DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,342,621

Đỗ Hoàng Diệu - Tướng không về hưu!

Thursday, July 4, 20195:18 AM(View: 1478)
Đỗ Hoàng Diệu - Tướng không về hưu!

Tướng không về hưu!

Image result for nhà văn nguyỠn huy thiệp
nhà văn nguyễn huy thiệp

Năm ngoái, từ bên kia bán cầu, nơi mà quê hương chỉ hiện diện trong những chiếc bóng mờ, giữa không gian của đêm và không khí của ma, tôi đọc tin một con chó ngoạm xác hài nhi chạy nhong nhong trên đường làng ngoại ô Hà Đông. Ngay lập tức, ông tướng về hưu xuất hiện đuổi theo con chó. Hà Đông không xa Khương Trung, không xa làng Cò, quê Nguyễn Huy Thiệp. Không xa cái đơn vị hành chính ghi là phố nhưng lại sinh hoạt làng trong truyện Nguyễn Huy Thiệp. Ông tướng về hưu ba mươi hai năm trước đã chết lặng khi nhìn thấy mấy ngón tay hồng hồng nhỏ tí trong nồi thức ăn chó dưới nhà ngang. Giờ đây, bác sĩ Thuỷ không cần dặn ông Cơ cô Lài giấu diếm bố chồng, bởi không chỉ con chó ngây thơ vô tội cắp thai nhi chạy hoang, ngay cả con người cũng thản nhiên vứt bỏ, đánh đập, ăn thịt chính huyết thống của mình. Nhà máy rác Cần Thơ phát hiện hơn 300 xác thai nhi trong bảy năm, nghe đã rùng mình. Nghĩ tới bàn tay ai đó đã ném những hài nhi bé bỏng ấy vào túi rác, càng rùng mình hơn. Suy cho cùng, trên hành tinh này, không giống loài nào độc ác bằng loài người.

Ông tướng của Nguyễn Huy Thiệp nếu sống đến giờ, sẽ không chỉ buồn không chỉ bất lực, thể nào cũng phẫn uất sinh nhồi máu cơ tim. Những năm tám mươi, ông còn có thể “bỏ chạy” khỏi xã hội nhiễu nhương, quay về chiến trường, chiến đấu với kẻ thù. Giờ thù đã thành bạn, bạn chót lưỡi đầu môi, bạn đâm bị thóc chọc bị gạo nhưng thỉnh thoảng nắm tay nhau dự tiệc nhân dân nên luôn luôn tốt. Ông tướng có muốn cũng khó tìm ra một chiến trường thực sự, chiến trường của sức mạnh, niềm tin, chiến trường vì nước vì dân. Cái chết của ông trên miền miên viễn, dưới đạn pháo kẻ thù, giải thoát ông khỏi hiện tại xa lạ, khỏi tương lai còn khủng khiếp hơn nhiều.


clip_image004



Ba mươi hai năm trước, người Việt lành hơn, xã hội ổn định hơn nay? Không! Chỉ là ba hai năm trước, chưa có Google, Facebook, Youtube, báo điện tử. Và rất ít nhà văn dám xông thẳng vào “mảnh đất lắm người nhiều ma”, dám “bước qua lời nguyền”, bước đi “bên kia bờ ảo vọng” mà rên lên “nỗi buồn chiến tranh”.

Năm 1987, sau đám tang mẹ, giữa “tình hình đất nước bấy giờ khá thê thảm”, trong những ngày trời nhàn nhạt, âm thầm ngồi thấm nỗi đau mất mát, Nguyễn Huy Thiệp viết “Tướng Về Hưu”. Nhà văn kể đám tang mẹ ông diễn ra giống hệt đám tang vợ ông tướng trong truyện. Không khí chậm nẫu, người chết nhắm mắt hưởng thụ bình an, người sống khóc lóc đấm ngực tự trách. Nguyễn Huy Thiệp cho rằng mình đã đưa được “đạo” vào truyện. Tôi thì nghĩ linh hồn người mẹ ông thương yêu đã cầm tay dẫn ông vào vùng bản ngã – ý thức – tài năng – bóng tối – ánh sáng chốt kín cửa trong con người ông mà bấy lâu ông lảng tránh, ông chối từ hoặc không biết đường đi.

