DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,009,712

Báo Giấy Tân Hình Thức số 55

Friday, May 31, 20196:55 AM(View: 114)
Báo Giấy Tân Hình Thức số 55
Báo Giấy Tân Hình Thức
Số 55
tháng 6.2019


Image result for báo giấy tân hình thức


Báo Giấy • Tháng 06 năm 2019 • Năm thứ 4 • Số 55
Email: baogiaytanhinhthuc@gmail.com • www.thotanhinhthucviet.vn

___________________________________________________________________________

Thư Tòa Soạn

Cộng đồng Việt nam Nam California tồn tại 44 năm. Tạp chí Thơ 10 năm, thơ Tân hình thức 19 năm, Báo giấy 6 năm, Journal in Print (báo song ngữ) 2 năm rưỡi. Tuy mới hơn 2 năm, nhưng Journal in Print là tờ báo đầu tiên ở hải ngoại trực tiếp giao lưu với những nhà thơ Mỹ nổi tiếng, thuộc dòng chính, cả tự do lẫn thể luật. Một mặt giới thiệu thơ Tân hình thức Việt, tiêu biểu cho thơ Việt vì đây là dòng thơ kết hợp giữa thơ tự do và các thể thơ truyền thống Việt. Mặt khác giới thiệu thơ Mỹ với người đọc Việt. Công việc của tờ báo tuy khiêm tốn nhưng được đặt trên một nền tảng có ý nghĩa.

Nhà văn, dịch giả Hoàng Ngọc Biên vừa qua đời ngày 16 tháng 5 – 2019 tại San Jose, California, hưởng thọ 81 tuổi. Ông sinh năm 1938 tại Quảng Trị trong một gia đình danh tiếng, cha làm thông phán tòa sứ tại Quảng Trị. Mười chín tuổi, Hoàng Ngoc Biên tham gia nhóm Trình Bày của Nguyễn Văn Trung và Thế Nguyên. Ông đã dịch Marcel Proust, Pasternak, Samuel Backette, Alain Robbe Grillet. Tác phẩm: Đêm Ngủ Ở Tỉnh, nxb Cảo Thơm, Sàigòn, 1971.

Nhà thơ Tô Thùy Yên, tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh ngày 20 tháng Mười, năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định, vừa qua đời ngày 21 tháng 5 – 2019, tại Houston, Texas, hưởng thọ 81 tuổi. Ông là tác giả 2 tập thơ: Thơ tuyển (xuất bản ở Đức năm 1994; Minnesota, Hoa Kỳ, 1995), và Thắp Tạ (An Tiêm, Houston, Hoa Kỳ, 2004). Ông theo học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, ban văn chương Pháp, năm 1964 nhập ngũ, đến năm 1975 là cấp bậc thiếu tá chiến tranh chính trị, đi tù 13 năm. Theo nhà thơ Du Tử Lê, thơ Tô Thùy Yên bắt đầu xuất hiện trên báo chí từ năm ông 16 tuổi. Gia nhập nhóm Sáng Tạo thành hình năm 1956, cộng tác đều đặn với nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, chủ trương nhà xuất bản văn học Kẻ Sĩ.

Nhà thơ Trần Tiến Dũng cho rằng: [Có những thi sĩ của chỉ một bài thơ, hay “thi sĩ của những bài thơ hắn đã làm”, thậm chí có thể có thi sĩ của cả một dân tộc (Nguyễn Du, chẳng hạn), cho dù cả hai trường hợp này không nhiều. Hầu hết, tôi muốn nói số đông, các thi sĩ thường là thi sĩ của một trường phái hay một dòng thơ, nơi họ có thể là những đại biểu xuất sắc của trường phái hay dòng thơ đó bằng chính những tác phẩm mà họ ghi dấu ấn của mình trong lịch sử phát triển văn học. Ví dụ khi nói đến dòng Thơ Mới ở Việt Nam, người ta sẽ nhắc đến một Xuân Diệu, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Huy Cận,…Hay nói đến thơ tự do, người ta không thể không nói đến Thanh Tâm Tuyền mà ảnh hưởng của thơ ông cho đến nay vẫn còn sâu đậm.

