DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,707,448

Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975: Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất Thủ - Vương Hồng Anh

30 Tháng Mười Một 201112:00 SA(Xem: 8787)
Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975: Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất Thủ - Vương Hồng Anh
Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975:

Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất

Thủ


 

cao

   ĐT Cao Văn Viên
 



Vào ngày 10/3/1975, CSBV đã điều động 3 sư đoàn chính quy tấn công cường tập vào
Ban Mê Thuôt-tỉnh lỵ Daralac và các căn cứ, doanh trại quân sự quanh vòng đai thị xã. Sau hai
ngày kịch chiến với CQ, trước hỏa lực mạnh và áp lực về quân số của đối phương, một
số đơn vị đã rút ra khỏi vị trí phòng ngự để tái phối trí lựcng. Riêng Bộ Tư lệnh Mặt
trận Ban Mê Thuột đặt tại bản doanh Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh đã bị CQ huy
động một lực lượng tấn công cường tập. Một sự kiện "định mệnh" đã xảy ra với lực
lượng trú phòng: sáng ngày 11/3/1975, trong một phi tuần oanh kích CQ, oanh tạc cơ
của Không quân đã ném nhầm hai trái bom 500 cân Anh rơi trúng vào trung tâm hành
quân TOT. Trước tình thế đó, Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 bộ binh
kiêm Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột, và Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng kiêm
Tiểu khu trưởng Darlac, đã cho lệnh lực lượng trú phòng mở đường máu quân vượt ra
khỏi phòng tuyến và di chuyển về hướng Tây ở khu suối Bà Hoàng, cách bộ Tư lệnh
Sư đoàn 250 thước. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 và Quân khu 2 đã mất liên lạc với Đại tá
Quang và Đại tá Luật từ lúc 11 giờ 50 phút ngày 11/3/1975.

Sau đây là tình hình Quân khu 2 sau khi Ban Mê Thuột thất thủ.

Phần này được biên soạn dựa theo các tài liệu sau đây: hồi ký của Đại tướng Cao Văn
Viên viết cho Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, dịch giả Duy Nguyên chuyển sang
Việt ngữ và đồng ý cho sử dụng để biên soạn các bài tổng hợp về cuộc chiến VN; nhật
ký của Thiếu tá Phạm Huấn, nguyên Sĩ quan Báo chí của Tư lệnh Quân đoàn 2 được
tác giả phổ biến trong cuốn "Cuộc triệt thoái Cao nguyên" 1975.

* Cuộc đổ quân của Sư đoàn 23 BB tiếp cứu Ban Mê Thuột


Ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú quyết định tổ chức cuộc đổ quân

tăng viện để tái chiếm Ban Mê Thuột. Lực lượng tăng viện chính là Trung đoàn 45 BB
và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 BB đang phòng ngự tại Pleiku. Về
phía Không quân VNCH, tham gia cuộc đổ quân ngoài các phi đoàn của Sư đoàn 6
Không quân mà Bộ Tư lệnh đặt tại Pleiku còn có các phi đoàn trực thăng của Sư đoàn
1 Không quân (Đà Nẵng) và Sư đoàn 4 Không quân (Cần Thơ), với hơn 100 trực thăng
đủ loại kể cả các loại Chinook.
 
Theo kế hoạch đổ quân, hai tiểu đoàn của trung đoàn 45 BB và đại đội Trinh sát Sư
đoàn 23BB được trực thăng vận trước tiên. Cánh quân được trực thăng vận đầu tiên
này do Trung tá Quang, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 45 chỉ huỵ Một hình ảnh đặc
biệt đã tạo sư chú ý của các phóng viên chiến trường là trong đợt đổ quân này là có cả
người vợ của Trung tá Quang tham gia. Bà Quang, trong quân phục tác chiến, vai đeo
ba lô, nón sắt, mang súng lục và lựu đạn, đã trả lời các câu hỏi của các phóng viên báo
chí, phát thanh và truyền hình. Bà cho biết các con của bà và gia đình của quân nhân
Trung đoàn 45 đang bị kẹt trong thị xã Ban Mê Thuột. Bà muốn được theo chồng nhảy
xuống trận địa và để cùng với quân sĩ trung đoàn 45 bộ binh chiến đấu tái chiếm lại Ban Mê Thuột.

* Câu chuyện giữa Tư lệnh Quân đoàn 2 Phạm Văn Phú và quân nhân Trung đoàn 53

BB


1 giờ 10 trưa ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phú rời bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đến

Ban Mê Thuột trên một chiếc phi cơ nhỏ U 17 để trực tiếp điều quân. Tới Ban Mê Thuột
vào khoảng 2 giờ chiều, tướng Phú đã liên lạc với các đơn vị trưởng của các đơn vị đang chiến đấu ở
quanh Ban Mê Thuột như Trung đoàn 53 BB ở phi trường Phụng Dực, Liên đoàn 21
Biệt Động Quân, các tiểu đoàn Địa phương quân Darlac. Cùng nhảy theo cánh quân
cứu viện còn có Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 của bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, được
Thiếu tướng Phú chỉ định giữ chức vụ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Darlac thay thế
Đại tá Luật được ghi nhận là mất tích. Cùng đi theo Đại tá Tiếu, còn có Bộ Chỉ huy lưu
động của Tiểu khu Darlac vừa thành lập.
 