Mở khóa cửa, ông “bước qua lời nguyền”, điềm tĩnh ngồi xuống, kể chuyện ông tướng từng anh dũng đi qua “đường ra trận mùa này đẹp lắm” nay lạc lõng giữa thời bình, bắt đầu nhen nhóm hoài nghi về cái đẹp con đường mình đã hành quân – xung phong – chiến đấu.

Chuyện cô con dâu bác sĩ phụ sản mang những bọc thai nhi về nhà nấu cho chó lợn ăn. Chuyện cha con người giúp việc ngây ngô, tình nghĩa… Và chuyện chính mình, nhân vật tôi hèn hèn, yếu yếu, thụ động, bất lực, trầm mình trong vũng lầy trí thức trốn biển hồ thực tế quẫy sóng ngày đêm. Tưởng chỉ là chuyện gia đình, chuyện thường nhật. Nhưng tác giả đã tạo nên một con sóng lớn, chồm qua kho tàng văn học minh họạ, đập vào bờ hiện thực không “phải đạo”, đập vào ghềnh lương tri, thức tỉnh sự thật. Cú “bước qua lời nguyền” của Nguyễn Huy Thiệp khiến cuộc đời ông sang trang, mang đến cả vinh quang lẫn cay đắng. Một truyện ngắn cũng có số phận như con người. Lá số tử vi của “Tướng Về Hưu” đầy hoa nở cùng lít nhít sâu độc.


Tôi đọc “Tướng Về Hưu” lần đầu năm 1991, khi còn là nữ sinh trung học. Trước đó đã đọc Những ngọn gió Hua Tát, bị ám ảnh suốt nhiều tháng. Nên “Tướng Về Hưu” không làm tôi ngạc nhiên. Vì người đã viết “Những ngọn gió Hua Tát”, sẽ không bao giờ kể chuyện nhạt, chuyện thoảng qua, chuyện đọc rồi quên. Không ngạc nhiên nhưng tôi sốc trước cách kể đanh, lạnh, giống hạt nhân gai cứng nằm gọn giữa bột mềm nhân ái. Ăn chiếc bánh, đứa trẻ mười lăm vừa cảm nhận vị ngọt vừa có cảm giác vỡ toác đầu bởi hơi cay xộc thẳng lên não. Não mở ra, tôi nhìn những gương mặt quanh mình bằng cái nhìn sâu hơn. Nhìn cô T. ngây ngô hay bắt chuồn chuồn trước cổng nhà dịu dàng hơn. Nhìn ông chú họ cựu chiến binh cổ lỗ sĩ trìu mến hơn, tự hỏi không biết ông ấy có còn nghĩ “đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Nhìn xuống chân mình, thấy con đường trưởng thành, con đường làm người phía trước thật lắm gian nan.

Thú thực “Tướng Về Hưu” không nằm trong số những truyện Nguyễn Huy Thiệp mà tôi thích nhất. Với tôi, “Con Gái Thủy Thần”, “Không Có Vua”, “Những Người Thợ Xẻ”, “Thương Nhớ Đồng Quê” mới là đỉnh cao của ông. “Tướng Về Hưu” hoàn toàn hiện thực, không có phép thuật văn chương ma mị, huyền hoặc. Nhưng có sao, bao nhiêu năm trôi qua, truyện ngắn “Đôi Mắt” của nhà văn hiện thực phê phán Nam Cao vẫn là tượng đài sừng sững. Dù Nguyễn Huy Thiệp kể chuyện hiện thực theo cách cũ nhưng truyện ông luôn mới, ba mươi hai năm trước, bây giờ hay mai sau. Bởi giọng điệu riêng biệt, bởi thế võ bí truyền chỉ mình ông biết dụng. Ông hay nói về đạo trong văn. Đạo của ông không thờ Phật hay Chúa. Theo tôi hiểu, đạo Nguyễn Huy Thiệp là đạo đời, “con đường tự nhiên, con đường thoát hiểm, con đường sống sót, con đường hy vọng.” Ông tướng về hưu có đạo của mình, đạo hy sinh. Con dâu ông theo đạo tiền. Con trai lùng nhùng giữa đạo hèn trí thức. Cô Lài ngây ngô hát lời kinh thật thà. Họ vây quanh Nguyễn Huy Thiệp, giằng xé ông, đòi giác ngộ.