Nhưng thi sĩ của một thời đại thì hiếm, rất hiếm; nghĩa là người, với thơ của mình, đã trở thành biểu tượng, người phát ngôn của chính thời đại mình. Tô Thùy Yên chính là một trường hợp hiếm hoi đó.]

Thơ • 2

Thạch Tốt


CƯ XÁ MÙA ĐÔNG

Thỉnh thoảng tôi vẫn hay đi bộ
trong khu vườn không biết là tôi
tìm gì trong khu vườn có thể
là tôi không biết vì như lá

Vàng rơi trên lối đi mùa thu
mùa thu đã tới, lá đã rơi
lá rơi rồi lá sẽ khô. Lá
sẽ lạnh lẽo. Hàng cây trơ trụi.

Mùa đông đến gió từ miền bắc
(ngọn gió nào) buốt giá thổi thật
đều, đều đều thản nhiên vô tâm
khởi hành đúng kỳ hạn cho nên

Mùa đông đến nơi căn nhà của
Connie (vừa lên miền bắc) tuyết
có lẽ tuyết rơi nhiều lắm cái
cửa sổ nhìn ra vườn hoa hồng

Tôi không nghĩ gì nhiều có lẽ
đã chết hết tuyết rơi trắng xóa
lại rơi trên cái cầu thang mùa
đông đến đường đóng băng, nơi chiếc

Xe già nua, nơi căn nhà cũ kỹ
nơi kia không ai ngó ngàng gì
cả, bây giờ tôi biết thêm về
cái bánh xe, cái bình điện cái

Gạt nước, tôi đi ngày đêm mưa
đêm cũng không muốn uống thêm nữa
ly cà phê/bass concerto
đọc thơ ở galleria chiều thứ tư

Có patio, có party
có trà đá, có chiêu đãi còn
bao lâu bài thơ tôi thích đọc
giữa mùa đông ảm đạm này sẽ

Hòa tấu những bản nhạc chưa nghe
bao giờ. Con đường xưa em đi
quê nhà chợt nhớ mùa đông anh
cho em mùa xuân giá lạnh sau

Đó đi qua cầu lạnh mà căm
mưa dai kể chuyện ma học hành
từ từ sau đó đi qua nhà?
gió thổi nàng hô hấp bầu trời

Xám bạc gió thổi, gió thổi thổi
rồi nàng biết tất cả, tôi bị
gió chướng cho nên uống nhiều nước
nơi cái thác ở oklahoma

Chờ mùa hè về nắng trong trong
tôi sẽ bớt long đong họa may
tôi sẽ bớt đứng ở basement nhớ
những ngày tản cư mùa đông lạnh

Ở Quebec vẫn lang thang vẫn đi
vào lịch sử người hướng dẫn nói
về cái chuông không khí lạnh tiệm
macdonalds cái bánh làm nhỏ

Hơn burgerking và tiếp theo là
ngủ trên chiếc tàu điện đi qua
longueile có một tiệm luôn
luôn tấp nập ngồi quây quần bên

Bầu cua cà cọp ở đầu làng
đang cúng mồng một tết rước ông
bà đang quỳ lạy thật trang nghiêm.

Nguyễn Thánh Ngã


TIẾNG SÁO CỦA NGƯỜI MÙ BÁN VÉ SỐ

như một định mệnh khắt
khe anh thương binh nghèo
mỗi sáng huơ chiếc gậy
ra đường anh ngồi đó

nơi ngã tư đèn đỏ
cứ mỗi lần đèn đỏ
tiếng sáo lại vang lên
réo rắt tiếng sáo len

lỏi qua âm thanh bụi
bặm cùng khói xe và
mũ bảo hiểm khẽ rơi
vào tai chạm vào trái

3 • Tân Hình Thức

tim kẻ nhân từ mua
giúp tờ vé số mười
ngàn mua giúp nỗi cô
đơn cơn thất vọng ngập

tràn hai hốc mắt đen
ngòm đen ngòm nhìn không
thấy nhưng trái tim anh
thấy tiếng sáo bay lên

không phải vì tiền vì
tiếng sáo là tiếng sáo
đồng xu là đồng xu
mà ít ai biết anh

thổi sáo là quên mất
người mù và những tờ
vé số của người bán
vé số mù thổi sáo ...

