DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,821,808

Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975: Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất Thủ - Vương Hồng Anh

30 Tháng Mười Một 201112:00 SA(Xem: 9129)
Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975: Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất Thủ - Vương Hồng Anh
Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975:

Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất

Thủ


 

cao

   ĐT Cao Văn Viên
 



Vào ngày 10/3/1975, CSBV đã điều động 3 sư đoàn chính quy tấn công cường tập vào
Ban Mê Thuôt-tỉnh lỵ Daralac và các căn cứ, doanh trại quân sự quanh vòng đai thị xã. Sau hai
ngày kịch chiến với CQ, trước hỏa lực mạnh và áp lực về quân số của đối phương, một
số đơn vị đã rút ra khỏi vị trí phòng ngự để tái phối trí lựcng. Riêng Bộ Tư lệnh Mặt
trận Ban Mê Thuột đặt tại bản doanh Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh đã bị CQ huy
động một lực lượng tấn công cường tập. Một sự kiện "định mệnh" đã xảy ra với lực
lượng trú phòng: sáng ngày 11/3/1975, trong một phi tuần oanh kích CQ, oanh tạc cơ
của Không quân đã ném nhầm hai trái bom 500 cân Anh rơi trúng vào trung tâm hành
quân TOT. Trước tình thế đó, Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 bộ binh
kiêm Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột, và Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng kiêm
Tiểu khu trưởng Darlac, đã cho lệnh lực lượng trú phòng mở đường máu quân vượt ra
khỏi phòng tuyến và di chuyển về hướng Tây ở khu suối Bà Hoàng, cách bộ Tư lệnh
Sư đoàn 250 thước. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 và Quân khu 2 đã mất liên lạc với Đại tá
Quang và Đại tá Luật từ lúc 11 giờ 50 phút ngày 11/3/1975.

Sau đây là tình hình Quân khu 2 sau khi Ban Mê Thuột thất thủ.

Phần này được biên soạn dựa theo các tài liệu sau đây: hồi ký của Đại tướng Cao Văn
Viên viết cho Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, dịch giả Duy Nguyên chuyển sang
Việt ngữ và đồng ý cho sử dụng để biên soạn các bài tổng hợp về cuộc chiến VN; nhật
ký của Thiếu tá Phạm Huấn, nguyên Sĩ quan Báo chí của Tư lệnh Quân đoàn 2 được
tác giả phổ biến trong cuốn "Cuộc triệt thoái Cao nguyên" 1975.

* Cuộc đổ quân của Sư đoàn 23 BB tiếp cứu Ban Mê Thuột


Ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú quyết định tổ chức cuộc đổ quân

tăng viện để tái chiếm Ban Mê Thuột. Lực lượng tăng viện chính là Trung đoàn 45 BB
và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 BB đang phòng ngự tại Pleiku. Về
phía Không quân VNCH, tham gia cuộc đổ quân ngoài các phi đoàn của Sư đoàn 6
Không quân mà Bộ Tư lệnh đặt tại Pleiku còn có các phi đoàn trực thăng của Sư đoàn
1 Không quân (Đà Nẵng) và Sư đoàn 4 Không quân (Cần Thơ), với hơn 100 trực thăng
đủ loại kể cả các loại Chinook.
 
Theo kế hoạch đổ quân, hai tiểu đoàn của trung đoàn 45 BB và đại đội Trinh sát Sư
đoàn 23BB được trực thăng vận trước tiên. Cánh quân được trực thăng vận đầu tiên
này do Trung tá Quang, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 45 chỉ huỵ Một hình ảnh đặc
biệt đã tạo sư chú ý của các phóng viên chiến trường là trong đợt đổ quân này là có cả
người vợ của Trung tá Quang tham gia. Bà Quang, trong quân phục tác chiến, vai đeo
ba lô, nón sắt, mang súng lục và lựu đạn, đã trả lời các câu hỏi của các phóng viên báo
chí, phát thanh và truyền hình. Bà cho biết các con của bà và gia đình của quân nhân
Trung đoàn 45 đang bị kẹt trong thị xã Ban Mê Thuột. Bà muốn được theo chồng nhảy
xuống trận địa và để cùng với quân sĩ trung đoàn 45 bộ binh chiến đấu tái chiếm lại Ban Mê Thuột.

