. bởi biết ngượng nên không nói dốc. kiểu ngán gì chết hoặc bị thương. ngày ngày ngắm xác banh óc đổ. phi nhân chi cũng khó xem thường. một thằng ngạo nhiều thằng bắt chước
Tuesday, August 27, 20197:55 AM(View: 146)
Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai. Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị. Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì? ‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’. Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn