DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,097,724

Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975: Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất Thủ - Vương Hồng Anh

Wednesday, November 30, 201112:00 AM(View: 9630)
Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975: Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất Thủ - Vương Hồng Anh
Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975:

Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất

Thủ


 

cao

   ĐT Cao Văn Viên
 



Vào ngày 10/3/1975, CSBV đã điều động 3 sư đoàn chính quy tấn công cường tập vào
Ban Mê Thuôt-tỉnh lỵ Daralac và các căn cứ, doanh trại quân sự quanh vòng đai thị xã. Sau hai
ngày kịch chiến với CQ, trước hỏa lực mạnh và áp lực về quân số của đối phương, một
số đơn vị đã rút ra khỏi vị trí phòng ngự để tái phối trí lựcng. Riêng Bộ Tư lệnh Mặt
trận Ban Mê Thuột đặt tại bản doanh Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh đã bị CQ huy
động một lực lượng tấn công cường tập. Một sự kiện "định mệnh" đã xảy ra với lực
lượng trú phòng: sáng ngày 11/3/1975, trong một phi tuần oanh kích CQ, oanh tạc cơ
của Không quân đã ném nhầm hai trái bom 500 cân Anh rơi trúng vào trung tâm hành
quân TOT. Trước tình thế đó, Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 bộ binh
kiêm Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột, và Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng kiêm
Tiểu khu trưởng Darlac, đã cho lệnh lực lượng trú phòng mở đường máu quân vượt ra
khỏi phòng tuyến và di chuyển về hướng Tây ở khu suối Bà Hoàng, cách bộ Tư lệnh
Sư đoàn 250 thước. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 và Quân khu 2 đã mất liên lạc với Đại tá
Quang và Đại tá Luật từ lúc 11 giờ 50 phút ngày 11/3/1975.

Sau đây là tình hình Quân khu 2 sau khi Ban Mê Thuột thất thủ.

Phần này được biên soạn dựa theo các tài liệu sau đây: hồi ký của Đại tướng Cao Văn
Viên viết cho Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, dịch giả Duy Nguyên chuyển sang
Việt ngữ và đồng ý cho sử dụng để biên soạn các bài tổng hợp về cuộc chiến VN; nhật
ký của Thiếu tá Phạm Huấn, nguyên Sĩ quan Báo chí của Tư lệnh Quân đoàn 2 được
tác giả phổ biến trong cuốn "Cuộc triệt thoái Cao nguyên" 1975.

* Cuộc đổ quân của Sư đoàn 23 BB tiếp cứu Ban Mê Thuột


Ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú quyết định tổ chức cuộc đổ quân

tăng viện để tái chiếm Ban Mê Thuột. Lực lượng tăng viện chính là Trung đoàn 45 BB
và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 BB đang phòng ngự tại Pleiku. Về
phía Không quân VNCH, tham gia cuộc đổ quân ngoài các phi đoàn của Sư đoàn 6
Không quân mà Bộ Tư lệnh đặt tại Pleiku còn có các phi đoàn trực thăng của Sư đoàn
1 Không quân (Đà Nẵng) và Sư đoàn 4 Không quân (Cần Thơ), với hơn 100 trực thăng
đủ loại kể cả các loại Chinook.
 
Theo kế hoạch đổ quân, hai tiểu đoàn của trung đoàn 45 BB và đại đội Trinh sát Sư
đoàn 23BB được trực thăng vận trước tiên. Cánh quân được trực thăng vận đầu tiên
này do Trung tá Quang, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 45 chỉ huỵ Một hình ảnh đặc
biệt đã tạo sư chú ý của các phóng viên chiến trường là trong đợt đổ quân này là có cả
người vợ của Trung tá Quang tham gia. Bà Quang, trong quân phục tác chiến, vai đeo
ba lô, nón sắt, mang súng lục và lựu đạn, đã trả lời các câu hỏi của các phóng viên báo
chí, phát thanh và truyền hình. Bà cho biết các con của bà và gia đình của quân nhân
Trung đoàn 45 đang bị kẹt trong thị xã Ban Mê Thuột. Bà muốn được theo chồng nhảy
xuống trận địa và để cùng với quân sĩ trung đoàn 45 bộ binh chiến đấu tái chiếm lại Ban Mê Thuột.