* Câu chuyện giữa Tư lệnh Quân đoàn 2 Phạm Văn Phú và quân nhân Trung đoàn 53

BB


1 giờ 10 trưa ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phú rời bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đến

Ban Mê Thuột trên một chiếc phi cơ nhỏ U 17 để trực tiếp điều quân. Tới Ban Mê Thuột
vào khoảng 2 giờ chiều, tướng Phú đã liên lạc với các đơn vị trưởng của các đơn vị đang chiến đấu ở
quanh Ban Mê Thuột như Trung đoàn 53 BB ở phi trường Phụng Dực, Liên đoàn 21
Biệt Động Quân, các tiểu đoàn Địa phương quân Darlac. Cùng nhảy theo cánh quân
cứu viện còn có Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 của bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, được
Thiếu tướng Phú chỉ định giữ chức vụ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Darlac thay thế
Đại tá Luật được ghi nhận là mất tích. Cùng đi theo Đại tá Tiếu, còn có Bộ Chỉ huy lưu
động của Tiểu khu Darlac vừa thành lập.
 
Khi bay ngang phi trường Phụng Dực, qua máy truyền tin liên lạc Không-Lục, Tướng
Phú nói với Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng trung đoàn 53 BB: "Chú mày và anh em
ráng cố gắng đừng mất tinh thần. Quân tiếp viện đang được đổ xuống". Trung tá Ân trả lời: Xin Mặt Trời yên tâm.
Dù đã bị thiệt hại khá nhiều nhưng chúng tôi vẫn vững tinh thần chiến đấụ Tướng Phú
hỏi tiếp: Chú mày muốn gì đặc biệt không ? Đồ hộp ? Thuốc lá ? Trung tá Ân nói: Dạ
không, nhưng uổng quá, sao Mặt trời không bay trực thăng hôm naỷ Tướng Phú hỏi lại: Tại sao chú mày hỏi như vậy?
Trung tá Ân vui vẻ nói: Nếu mặt trời bay trực thăng, tôi mời Mặt trời đáp xuống thăm
khu triển lãm chiến lợi phẩm của trung đoàn ở Phòng khách Danh dự Phi cảng. Trong
số những vũ khí tịch thu được, có cả loại hỏa tiễn SA-7 mới tinh nữa...Tướng Phú cười:
Ý kiến hay đấy, lần sau tôi sẽ bay trực thăng để có thể xuống thăm anh em.
Sau đó, Tướng Phú yêu cầu Trung tá Ân chuyển máy để ông nói chuyện với một binh
nhì nhỏ tuổi nhất của trung đoàn. Trung tá Ân giới thiệu với Tướng Phú một binh nhì tên
là Nguyễn Văn Bảy, 18 tuổi, xạ thủ súng cối 81 lỵ Sau đây là đoạn đối thoại giữ tướng Phú và binh nhì
Bảy: Em thấy Việt Cộng chết nhiều không?-Nhiều, nhiều lắm... Thiếu tướng; Em muốn
xin thiếu tướng gì nào ?- Xin thuốc hút, và lựu đạn; Gì nữa ? Binh nhì Bảy ngập ngừng
rồi trả lời: Chừng đó đủ rồi, Thiếu tướng;
Thiếu tướng thăng cấp cho em lên binh nhất chịu không ? Binh nhì Bảy lại ngập ngừng
quay sang nói với Trung tá Ân: Ông Thầy ơi ! Ông Tướng tặng tôi cánh gà chiên bơ
(cấp hiệu binh nhất có hình chử V màu vàng; Ông Thầy là tiếng thân mật mà anh em binh sĩ thường dùng để
gọi cấp chỉ huy).