Trần Lê

NGÀY TRƠ NGỬA MẶT

Ngày trơ mùa căm căm lạnh
Tôi mua dòng người xô nhau
Rải chợ chen lấn chắt chiu
Tạm bợ hàng hóa những đống
Xà bần đôi khi là rác
(Đồ bỏ đi của người này
Lại cần thiết cho kẻ kia)

Bày ra đong đếm cân chia
Một thứ hạnh phúc tình yêu
Xa xí phẩm èo uột đạo
Đức mặt hàng nhảm nhí không
Ai cho không ai bất cứ
Thứ gì xà phòng bột ngọt
Rượu bia thuốc lá chất độc

Lại dùng để sống và ăn
Tôi ngồi đong một bữa Đông
Chí ố chen mua cho mình
Một chất mùi thiền trong ca

Khúc Trịnh sự ngạo nghễ của
Chúa sự giả vờ của Phật
Sự thật bán mua vẫn chẳng

Vừa một giá cho tôi cát
Bụi thân trôi cát bụi nhặt
Lên bữa người mấy tấm ván
Theo về cõi tận cùng giun
Dế vây quanh ngửa mặt nhặt
Ngày lạnh căm không có mợ
Chợ cũng đông

Nguyễn Văn Bút


CHIẾC MẶT NẠ


Chiếc mặt nạ treo ngay
Ngắn trong căn phòng có
Bản nhạc không buồn cũng
Không vui khi con mèo
Đen không thèm ghé mang
Theo hồi ức rồi cào
Lên cánh hoa hồng đang
Chết rũ ngoài ban công
Bên lọ thuốc đã hết
Hạn sử dụng ngày hôm
Qua chẳng có ai quan
Tâm đến sự ra đi
Không từ biệt của chàng
Họa sĩ trong bức ảnh
Vẫn mỉm cười khi con
Nhện bò ngang qua lúc
Ngoài kia những ly rượu
Được nâng lên và tiếng
Reo cười của những kẻ
Mang vẻ mặt đầy tốt
Bụng khi chưa tháo chiếc
Mặt nạ được trang trí
Rất đẹp đẽ từ bàn
Tay chàng họa sĩ khẽ
Rùng mình cho trái cuộc
Đã nát tan từ chiếc
Mặt nạ được treo lên
Rồi gỡ xuống nhẹ nhàng.

Thơ • 4

Nguyễn Ngọc Trìu

NGƯỚC NHÌN NÚI CHỮ

Kính tặng hương hồn
nhà văn Chu Văn Sơn
Một bài viết đã
xong bạn tôi nhẹ

đi thêm một thêm
một bài nữa đã
xong bạn tôi nhẹ
đi hơn nhẹ hơn

một cuốn sách đã
xong bạn tôi nhẹ
hẳn người thêm một
cuốn một cuốn đã

xong bạn tôi giờ
nhẹ như mây chiều
nay chiều nay mây
bay để lại đỉnh

núi chữ ...

16h ngày 18/4/2019

Nguyễn Hàn Chung

TÔI ĐÓNG MỘT VAI

Tôi nói với em hằng
đêm em là người tôi
yêu nhứt hạng không biết
em có tin tưởng rằng
tôi không hề dối trá

Với em không ăn cơm
cũng nhớ như điên uống
rượu tôi lại càng nhớ
đến say mèm nhớ như
chưa bao giờ nhớ ai

Như thế tôi nói bài
thơ không vần gửi em
em nói anh làm thơ
kỳ dị quá không phải
như mấy lá thư tình

Tán tỉnh từ lúc mới
quen nhau làm thơ cũng
giống nhảy đầm không thể
cứ tình tang mãi một
điệu tango thế nào

Partner cũng chán tôi
nói với bộ mặt đưa
đám ma con ve sầu
tôi với em đóng vai
hiếu tử.