Giác ngộ? Tôi không biết bản thân Nguyễn Huy Thiệp giác ngộ đạo đời đến đâu, nhưng độc giả của ông, nhiều người đã thức tỉnh. “Tướng Về Hưu” mải miết đập vào ghềnh lương tri, suốt ba mươi hai năm, giờ vẫn đập đâu đó.

Mấy chục năm, ông tướng của Nguyễn Huy Thiệp hy sinh rồi, nhưng chưa nghỉ hưu. Ông luôn ở đó, song hành cùng hiện thực xã hội, bật mã số liên tưởng trong não bộ những người đồng đạo.


Đỗ Hoàng Diệu
(từ: damau.org)


clip_image006
ĐHD, Ohio, tháng 5-2019

Từ trái: Nguyễn Hữu Hồng Minh, Cổ Ngư và Đỗ Hoàng Diệu


(*) tranh Marcelino Trương

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, August 8, 202011:05 AM(View: 55)
Khoảng 2 giờ chiều, vị sĩ quan coi chúng tôi 2 tuần nay, đến phòng và nói lớn: - Các anh chuẩn bị, tất cả gọn gàng quân trang quân dụng, 30 phút sau các anh ra sân tập họp và di chuyển lên phi trường Đà Nẵng, để vào Sài Gòn, đến nhập trại Nguyễn Tri Phương. Các anh sẽ thụ huấn quân sự 9 tuần, giai đoạn tân binh. Các anh nhớ 30 phút nữa, tôi sẽ trở lại và đưa các anh đi. Tất cả bọn chúng tôi đều hô to, tuân lệnh, rồi ai cũng nhảy xuống giường, lo sắp xếp mền, mùng, quân trang quân dụng. Tôi bỏ tất cả tư trang cá nhân vào cái xách marin, rồi ngồi tại giường của mình, đợi viên sĩ quan tới đưa đi. Thời gian đi qua thật chậm, tôi bèn kệ nệ xách cái xách morin, tới ngồi bên giường của Trần Thanh Ng. Trong lúc Ng. cũng vừa thu xếp đồ đạc xong. Tôi nói: - Vào Quang Trung, tôi với bạn nằm gần giường nghe. Ng: - Không biết vào trong đó họ có sắp cho mình nằm gần không? Sợ họ phân chia theo vần A, B, C quá. Tôi nói: - Nếu mình không nằm gần, thì cùng trung đội, hay cùng phòng cũng được.
Monday, August 3, 20205:04 PM(View: 203)
Tôi mang cái túi xách trên vai, nhẹ hèo. Bước khỏi chiếc xe vespa của anh Tôn. Chiếc xe kềnh càng, to đùng, nhưng chạy máy êm re. Anh Tôn làm việc ở nhà máy điện Quảng Ngãi, nay mới đổi về làm tại Đà Nẵng được khoảng một năm. Anh có nhà cửa đàng hoàng, vợ con bảy, tám đứa, nhưng anh sống rất bạt mạng, nhậu nhẹt lu bù. Tuy vậy, anh là người làm ra tiền, quảng đại, hào sảng. Tôi nói với anh Tôn: - Thôi em đi nghe anh Tôn. Cảm ơn anh đã giúp em, hồi hôm nhậu với anh một bữa đáng đời. Vui quá. Anh Tôn nói nhỏ bên tai tôi: - Thôi em đi vào đi. Khi nào được phép ra chơi, nhớ ghé nhà anh, đừng ngại gì hết, nhé. Em nhớ địa chỉ, đi xe ôm có mấy chục bạc. Tôi dạ nhỏ rồi bước vào chỗ bên phải cánh cổng của Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, có chòi canh với người lính gác đứng bên trong. Tôi lục túi lấy cái Thẻ Căn Cước và cái Sự Vụ Lệnh, cầm tay. Rồi đến gần nói với người lính gác: - Thưa anh, tôi có Sự Vụ Lệnh vào trình diện ở đây. Xin anh cho vào. Người lính gác đưa tay cầm lấy 2 tờ
Thursday, July 30, 20203:33 PM(View: 321)