* Kế hoạch đổ quân và tái phối trí lực lượng của Sư đoàn 23BB

Trở lại với cuộc đổ quân, trưa ngày 12/3/1975, các phản lực cơ và khu trục cơ của
Không quân VNCH tiếp tục bay tới đánh bom để yểm trợ cho các đơn vị tham chiến ở
dướị Dân chúng trong thị
xã nghe tin quân tăng viện đã đến Phước An đã tìm cách băng rừng chạy về phía quận
này và Khánh Dương.
Sau khi hoàn tất việc điều động đợt đổ quân đầu tiên, Tướng Phú giao trách nhiệm chỉ
huy trực tiếp các cánh quân tái chiếm Ban Mê Thuột cho Chuẩn tướng Lê Trung
Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 BB, và ông đã trở lại Pleikụ Ông được tin là Tổng thống
Thiệu đã gọi lên Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 lúc 2 giờ chiều khi ông đang bay chỉ huy trên
không phận Ban Mê Thuột. Tướng Phú đã báo cáo tình hình cho Tổng thống Thiệu biết
và ông cũng đã bày tỏ sự lo ngại về sự có mặt của sư đoàn 316 Cộng quân tại chiến
trường Cao nguyên. Tại Phước An, Chuẩn tướng Trường ra lệnh cho Trung đoàn 53
BB và thành phần hậu cứ trung đoàn 44 Bộ binh (khoảng hơn 100 người) tại khu vực phi trường Phụng Dực bỏ
tuyến phòng thủ, di chuyển về hướng Phước An để cùng với Trung đoàn 44 và 45 BB
tập trung lực lượng chiến đấu với các đơn vị Cộng quân.
Chiều ngày 12 tháng 3/1998, cùng lúc gia tăng áp lực tại chiến trường Ban Mê Thuột,
thì tại Pleiku, từ những đỉnh cao phía Tây Bắc của thị xã này, Cộng quân đã pháo kích
bằng hỏa tiển vào phi trường quân sự Cù Hanh và bộ Tư lệnh Quân đoàn 2. Một binh sĩ tài xế đang ở gần
cột cờ bộ Tư lệnh đã trúng đạn pháo kích và bị tử thương.
* Những quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện
Khiêm và Đại tướng Cao Văn Viên về tình hình Ban Mê Thuột
Ngay sau khi Cộng quân khởi sự tấn công Ban Mê Thuột, liên tiếp trong 3 ngày 10, 11
và 12/3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú đã nhận nhiều lệnh của Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu, Thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên. Người đầu tiên
điện thoại hỏi tình hình là Đại tướng Viên (7 giờ sáng ngày 10/3/1975), tiếp đến Thủ
tướng Khiêm từ Đà Lạt gọi lức 8 giờ 40, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi lúc 10 giờ
10 và 19 giờ tối; trong ngày 11 tháng 3/1195, lúc 15 giờ 30, Đại tướng Cao Văn Viên
gọi điện thoại ra lệnh cho Thiếu tướng Phú "bốc" ngay Chuẩn tướng Lê Trung Tường,
Tư lệnh Sư đoàn 23BB, đang chỉ huy mặt trận Nam Pleiku "thả" xuống Ban Mê Thuột
để chỉ huy các cánh quân.
Sau đó, vào lúc 5 giờ chiều, Tổng thống Thiệu gọi lên Pleiku để nghe Thiếu tướng Phú
báo cáo tình hình. Trong lần gọi vào 11 giờ đêm, Tổng thống Thiệu ra lệnh cho Tướng
Phú với nội dung như sau: Linh động trong mọi trường hợp. Không nên dồn hết quân
cho Mặt trận Ban Mê Thuột; Tư lệnh Quân đoàn được toàn quyền quyết định, có thể bỏ
Ban-Mê Thuột. Cần phải tránh sa lầy vì có thể địch sẽ mở hai, ba mặt trận lớn nữa tại
Quân khu 2; Tường trình chính xác về các sư đoàn CSBV hiện đang tham chiến
tại Ban Mê Thuột; Tỉnh trưởng Darlac đại tá Nguyễn Trọng Luật xem như mất tích.
Chấp thuận đề nghị của Tư lệnh Quân đoàn cho "thả" một tỉnh trưởng (đại tá Trịnh Tiếu
- trưởng phòng 2 Quân Đoàn 2) khác xuống khu vực có dân và có quân tập trung để chỉ huy: Lập tòa Hành chánh và Bộ Chỉ huy Tiểu khu Darlac lưu động.
 