Nguyễn Đặng Thùy Trang

NHIỀU LÚC

Nhiều bận muốn trách cứ vô
cùng vô lối yêu dấu loanh
quanh lẩn quẩn u hoài ta
dường như quên vì đâu mà

yêu mà nhớ nhiều lúc lắm
lý chẳng mở lời – nỗi buồn
có nơi đi về không bơ
vơ lạc lõng nhiều lúc chán

ghét những chán ghét bình thường
của mình để ước mơ – một
cái ước mơ đàng hoàng mà
cố gắng nhiều lúc muốn nhớ

mình đã yêu ai yêu sao
đêm dài ơi hỡi tiếng radio
một mình nói một mình nghe
nhiều lúc nhút nhát ê a

nhạc của người nhạc sĩ ê
a ngoài mưa trái tim trầy
la lên rồi khóc rồi nín
rồi ướt giấc mơ giao thời

5 • Tân Hình Thức

người lớn nhiều lúc không muốn
kết thúc nhưng vẫn kết thúc
và nhiều kết thúc chồng lên
nhau tạo ra một kết thúc
không mong muốn.

de prelle Như Quỳnh

DA CAM

Đám mây chiều thu như màu
halloween những quả bí
ngô sáng đèn nhà nhà đi
ngủ trong đêm những bóng ma
ngoài cửa các tinh thần ma
quái không chỉ riêng ngày của

tháng mười những cơn mưa như
trút không thể gột rửa nhơ
nháp tù túng hôi bẩn của
những cái nghèo u ám khát
vọng bất chấp thành người nổi

tiếng như một ngôi sao chà
đạp các giá trị rồi một
ngày con người cũng thành ma
mà không biết đường sống tốt
đẹp hơn giản dị hơn mà

bất chấp sống mạnh hơn bằng
cách gây phiền phức khổ đau
rồi oán hận tù đày lương
tâm không có bất trắc nào
bên ngoài mà chính bản thân

tự gây chuốc oán nghiệp tự
phá huỷ chính mình do chính
sự tham lam bần tiện sự
ngu dốt không tiếp thu để
trở thành kẻ phá hoại và
giết hại người như không

Vĩnh phúc

ĐỨC TIN
I.
Cây gậy đức tin của người mù không
Đột nhiên ngắn đi nhắm mắt lại con
Vẹt hát mãi bài ca dối trá ngực
Em thơm không phải hoài nghi đức tin
Viên thành thuốc nổ giữa phố lạ
II.
Tôi hóa thạch hay tôi mang đồng phục
Đầy khát vọng con lũ chủ kiến hàm
Hồ ngụy tín bất tri tôi sơn lên
Khung cửa mở đức tin hàn gắn thủy
Tinh vỡ
III.
Đi hỏi đất đất bảo mầm hạt suy
Dinh dưỡng chờ mùa sau thôi thiếu máu
Đi hỏi người người nói tâm hồn bẩn
Một sớm mai tự vẫn trước giàn thiêu
IV.
Đức tin mặt nạ Chúa và Phật đức
Tin bầy đàn kết nối những tin nhắn
Nhiễu nhương leo qua cõi rồng của khói
Và lửa còn lại sự thật cuối cùng
Mặt nạ đen cong vèo khấn vá

Thơ • 6

Linh Vũ

TRÚ MƯA

Một con chim đang trú mưa dưới hiên
nhà tôi mang đôi cánh ngắn nhảy nhót
tự do tôi mở cánh cửa một tia
nắng xuyên qua khe hở nhẹ nhàng niềm
hy vọng như đang bay lơ lửng tôi
nhìn con chim và rắc vài hạt gạo
tôi muốn nó trở thành một con chim
xanh quay lại tôi thấy tôi qua màn
mưa phủ xuống cơn mưa lớn dần và
sấm chớp như rơi xuống dưới chân tôi
ngoài trời con chim xanh vỗ cánh bay
đi xa tít vào cơn bão sự hải
hùng trong tôi bỗng dưng dập tắt không
phải tiếng sấm mà bởi trái tim tôi.
2
Ngày mai trời tạnh một con chim đang
trốn trong lùm cây như những quả của
cành cây mùa đông con chim đang reo
vui nhảy hót líu lo tôi nhìn bầu
trời như một tấm lụa có con chim
đang bay hình như nó đang nghĩ về
một điều gì đó nó đang mang một
hạt giống đến với mùa xuân một con
chim có thể nở thành đóa hoa trong
suốt mùa xuân nếu tôi cô đơn cũng
chỉ là một thế giới tại sao tôi
không bay đến vùng ánh sáng khiết trinh
Không ai trong chúng ta nghĩ về niềm
đau nhân thế sống không hạnh phúc con
chim xanh sẽ không còn quay trở lại.