Khi bay ngang phi trường Phụng Dực, qua máy truyền tin liên lạc Không-Lục, Tướng
Phú nói với Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng trung đoàn 53 BB: "Chú mày và anh em
ráng cố gắng đừng mất tinh thần. Quân tiếp viện đang được đổ xuống". Trung tá Ân trả lời: Xin Mặt Trời yên tâm.
Dù đã bị thiệt hại khá nhiều nhưng chúng tôi vẫn vững tinh thần chiến đấụ Tướng Phú
hỏi tiếp: Chú mày muốn gì đặc biệt không ? Đồ hộp ? Thuốc lá ? Trung tá Ân nói: Dạ
không, nhưng uổng quá, sao Mặt trời không bay trực thăng hôm naỷ Tướng Phú hỏi lại: Tại sao chú mày hỏi như vậy?
Trung tá Ân vui vẻ nói: Nếu mặt trời bay trực thăng, tôi mời Mặt trời đáp xuống thăm
khu triển lãm chiến lợi phẩm của trung đoàn ở Phòng khách Danh dự Phi cảng. Trong
số những vũ khí tịch thu được, có cả loại hỏa tiễn SA-7 mới tinh nữa...Tướng Phú cười:
Ý kiến hay đấy, lần sau tôi sẽ bay trực thăng để có thể xuống thăm anh em.
Sau đó, Tướng Phú yêu cầu Trung tá Ân chuyển máy để ông nói chuyện với một binh
nhì nhỏ tuổi nhất của trung đoàn. Trung tá Ân giới thiệu với Tướng Phú một binh nhì tên
là Nguyễn Văn Bảy, 18 tuổi, xạ thủ súng cối 81 lỵ Sau đây là đoạn đối thoại giữ tướng Phú và binh nhì
Bảy: Em thấy Việt Cộng chết nhiều không?-Nhiều, nhiều lắm... Thiếu tướng; Em muốn
xin thiếu tướng gì nào ?- Xin thuốc hút, và lựu đạn; Gì nữa ? Binh nhì Bảy ngập ngừng
rồi trả lời: Chừng đó đủ rồi, Thiếu tướng;
Thiếu tướng thăng cấp cho em lên binh nhất chịu không ? Binh nhì Bảy lại ngập ngừng
quay sang nói với Trung tá Ân: Ông Thầy ơi ! Ông Tướng tặng tôi cánh gà chiên bơ
(cấp hiệu binh nhất có hình chử V màu vàng; Ông Thầy là tiếng thân mật mà anh em binh sĩ thường dùng để
gọi cấp chỉ huy).