* Câu chuyện giữa Tư lệnh Quân đoàn 2 Phạm Văn Phú và quân nhân Trung đoàn 53

BB


1 giờ 10 trưa ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phú rời bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đến

Ban Mê Thuột trên một chiếc phi cơ nhỏ U 17 để trực tiếp điều quân. Tới Ban Mê Thuột
vào khoảng 2 giờ chiều, tướng Phú đã liên lạc với các đơn vị trưởng của các đơn vị đang chiến đấu ở
quanh Ban Mê Thuột như Trung đoàn 53 BB ở phi trường Phụng Dực, Liên đoàn 21
Biệt Động Quân, các tiểu đoàn Địa phương quân Darlac. Cùng nhảy theo cánh quân
cứu viện còn có Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 của bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, được
Thiếu tướng Phú chỉ định giữ chức vụ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Darlac thay thế
Đại tá Luật được ghi nhận là mất tích. Cùng đi theo Đại tá Tiếu, còn có Bộ Chỉ huy lưu
động của Tiểu khu Darlac vừa thành lập.
 
Khi bay ngang phi trường Phụng Dực, qua máy truyền tin liên lạc Không-Lục, Tướng
Phú nói với Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng trung đoàn 53 BB: "Chú mày và anh em
ráng cố gắng đừng mất tinh thần. Quân tiếp viện đang được đổ xuống". Trung tá Ân trả lời: Xin Mặt Trời yên tâm.
Dù đã bị thiệt hại khá nhiều nhưng chúng tôi vẫn vững tinh thần chiến đấụ Tướng Phú
hỏi tiếp: Chú mày muốn gì đặc biệt không ? Đồ hộp ? Thuốc lá ? Trung tá Ân nói: Dạ
không, nhưng uổng quá, sao Mặt trời không bay trực thăng hôm naỷ Tướng Phú hỏi lại: Tại sao chú mày hỏi như vậy?
Trung tá Ân vui vẻ nói: Nếu mặt trời bay trực thăng, tôi mời Mặt trời đáp xuống thăm
khu triển lãm chiến lợi phẩm của trung đoàn ở Phòng khách Danh dự Phi cảng. Trong
số những vũ khí tịch thu được, có cả loại hỏa tiễn SA-7 mới tinh nữa...Tướng Phú cười:
Ý kiến hay đấy, lần sau tôi sẽ bay trực thăng để có thể xuống thăm anh em.
Sau đó, Tướng Phú yêu cầu Trung tá Ân chuyển máy để ông nói chuyện với một binh
nhì nhỏ tuổi nhất của trung đoàn. Trung tá Ân giới thiệu với Tướng Phú một binh nhì tên
là Nguyễn Văn Bảy, 18 tuổi, xạ thủ súng cối 81 lỵ Sau đây là đoạn đối thoại giữ tướng Phú và binh nhì
Bảy: Em thấy Việt Cộng chết nhiều không?-Nhiều, nhiều lắm... Thiếu tướng; Em muốn
xin thiếu tướng gì nào ?- Xin thuốc hút, và lựu đạn; Gì nữa ? Binh nhì Bảy ngập ngừng
rồi trả lời: Chừng đó đủ rồi, Thiếu tướng;
Thiếu tướng thăng cấp cho em lên binh nhất chịu không ? Binh nhì Bảy lại ngập ngừng
quay sang nói với Trung tá Ân: Ông Thầy ơi ! Ông Tướng tặng tôi cánh gà chiên bơ
(cấp hiệu binh nhất có hình chử V màu vàng; Ông Thầy là tiếng thân mật mà anh em binh sĩ thường dùng để
gọi cấp chỉ huy).