 
VHA 
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Mười 20188:03 SA(Xem: 22)
Trong clip thâu âm Nguyễn Quốc Chánh đọc thơ của mình, thực sự, ta có thể nghe những âm thanh của một thành phố: tiếng vù vù của những chiếc xe máy lướt trên đại lộ, tiếng còi sốt ruột của những chiếc taxi đang cố gắng luồn lách qua đoạn đường ùn tắc, một giọng nói mạnh mẽ, dứt khoát vang lên giữa đám đông vừa kết tụ lại đồng thời vừa tản mát ra như một đám mây đơn lẻ. Đối với tôi, đấy chính là âm thanh của thành phố Hồ Chí Minh. Độ rỗng của căn phòng nhiều tiếng vang nơi thâu âm bài thơ có thể được cảm nhận rất rõ ngay từ giữa dòng thơ thứ ba ở bài thơ đầu tiên trong tập thơ được xuất bản dưới hình thức samizdat của Chánh – Ê, Tao Đây (2005): “Sài Gòn bị thủng, cái xác chưa chôn, thủ đô lún mỗi ngày vài phân, chính trị cũng nên cổ phần… Ký sinh vào thuật giả kim là đám chữ ruồi bu… Bí mật quốc gia là những bữa tiệc trên vận may của hoa anh túc, làm người nghĩa là nhục, làm người Việt nghĩa là siêu nhục… Một người rao trên mạng: cần một đối tác tình dục có ý tưởng và hành vi
10 Tháng Mười 20188:40 CH(Xem: 157)
Thí dụ cụ thể như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn, nhân vật chính là một nhà giáo trẻ muốn lấy một cô gái có chồng ở lại ngoài Bắc, xin phép cha xứ, cha không cho, đành chịu. Yêu cô khác vậy…Trai ngoại đạo lỡ yêu phải một cô gái công giáo, kể như tình yêu sẽ lỡ dở, trừ phi theo giải pháp xoay xở mà ca dao đã diễn tả: “Tôi quì lạy Chúa trên trời, Tôi lấy được vợ tôi thôi Nhà Thờ”. Nhà văn/nhà thơ đâu có đóng kịch, giả trá như vậy được, nên thường chỉ có một cách rời bỏ xóm đạo ra đi, sống trà trộn với dân vô đạo tà đạo bên ngoài, hay bằng cách kêu ầm lên như ở Âu châu một thời nào đó, là “Chúa đã chết rồi, chúng tôi tự do”, hay tối thiểu cũng bằng cách thôi không đến nhà thờ nữa, thôi giữ đạo trong mọi sinh hoạt thường nhật. Nhưng bỏ đạo công khai, đối với mọi cộng đồng giáo dân, là truyện to lớn, không mấy người muốn làm và làm được. Bởi thế cách hay nhất vẫn là giữ im lặng, tìm cách ra khỏi xóm đạo một cách nhẹ nhàng, như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn,
08 Tháng Mười 20189:35 SA(Xem: 109)