* Kế hoạch đổ quân và tái phối trí lực lượng của Sư đoàn 23BB

Trở lại với cuộc đổ quân, trưa ngày 12/3/1975, các phản lực cơ và khu trục cơ của
Không quân VNCH tiếp tục bay tới đánh bom để yểm trợ cho các đơn vị tham chiến ở
dướị Dân chúng trong thị
xã nghe tin quân tăng viện đã đến Phước An đã tìm cách băng rừng chạy về phía quận
này và Khánh Dương.
Sau khi hoàn tất việc điều động đợt đổ quân đầu tiên, Tướng Phú giao trách nhiệm chỉ
huy trực tiếp các cánh quân tái chiếm Ban Mê Thuột cho Chuẩn tướng Lê Trung
Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 BB, và ông đã trở lại Pleikụ Ông được tin là Tổng thống
Thiệu đã gọi lên Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 lúc 2 giờ chiều khi ông đang bay chỉ huy trên
không phận Ban Mê Thuột. Tướng Phú đã báo cáo tình hình cho Tổng thống Thiệu biết
và ông cũng đã bày tỏ sự lo ngại về sự có mặt của sư đoàn 316 Cộng quân tại chiến
trường Cao nguyên. Tại Phước An, Chuẩn tướng Trường ra lệnh cho Trung đoàn 53
BB và thành phần hậu cứ trung đoàn 44 Bộ binh (khoảng hơn 100 người) tại khu vực phi trường Phụng Dực bỏ
tuyến phòng thủ, di chuyển về hướng Phước An để cùng với Trung đoàn 44 và 45 BB
tập trung lực lượng chiến đấu với các đơn vị Cộng quân.
Chiều ngày 12 tháng 3/1998, cùng lúc gia tăng áp lực tại chiến trường Ban Mê Thuột,
thì tại Pleiku, từ những đỉnh cao phía Tây Bắc của thị xã này, Cộng quân đã pháo kích
bằng hỏa tiển vào phi trường quân sự Cù Hanh và bộ Tư lệnh Quân đoàn 2. Một binh sĩ tài xế đang ở gần
cột cờ bộ Tư lệnh đã trúng đạn pháo kích và bị tử thương.
* Những quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện
Khiêm và Đại tướng Cao Văn Viên về tình hình Ban Mê Thuột
Ngay sau khi Cộng quân khởi sự tấn công Ban Mê Thuột, liên tiếp trong 3 ngày 10, 11
và 12/3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú đã nhận nhiều lệnh của Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu, Thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên. Người đầu tiên
điện thoại hỏi tình hình là Đại tướng Viên (7 giờ sáng ngày 10/3/1975), tiếp đến Thủ
tướng Khiêm từ Đà Lạt gọi lức 8 giờ 40, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi lúc 10 giờ
10 và 19 giờ tối; trong ngày 11 tháng 3/1195, lúc 15 giờ 30, Đại tướng Cao Văn Viên
gọi điện thoại ra lệnh cho Thiếu tướng Phú "bốc" ngay Chuẩn tướng Lê Trung Tường,
Tư lệnh Sư đoàn 23BB, đang chỉ huy mặt trận Nam Pleiku "thả" xuống Ban Mê Thuột
để chỉ huy các cánh quân.
Sau đó, vào lúc 5 giờ chiều, Tổng thống Thiệu gọi lên Pleiku để nghe Thiếu tướng Phú
báo cáo tình hình. Trong lần gọi vào 11 giờ đêm, Tổng thống Thiệu ra lệnh cho Tướng
Phú với nội dung như sau: Linh động trong mọi trường hợp. Không nên dồn hết quân
cho Mặt trận Ban Mê Thuột; Tư lệnh Quân đoàn được toàn quyền quyết định, có thể bỏ
Ban-Mê Thuột. Cần phải tránh sa lầy vì có thể địch sẽ mở hai, ba mặt trận lớn nữa tại
Quân khu 2; Tường trình chính xác về các sư đoàn CSBV hiện đang tham chiến
tại Ban Mê Thuột; Tỉnh trưởng Darlac đại tá Nguyễn Trọng Luật xem như mất tích.
Chấp thuận đề nghị của Tư lệnh Quân đoàn cho "thả" một tỉnh trưởng (đại tá Trịnh Tiếu
- trưởng phòng 2 Quân Đoàn 2) khác xuống khu vực có dân và có quân tập trung để chỉ huy: Lập tòa Hành chánh và Bộ Chỉ huy Tiểu khu Darlac lưu động.
 
 
VHA 
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21 Tháng Năm 20182:23 CH(Xem: 158)
Một Đại Hội 21 của các cựu SVSQ Trường VBQGVN vừa được tổ chức vào những ngày 11, 12 và 13 tháng 5/2018 tại thành phố San Jose, miền Bắc Cali, đã thành công tốt đẹp. Xin được chúc mừng và ngợi ca ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức để có được một Đại Hội với nhiều hình thức truyền thống Võ Bị đáng được tự hào. Đại Hội cũng đã bầu ra một vị Tân Tổng Hội Trưởng, tốt nghiệp Khóa 24, có đầy đủ khả năng để chu toàn trách nhiệm.Tuy nhiên bên cạnh sự thành công và niềm tự hào đó, dường như vẫn phảng phất điều gì làm người ta cảm thấy ít nhiều tiếc nuối, xót xa. Bởi chỉ hơn một tháng sau, vào các ngày 23-24 và 25 tháng 6 tới đây, cũng sẽ có một Đại Hội 21 nữa được tổ chức tại Westminster, miền Nam Cali, và cũng để bầu một Tân Tổng Hội Trưởng. Điều khó hiểu là cả hai Đại Hội cùng mang tên Đại Hội 21 này đều nhân danh Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 291)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 120)
Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 210)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương
10 Tháng Năm 20186:11 CH(Xem: 185)
Tôi đọc bài thơ “Tau chưởi” dưới đây, và nghĩ rằng có lẽ trong văn học VN (và thế giới?!) khó tìm ra một bài thơ nào kinh dị, khốc liệt như bài thơ này. Điều gì làm cho tâm hồn con người – thi sĩ – phải đau đớn, quằn quại, căm hận, phẫn nộ đến vậy? Hai Bài thơ “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” và “Bài thơ của một người yêu nước mình” làm cho Trần Vàng Sao nổi tiếng, nhưng theo tôi, bài “Tau chưởi” mới là bài đáng kể nhất trong thơ của ông.