* Kế hoạch đổ quân và tái phối trí lực lượng của Sư đoàn 23BB

Trở lại với cuộc đổ quân, trưa ngày 12/3/1975, các phản lực cơ và khu trục cơ của
Không quân VNCH tiếp tục bay tới đánh bom để yểm trợ cho các đơn vị tham chiến ở
dướị Dân chúng trong thị
xã nghe tin quân tăng viện đã đến Phước An đã tìm cách băng rừng chạy về phía quận
này và Khánh Dương.
Sau khi hoàn tất việc điều động đợt đổ quân đầu tiên, Tướng Phú giao trách nhiệm chỉ
huy trực tiếp các cánh quân tái chiếm Ban Mê Thuột cho Chuẩn tướng Lê Trung
Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 BB, và ông đã trở lại Pleikụ Ông được tin là Tổng thống
Thiệu đã gọi lên Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 lúc 2 giờ chiều khi ông đang bay chỉ huy trên
không phận Ban Mê Thuột. Tướng Phú đã báo cáo tình hình cho Tổng thống Thiệu biết
và ông cũng đã bày tỏ sự lo ngại về sự có mặt của sư đoàn 316 Cộng quân tại chiến
trường Cao nguyên. Tại Phước An, Chuẩn tướng Trường ra lệnh cho Trung đoàn 53
BB và thành phần hậu cứ trung đoàn 44 Bộ binh (khoảng hơn 100 người) tại khu vực phi trường Phụng Dực bỏ
tuyến phòng thủ, di chuyển về hướng Phước An để cùng với Trung đoàn 44 và 45 BB
tập trung lực lượng chiến đấu với các đơn vị Cộng quân.
Chiều ngày 12 tháng 3/1998, cùng lúc gia tăng áp lực tại chiến trường Ban Mê Thuột,
thì tại Pleiku, từ những đỉnh cao phía Tây Bắc của thị xã này, Cộng quân đã pháo kích
bằng hỏa tiển vào phi trường quân sự Cù Hanh và bộ Tư lệnh Quân đoàn 2. Một binh sĩ tài xế đang ở gần
cột cờ bộ Tư lệnh đã trúng đạn pháo kích và bị tử thương.
* Những quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện
Khiêm và Đại tướng Cao Văn Viên về tình hình Ban Mê Thuột
Ngay sau khi Cộng quân khởi sự tấn công Ban Mê Thuột, liên tiếp trong 3 ngày 10, 11
và 12/3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú đã nhận nhiều lệnh của Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu, Thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên. Người đầu tiên
điện thoại hỏi tình hình là Đại tướng Viên (7 giờ sáng ngày 10/3/1975), tiếp đến Thủ
tướng Khiêm từ Đà Lạt gọi lức 8 giờ 40, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi lúc 10 giờ
10 và 19 giờ tối; trong ngày 11 tháng 3/1195, lúc 15 giờ 30, Đại tướng Cao Văn Viên
gọi điện thoại ra lệnh cho Thiếu tướng Phú "bốc" ngay Chuẩn tướng Lê Trung Tường,
Tư lệnh Sư đoàn 23BB, đang chỉ huy mặt trận Nam Pleiku "thả" xuống Ban Mê Thuột
để chỉ huy các cánh quân.
Sau đó, vào lúc 5 giờ chiều, Tổng thống Thiệu gọi lên Pleiku để nghe Thiếu tướng Phú
báo cáo tình hình. Trong lần gọi vào 11 giờ đêm, Tổng thống Thiệu ra lệnh cho Tướng
Phú với nội dung như sau: Linh động trong mọi trường hợp. Không nên dồn hết quân
cho Mặt trận Ban Mê Thuột; Tư lệnh Quân đoàn được toàn quyền quyết định, có thể bỏ
Ban-Mê Thuột. Cần phải tránh sa lầy vì có thể địch sẽ mở hai, ba mặt trận lớn nữa tại
Quân khu 2; Tường trình chính xác về các sư đoàn CSBV hiện đang tham chiến
tại Ban Mê Thuột; Tỉnh trưởng Darlac đại tá Nguyễn Trọng Luật xem như mất tích.
Chấp thuận đề nghị của Tư lệnh Quân đoàn cho "thả" một tỉnh trưởng (đại tá Trịnh Tiếu
- trưởng phòng 2 Quân Đoàn 2) khác xuống khu vực có dân và có quân tập trung để chỉ huy: Lập tòa Hành chánh và Bộ Chỉ huy Tiểu khu Darlac lưu động.
 