Nguyễn Đăng Thường

VỀ MỘT HUYỀN THOẠI

cái tít này tôi đã sử dụng cho
một huyền thoại hồ ly vọng khi viết
cho trình bày đầu thập niên 70
ở sài gòn và trên một xứ sở

không thiếu huyền thoại như vn thì
huyền thoại tcs kl cũng dễ
hiểu thôi và nếu độc giả cũng
ưa nói bừa như tôi để so sánh

cặp trai tài gái sắc này với tổ
tiên âu cơ lạc long quân vì tuy
trịnh ly không đẻ ra trăm trứng nở
ra trăm con khiến một học sinh đệ

thất chu văn an đã thì thầm người
mà đẻ trứng khi nghe tôi giảng bài
công dân giáo dục bí quá không biết
phải lí giải thế nào cho ra lẽ

mà kẻng tan học chiều sắp reo vui
thầy bèn mắng át im con nít biết
gì mà bàn bạc trịnh ly họ cũng
sinh hạ được trên dưới khoảng một trăm

ca khúc điều mà tôi muốn nêu ra
ở đây trước khi thức khuya gõ máy
viết bài này là khi chia tay trong
tháng tư đen trịnh ly có chia nhau

đồng đều mỗi người được phân nửa và
câu hỏi là ai đã lên núi ai
đã xuống biển người nào về đỉnh cao
kẻ nào chìm vực sâu huyền thoại này
rồi có vĩnh hằng như âu lạc không

7 • Tân Hình Thức

THƠ
____
Alan Burns

Căn bản so sánh của Robinson cho thơ hiện đại là những thành đạt vĩ đại của Whitman, càng trở nên rõ ràng hơn nếu chúng ta để bài thơ “Oh for a poet – for a beacon bright” cạnh bài thơ “Walt Whitman,” của ông, bắt đầu với câu “Bài-hát-(của)-bậc-thầy đã chấm dứt” (The master-songs are ended) – chấm dứt với cái chết của Whitman. Edgar Lee Masters hình như cũng chia sẻ cảm tưởng tương tự, vì trong bài thơ “Petit, the Poet”, ông đối chiếu bài thơ “Faint iambics”, các chữ “tick, tick, tick” cùng với câu thơ của các nhà thơ đồng thời với mình, so với tác phẩm của những nhà thơ lớn thật sự, như Homer và Whitman (tuy nhiên, hãy bỏ qua việc Homer làm thơ đactin sáu âm tiết đi). Bài thơ khai mở đối chiếu chủ nghĩa hình thức đã suy giảm, hợp thời trang Gallic, và hoàn toàn suy đồi vào thời đó (“Triolets, villanelles, rondels, roundeaus, / Ballades by the score with the same old thought”) với loại thơ toàn bộ, nguyên thủy, bao quát toàn thể mọi kinh nghiệm con người cũng như chứa đủ mọi thể loại của thế giới tự nhiên. Giống như bài thơ của Robinson, thơ của Masters chấm dứt một cách do dự với câu hỏi thay vì quyết đoán: “what little iambics / While Homer and Whitman roared in the pines?” Robinson đổ thừa tại đặc tính của thời đại, trong khi Masters đổ thừa chính tại nhà thơ, vì sự quyến rũ tài tử vô ích với thể thơ mà bỏ qua nội dung, nhưng điều mà cả hai nhà thơ đưa ra đều là chẩn đoán hơn là giải quyết.