Nói đến lính là nói đến sự cơ cực, nhọc nhằn, luôn luôn chạm mặt với cái chết, hoặc đỡ hơn thì bị thương, bỏ một phần thân xác nơi chiến trường...như bản nhạc "Ngày trở về" của Phạm Duy: "Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre nắng vàng hoe..." và "Ngày trở về, có anh thương binh chống nạng cày bừa...". Lứa tuổi của chúng tôi trong khoảng thời gian thập niên 60, 70...thì miền nam không còn bình yên nữa, mà đúng là thời đại chiến tranh, nhất là dịp sau Tết Mậu Thân, 1968. Tôi nhớ, khoảng tháng 5/68, tôi đã nộp đơn thi vào cả 2 nơi: Trường Võ Bị Quốc Gia, khóa 25. Và trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Khóa 2. Tất cả 2 trường đều tổ chức thi (hình như) tại trường Kỹ Thuật, Đà Nẵng. Đà Nẵng, nơi tôi đến chỉ có 2 lần. Lần thi tú tài 1 và lần thi tú tài 2. Tôi không có bà con thân thiết ở Đà Nẵng. Hai lần thi tú tài 1 và 2, tôi đi (ăn) theo một người bạn học cùng lớp. Bạn tôi dẫn tôi ra cùng ở trọ nhà một người bà con của bạn ấy, ở đâu khoảng khu đường rầy
Saturday, July 25, 20207:28 AM(View: 405)
Đó cũng là những ngày Tết Mậu Thân, 1968. Tết Mậu Thân, tôi vê Tam Kỳ ăn Tết với cha mẹ. Lúc này cha mẹ tôi đã tản cư từ Quán Rường xuống Tam Kỳ. Cha mẹ xin dượng Liệu, một người bà con xa với mẹ tôi, một khoảnh đất nhỏ sau vườn nhà dượng, cùng cậu Tiến (em trai mẹ) làm cái nhà tranh nhỏ để có chỗ tạm trú cho gia đình. Cái nhà nhỏ làm chung, nhưng chia làm hai, bằng tấm vách là tấm cót tre. Cậu Tiến tôi lúc này đang làm xã trưởng xã Kỳ Mỹ, nên buổi sáng cậu về quê làm việc, buổi tối, cậu và các con trai cậu về đây ngủ. Tết Mậu Thân, tôi về ở đây, và trong đêm mùng một, nghe đạn bắn tứ tung, từ tiểu khu Quảng Tín, từ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 6 BB, không biết địch tấn công ở đâu, mà từ nhà cha mẹ tôi, đạn bắn gần như sát sạt. Mẹ tôi hoảng quá, ra ngoài chạy lung tung, khiến tôi sợ quá, phải ra dẫn mẹ tôi vô nhà. Lúc đó tôi thấy chiến tranh thật quá gần kề. Cũng nửa tháng sau, tôi vào lại Quảng Ngãi định để thăm trường cũ. Tôi chưa vào Mộ Đức, vì tình hình trong đó nghe nói còn
Wednesday, July 22, 20206:35 AM(View: 481)
Không biết chữ "lính lác" có từ bao giờ? Có lẽ sau ngày 30 tháng tư bảy lăm. Thời gian đi qua lâu quá, tôi cũng không còn nhớ nổi. Chữ "lính lác" - lính là người gia nhập trong quân đội, lính bắc việt gọi là bộ đội. "Lác" theo tiếng bắc là bệnh hắc lào, theo tiếng miền nam, miền trung, là bị bịnh ngứa nổi lên như đồng tiền. Từ này dùng chỉ những anh lính lội rừng, lội núi, qua truông, qua khe, tháng này qua tháng khác, có lúc không có nước tắm rửa nên bị bịnh "lác". Từ này cũng nói lên với tính cách vui cười là, lính nghèo, lính cực khổ trăm bề, nên lính bị "lác". Tôi dùng từ này với tính cách vui cười, không chê bai hay làm xấu người lính. Chuyện lính thì trăm hình vạn trạng (lính miền nam hay bộ đội miền bắc...). Ý của tôi trong hồi ức này là muốn nói đến lính miền Nam, nơi tôi đã tham gia ở đó hơn bảy năm, từ ngày trình diện nhập ngũ (23-10-1968) đến ngày miền nam tan hàng, quân đội cũng tan theo (30-4-1975). Tôi đi lính ngày 23 tháng 10 năm 1968. Một buổi chiều từ Tam Kỳ chạy