 
VHA 
 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 20, 20192:51 PM(View: 24)
Trước hết, đừng quên nghị quyết của Ủy Ban Cochinchine vào tháng 5/1857. Theo tinh thần Nghị quyết này, Pháp cần biểu dương lực lượng ở Đại Nam, thiết lập một tân trào với nòng cốt là “các thày kẻ giảng, với sự ủng hộ của 600,000 giáo dân Ki-tô.”[1] Petrus Key rời Pinang vào năm 1858, trở lại Cái Mơn của Linh mục Borrelle (Giám mục Lefèbvre đang ở Chợ Quán), và chờ đợi để phục vụ “những nhà giải phóng được Thiên Chúa gửi xuống cứu độ giáo dân An Nam.” Vì Trung tá Jauréguiberry không tin tưởng GM Lefèbvre và từng lên án Lefèbvre phá hoại việc thương thuyết một hòa ước, nên Petrus Key chưa được trọng dụng ngay. Nhưng Petrus Key vẫn được làm thông ngôn ở Chợ Quán, với lương 20 đồng một tháng. Trong một phiếu trình lên Rigault de Genouilly, Jauréguiberry cho biết một thông ngôn tên “Petrus” phải uống thuốc quinine để chữa trị bệnh sốt rét, và ông ta định đưa “Petrus” ra Đà Nẵng để thẩm vấn các quan viên Việt bị Pháp bắt giữ. Tháng 6/1859, Petrus Key tháp tùng Linh mục Theophile
Tuesday, September 17, 20196:27 AM(View: 91)
Ngày hôm sau chúng tôi bay ra Đà Nẵng, thuê xe đi Hội An thăm Dinh phái 1 và Từ Đường phái 2 của dòng họ Nguyễn Tường, sau đó viếng nghĩa trang riêng của gia tộc. Đứng trước hàng bia mộ, nơi yên nghỉ của những người thân yêu, cảm giác này thật khó diễn tả! Cảm giác ấy vừa mơ hồ lại vừa cụ thể như phảng phất đâu đây cái kì bí giữa hai cõi âm dương. Sau hai ngày ở Đà Nẵng và Hội An chúng tôi ra Huế. Không khí ở đây có phần mát mẻ và tĩnh lặng hơn. Tôi tiếc là chưa có dịp đi đò trên sông Hương để nghe nhạc cung đình Huế. Đọc tác phẩm “Mưa trên cây sầu đông” của Nhã Ca, tôi định bụng ra Huế lần này sẽ coi thử “cây sầu đông” (còn gọi là “cây xoan”) xem nó ra thế nào, và tại sao người ta hay ví con gái đẹp với khuôn mặt trái soan? Vậy mà Huế đã vào đông rồi mà cây sầu đông tôi vẫn chưa có dịp nhìn thấy. Vì gia đình cháu Tường Anh chỉ có gần hai tuần lễ ở Việt Nam mà chương trình kéo dài từ Nam ra Bắc nên chúng tôi đến nơi nào cũng chỉ “cưỡi ngựa xem hoa” rồi lại vội vã lên đường đi
Thursday, September 12, 20198:46 AM(View: 225)
Đầu năm 1970, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Trần Quốc Lịch được thăng cấp Đại Tá Nhiệm Chức, chỉ huy các tiểu đoàn cơ hữu (TĐ 5, 7, 11) và các đơn vị tăng phái, thống thuộc hành quân trong giai đoạn 1970-1972. Tháng Chín, 1972, do công trận, chiến tích các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 2 thâu đoạt, Đại Tá Lịch được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thay thế Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng; 1 Tháng Mười Một, 1972, Đại Tá Lịch tiếp thăng cấp chuẩn tướng nhiệm chức; Tháng Bảy, 1973, Chuẩn Tướng Lịch được lệnh bàn giao Sư Đoàn 5 lại cho Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, tiếp giữ chức vụ chánh thanh tra Quân Đoàn IV/Quân Khu 4. Cuối năm 1974, Chuẩn Tướng Lịch bị câu lưu do tội danh tham nhũng, tạm giam tại Đề Lao Chí Hòa, buộc phải giải ngũ, giáng xuống cấp đại úy! Phiên tòa quân sự chính thức xét xử Đại Úy Trần Quốc Lịch về tội danh tham nhũng chưa thực hiện thì xẩy ra biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Vụ án Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch chìm khuất trong đại nạn nước mất nhà tan. Chẳng mấy ai trong, ngoài quân đội
Tuesday, September 10, 20198:45 PM(View: 118)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn. Thực chất, chúng ta biết rất ít về Petrus Key. Hầu hết chi tiết về gia đình
Wednesday, September 4, 201911:51 AM(View: 98)
Đến với nhau trong văn chương không phải là sự tình cờ. Và vì vậy, khi Nguyên Minh đến với thế giới chữ nghĩa là mang đến cả một niềm đam mê không biết mệt mỏi. 18 tuổi anh và bạn bè làm tờ Gió Mai ở Huế. Và từ đó đến nay anh có hơn 50 năm tuổi nghề, mặc dù có những lúc, thời gian đã chặn anh lại nửa đường. Nhưng thời gian mang những dấu ấn lịch sử kia đã không thể trói tay chân, đầu óc anh. Hết Gió Mai, ở Phan Rang anh lại cùng Ngy Hữu và bạn bè ra tờ Ý Thức, tờ báo in ronéo đẹp nhất Miền Nam thời bấy giờ và cũng tập trung đông đảo người viết trẻ nhất. Cả cuộc đời Nguyên Minh không thể thiếu mùi mực in, mùi giấy và kim chỉ. Vắng chúng chừng như anh không thể nào sống nổi thêm giây phút nào nữa, như một Trần Hoài Thư ở New Jersey vừa khâu sách trên bàn ăn tối vừa tiếp bạn xa! Thời in ronéo chấm dứt, có lúc Nguyên Minh thẫn thờ như kẻ mất hồn giữa thị trấn tràn gió và cát bay. Anh quyết định bỏ Phan Rang, chốn quê nhà yêu dấu của mình, vào Sài Gòn để làm một điều gì đó cho văn chương,