Một “Giải quyết” rồi sẽ đến với sự tái sinh hiện đại của truyền thống thơ vào thập niên 1920, thời mà Mỹ châu chứng kiến sự gia tăng bất ngờ về tài năng và cách tân thơ. Lỗi lạc nhất giữa các nhà thơ của phong trào mới là Ezra Pound, mà bài thơ “A Pact” (1916), cũng nhìn lại Whitman nhưng với nhãn quan phê phán hơn cả Robinson hay Masters. Rõ ràng Whitman đã biến thành một chân dung dữ dội và truyền kỳ trong thơ Mỹ vào cuối thế kỷ. Ông đại diện cho tất cả mọi thứ thật sự sôi nổi và khác biệt về thơ Mỹ - năng khiếu bao quát và dân chủ, tự do, thoát khỏi uy quyền của hình thức và truyền thống, và quan hệ sống còn với thế giới thiên nhiên. Nhưng, đối với Pound, Whitman là cả hai phúc lành và nguyền rủa. Như trong tiểu luận “What I Feel about Walt Whitman” đã nói rõ hơn, Pound nhìn thấy Whitman như một thiên tài, nhưng lại là một thiên tài thô thiển. Một cách sắc sảo và không chút ích kỷ nào cả, ông viết: “Tôi vinh danh ông vì ông đã tiên tri tôi.” Tiểu luận “A Pact” của Pound kể lại những cố gắng đồng ý với tinh thần tiền nhân của mình. Pound công nhận Whitman “đã dọn đường” (broke the new wood) cho truyền thống thi ca Mỹ, cũng như các nhà tiên phong đã dọn đường trong khu rừng thế giới mới, nhưng ông khẳng định rằng “Đây là lúc chạm trổ gỗ” – nói một cách khác, đây là lúc nghệ thuật thích ứng dạng thức với tác phẩm tiên phong tương đối vô dạng thức mãnh liệt của Whitman. Không như Robinson và Masters, Pound không nản lòng bởi những thí dụ của Whitman; thay vào đấy, ông thấy mình như là người có thể xây dựng trên đó và ngay cả có thể cải tiến nó – chính xác đó là điều ông gắng làm trong tác phẩm bí ẩn của mình, Cantos, một thi án dài cả đời, trong thế kỷ hai mươi tương đương với Leaves of Grass của Whitman.

Thơ • 8

Đối nghịch với những tán tụng về thơ đã được công thức hóa bởi hầu hết các nhà thơ được quan tâm đến trong phần này, bài thơ “Thơ” của Marianne Moore (1921) đưa ra cái nhìn ngờ vực về chủ đề. Câu đầu trong bài thơ nổi tiếng của bà như sau: “I, too, dislike it”. Trong phiên bản cuối vào năm 1967, Moore gia giảm bài “Thơ” xuống còn ba dòng đầu (từ nguyên bản). Tuy nhiên, các nhà soạn tuyển tập thường chuộng nguyên bản, dài hai-mươi-chín dòng. Phiên bản ngắn bù đắp cho thơ bằng cách tìm ra một “chỗ cho xác thật”. Phiên bản dài thêm rõ chi tiết về thứ mà Marianne muốn cho là “xác thật”. Một bản kê khai không giống ai gồm các loại thú, con người, và các đối tượng (dòng 15-25) cho thấy Moore, tựa như Emerson và Whitman trước đó, rằng tất cả mọi hiện thực đều là đề tài thích hợp cho diễn tả thơ – ngay cả “văn kiện buôn bán hay sách vở học đường” mà Tolstoy chống lại, như trong ghi chú cuối bài thơ bà ngụ ý. Thơ phải mang lại kết quả từ việc làm tích cực của tưởng tượng, tác dụng trên bất cứ vật thể hay bề mặt nào mà hiện thực đưa ra. Những “nhà-thơ-nửa-mùa” là người mà tác phẩm của họ bắt nguồn từ đó nhưng không mang lại kết quả từ một ấn tượng trực tiếp và nguyên thủy về đời sống. Công thức nổi tiếng để làm thơ thành công của Moore – “những khu vườn tưởng tượng với những con ếch có thật trong đó” – minh họa sự hợp nhất của tưởng tượng nghệ thuật với “nguyên liệu” hiện thực. Bảo vệ cho “xác thật” của Moore là một loại biện giải cho bề mặt thơ cứng ngắc của chính bà, và là một luận chiến chống lại thơ thông thường “dễ thông cảm”; nhưng đó cũng làm sống mãi dòng chính của tư tưởng Mỹ về thơ kể từ bài “Merlin” của Emerson cho đến thời đại của bà. Một lần nữa, Thơ phải nguyên bản và có sự liên kết sống chết với thế giới thiên nhiên, ngay cả khi thiên nhiên đã bị thay đổi bởi bàn tay con người thành ra một lý tưởng đồng quê thu nhỏ– vườn nhà.