Mấy ngày nay dân làng Hoa Đào xôn xao về lễ tang ông Đại Vĩ. Ngôi làng trồng hoa ven đô tỉnh H, nằm bên vệ hồ Đông yên bình thơ mộng bỗng nhiên ồn ào huyên náo khác thường. Dòng người sang trọng từ các nơi về phúng viếng đông như kiến cỏ. Xe ô tô đời mới đủ loại, đắt tiền bạc tỷ cứ nối đuôi nhau xếp hàng trước cổng làng dài hàng cây số. Đường làng bay rợp cờ phướn màu vàng, ở giữa thêu quẻ Thuần Càn, ý nói người quá cố vĩnh biệt thế giới này vào giờ đại cát sẽ để lại cho dân làng nhiều điều may mắn, phúc lộc dồi dào. Làng Hoa Đào xưa có tên nôm là làng Kình. Chữ Kình có nghĩa là chống đối nên trong các loại đào thế, người chơi hoa cây cảnh làng Kình công phu tìm cho được cây đào có thế Kình thiên độc trụ đắt mấy cũng mua, để tưởng nhớ và tôn vinh truyền thống bất khuất của làng bao đời nay. Thời nào gặp buổi vận nước suy vi, kỷ cương băng hoại trong làng đều xuất hiện một bậc hào kiệt lãnh đạo dân làng nổi lên đấu tranh chống lại cường quyền ác bá. Ngay trong tổng, có ngôi làng lớn
05 Tháng Mười 20187:50 CH(Xem: 118)
Ông về hưu với quân hàm bốn sao một gạch. Đại uý Thoả như thế nghỉ hưu đã lâu. Suốt hai mươi lăm năm trong bộ đội, ông mãn nguyện với “ve áo” đó. Là mẫu người chất phác, trong sạch, ông đã phục vụ trong ngành hậu cần, nhưng bàn tay không bị dính bẩn, ông vẫn tự hào về điều ấy. Bà vợ khen ông là hiền lành tròn trịa, không mất lòng ai. Nhưng có lúc bà chê “Hiền quá hoá đần”. Nhà cửa tiện nghi đồ đạc trong nhà vẫn tềnh toàng cổ lổ. Toàn những thứ sắm từ những năm sáu mươi. Ông sống giản dị, nhiều khi quá quê mùa. Ông không bao giờ mặc quần áo may bằng sợi tổng hợp (đa-công, pô-li-ét-tơ). Ăn uống thế nào xong thôi, không uống rượu, không mê một món gì khác. Bà Thoả là dân gốc Thái Bình, thường bị chê là dân Thái “Lọ”. Năm Ất Dậu chết đói đầy đường, do tội của Phát-Xít Nhật gây ra. Theo bố mẹ anh em lây lất kéo nhau lên Hà Nội kiếm ăn, cả nhà chết dần chết mòn, lê lết đến ga Hàng Cỏ thì chỉ còn một mình cái đĩ Tũn, là bà, sống sót. Bà không nhớ và không hiểu tại sao bà còn sống được.
28 Tháng Chín 20186:59 CH(Xem: 198)
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều người nổi tiếng đã lần lượt rời bỏ cuộc sống: nhạc sĩ Tô Hải, nhà báo Bùi Tín, cựu Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain, và gần đây nhứt là chủ tịch nước Trần Đại Quang. Mỗi cái chết đều tạo nên những phản ứng xã hội khác nhau, tùy theo góc nhìn. Trong truyện ngắn dưới đây của nhà văn Khuất Đẩu: Chôn đứng, người chết chỉ là một kẻ vô danh, bình thường. Điều không bình thường là bởi quá giàu, nên ông ta không cam chịu vô danh, phải có được cái danh mình muốn, bằng cách đi mua. Và không chỉ khoa trương trong lúc sống, ông ta còn nghĩ ra lắm chuyện cầu kỳ trong cái chết, buộc con cháu phải làm những việc kỳ quặc chưa ai từng làm… Tất nhiên, ông có thể sai khiến con cháu trong nhà bất cứ điều gì, nhưng lại không thể sai khiến thiên nhiên, trong đó có mưa bão, sấm sét…