Cùng với thơ tự do của Whitman, các ành hưởng lớn trên nền thơ mới là chủ nghĩa tượng trưng, có khuynh hướng dùng vers libre (thơ tự do) và haiku của Nhật, nhấn mạnh đặc biệt đến sự trình bày khách quan của hình tượng. Một trong những phong trào có ảnh hưởng hầu hết trên thơ hiện đại Mỹ, chủ nghĩa hình tượng – kết hợp với thơ thuở đầu của Pound và các nhà thơ cùng nhóm như Richard Aldington, Hilda Doolittle, F.S. Flint, và T.E. Hulme, về sau có Amy Lowell và William Carlos Williams – lấy hứng từ haiku và khẳng định tính ưu việt của hình tượng thi ca. Bài “Ars Poetica” (1926) của Archibald MacLeish, một bản tuyên ngôn của thơ hiện đại, nhấn mạnh cùng loại hình tượng “khách quan” và khả năng tóm tắt giáo lý căn bản của chủ nghĩa hình tượng. Qua một loạt so sánh, MacLeish gián tiếp biểu lộ loại thơ mà ông muốn thấy – thứ thơ nghịch lý, “câm nín / như trái cây ngoài bọc quả cầu” và “không lời / Như đàn chim bay” (ta nên để ý, những hình ảnh khẳng định lý thuyết hữu cơ cũ kỹ về thơ). Nói một cách khác, MacLeish, không muốn thơ bình luận về các sự vật; thay vào đó, ông muốn thơ trình bày chúng một cách trực tiếp và cụ thể. Sự phân biệt tương tự tiểu thuyết; như trong một truyện ngắn hiện đại hay, như những truyện viết bởi Chekhov và Hemingway, thơ nên quan tâm với phô diễn hơn là kể ra. Nếu thơ làm được việc ấy tốt đẹp, nó sẽ “ngang bằng / Không đúng.” Nói cách khác, nó biểu hiện sự bí ẩn của thế giới hơn là cố gắng giải thích thế giới. Rồi MacLeish đưa ra những thí dụ làm sao các hình ảnh có thể tượng trưng cho trừu tượng: “Một khung cửa trống vắng và một lá phong” cho thương tiếc, “đám cỏ nghiêng rạp và hai ngọn đèn trên biển” cho tình yêu. Kết luận chứa đựng những câu nổi tiếng nhất của bài thơ và thường được nhắc đến – “Một bài thơ không nên có nghĩa / Nhưng là” – đã kết tinh nghị trình hình tượng.

Điểm Thọ dịch

Nguyên tác: Poetry
 
Duc Le
gởi




*

Mời đọc

Tân Truyện và Tạp Ghi Văn Nghệ của Trần Yên Hòa

Sấp Ngửa


Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=s_p_ng_a__opt__-_tr_n_y_n_ho_
---------------------------------------------------------------------------------------------------

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content




Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, June 17, 20195:22 PM(View: 121)
Triển lãm mỹ thuật "Hồi Tưởng" tại Nhật báo Người Việt. 14771 Moran st. Westminster CA 92683. Với 6 họa sĩ: Ann Phong, Nguyễn Việt Hùng, Nguyên Khai, Nguyễn Thị Hợp, Nguyễn Đồng, Dương Văn Hùng.
Tuesday, June 11, 20198:02 PM(View: 79)
Khai mạc vào lúc 11:00 AM ngày 15 - 6 - 2019 tại Hội Trường Nhật Báo Người Việt: 14711 Moran St. Westminster, CA 92683. RMS lúc 2:00 PM. Triển lãm tranh trong 2 ngày 15, 16 tháng 6 ngăm 2019.
Saturday, June 1, 20197:29 PM(View: 163)
số đặc biệt Thương tiếc Hoàng Ngọc Biên & Tô Thùy Yên nhiều tác giả trong ngoài nước bìa trình bày bởi Uyên Nguyên Trần Triết phát hành 15-6-2019.
Tuesday, May 28, 20196:22 AM(View: 83)
(h. NVS) Ngày 26 Tháng Năm, tại Viện Việt Học có buổi mạn đàm truyện thơ Nôm Thạch Sanh Lý Thông
Friday, May 24, 20197:21 AM(View: 202)
Quán Văn Số 64 Chủ Đề: Nguyễn Thị Thụy Vũ. Sẽ ra mắt tại Cà Phê Lọ Lem, 345 Nguyễn Trọng Tuyển, Q. Tân Bình, TpSG. 9:00AM, Chủ Nhật 26-5-2019.