DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,160,315

Đào Như - Linda Lê: Cuộc Đời và Tác Phẩm

Sunday, November 17, 20199:07 PM(View: 139)
Đào Như - Linda Lê: Cuộc Đời và Tác Phẩm
Linda Lê:
Cuộc Đời và Tác Phẩm
 
 
blank
     Nhà văn Linda Lê
Có phải chăng quá sớm để nói về ‘Cuộc Đời và Tác Phẩm’ của nhà văn nữ gốc Việt của nước Pháp, Linda Lê. Cô đang ở tuổi ngoại tứ tuần, đang trong dòng triều cương sáng tác, còn nhiều chuyển hóa, còn nhiều bước đi mới khám phá chính mình và thế giới, còn nhiều sáng tạo cống hiến cho đời… Như vậy “Cuộc Đời và Tác phẩm” ở đây xin được hiểu như là cuộc đời và tác phẩm của Linda Lê trong quá khứ, trước năm 2011.

Báo Libération có bài phác họa chân dung của Linda Lê tác giả của nhiều tiểu thuyết viết bằng tiếng Pháp và nhận được nhiều giải văn chương có uy tín trên văn đàn Pháp: Les Trois Parques (Ba Số Phận), Colomnie (Vu Khống), Autre Jeux avec le feu (Lại Chơi Với Lửa)… Theo báo Liberation: Cá tính của Linda thích cô độc, nhất định từ chối không muốn có con. Trong tác phẩm của Linda: Hình ảnh của một xứ sở cấm kỵ xa xưa, một người cha bị bỏ rơi, một người mẹ khuôn phép hay một người tình hờ hững. Có những câu chuyện huyễn hoặc siêu thực như trong các tác phẩm của Shakespeare, hay hàm chứa hoang tưởng, ảo ảnh và hội chứng trầm cảm.

Cuộc đời của Linda Lê là một chuổi dài của hạnh phúc đan xen với đau khổ, của tin yêu trộn lẫn với giận hờn, giữa những phút giây của thiên đường hôm qua và địa ngục hôm nay. Linda Lê sanh tại thành phố Đà Lạt, sương mù, lãng mạn và tình tự, năm 1963. Mẹ của Linda, một phụ nữ Việt Nam thuộc tầng lớp cao, bẩm sinh quốc tịch Pháp. Cha của Linda là một người Việt thuộc tầng lớp xã hội thấp hơn mẹ, mặc dầu ông là một kỷ sư đương thời. Năm 1968, chạy giặc Mậu Thân từ Đà Lạt xuống Saigòn. Trên đường chạy nạn, lúc ấy Linda mới có 5 tuổi đã nhìn thấy những xác chết của trẻ thơ bên đường vì bom đạn chiến tranh. Hình ảnh đau thương của đất nước khắc sâu vào tâm trí cô mãi mãi sau này.

Có lần Linda Lê đã phải thốt lên trên một trang viết: từ đó tôi có cảm tưởng trong tôi luôn luôn có một xác em bé đang chết… Việt Nam, quê hương tôi, giờ này sao như xác chết của một trẻ thơ- J’ai l’impression de porter en moi un corps mort. C’est surement, le VietNam que je porte comme un enfant mort. Thật là một định mệnh nghiệt ngã, và tuyệt vời, vận nước nổi trôi đã gắn liền với số mệnh, thân phận của người con gái với một tâm hồn nhạy cảm này quá sớm. Nhưng đó cũng là nguồn cảm xúc dâng tràn mỗi khi cô viết về người cha của cô bị bỏ quên ở lại cùng quê hương Việt Nam.

Chạy giặc từ Đalạt vào Saigòn, theo truyền thống gia đình bên ngoại, Linda Lê theo học tại các trường Pháp. Chính ở Saigòn năm 1969, Linda Lê phát hiện cuộc sống tình cảm của cô có gì bất ổn. Những nguyên nhân thời cuộc bên ngoài làm sự quan hệ giữa cha và mẹ của Linda trở nên lỏng lẻo và tồi tệ. Linda Lê lúc đó đã sớm thấy mình bị rơi từ thiên đàng Đalạt xuống tận hố thẩm của địa ngục Saigòn.

Rồi chuyện gì phải đến đã đến: Hai năm sau biến cố 30-4-75, Linda cùng mẹ và ba chị em gái di cư sang Pháp năm 1977. Ở Pháp cũng như ở Sàigòn, Linda Lê vùi mình trong văn chương, nghiền ngẫm tư tưởng các văn hào và triết gia Pháp. Phải chăng đó là một đam mê thiên phú? Hay đó chỉ là cuộc chạy trốn chính mình - ego escape - hầu để quên đi quá khứ của mình ở đó sừng sững hình ảnh của một người cha bị phản bội tàn tệ, bị bỏ quên cùng một quê hương Việt Nam cấm kị không được nói đến.

Năm 1981 Linda Lê tốt nghiệp lớp 12 tại trường Trung học thời danh Henri IV ở Paris. Năm sau đó, Linda được nhận vào học văn chương tại đại học Sorbone. Tài năng văn chương của Linda Lê được phát hiện rất sớm từ lúc cô còn tuổi vị thành niên, cô đã được sự hâm mộ và dẫn dắt của các vị giáo sư ở ngay bậc Trung học. Chính những vị giáo sư này đã đưa Linda vào đại học Sorbone. Những năm của thập niên 1980, những tác phẩm của Linda Lê đi theo một tiến trình căn bản và vậm vỡ: Từ ‘Un si tendre vampire’- (Về một con dơi ác độc triều mến) - 1985 đến ‘Les Évangiles du Crime’ - (Phúc âm của Tội ác) - 1992. Nội dung của “Les Évangiles du Crime”, cho chúng ta thấy thấp thoáng ẩn hiện về cái chết và ý nghĩ về một sự tự vận của Linda Lê từ thuở ấy. Cùng trong thời khoản này, Linda Lê cũng cho ra đời những tác phẩm khác được coi như là thứ yếu: Fuir (1988), Solo (1989)… vì phần nhiều những tác phẩm này không mang được những dấu ấn gì đáng ghi nhớ trong văn nghiệp của Linda Lê sau này.

Năm 1995 là năm định mệnh giáng xuống đời cô những tai nạn đau xót ngất lịm hồn người. Đó là lúc cô được tin người cha của cô vừa qua đời tại Saigòn sau cơn đột quị trong lúc ông sửa soạn lên đường sang Pháp để tìm lại thăm cô và gia đình. Người cha vô vàn thương yêu ấy trong gần suốt 20 năm qua, cha con không gặp lại nhau dù cho chỉ một lần. Tuy thế, hai cha con không ngừng thư từ liên lạc chặt chẽ với nhau, có những cảm nhận về hoàn cảnh và thân phận của nhau và những tin yêu sâu sắc. Liền sau đó Linda Lê quyết định về Việt Nam để tiển đưa người cha mình đến nơi an nghỉ cuối cùng và cũng để thăm lại quê hương.

Với một nội tâm đầy xúc động và phẫn uất dường ấy làm sao Linda Lê chịu đựng nổi những nỗi đau đớn sau cái chết nghiệt ngã của người cha. Sau ngày trở lại Paris, Linda Lê rơi vào thế giới ảo giác, vây hãm bởi những mặc cảm tội lỗi, ý nghĩ về một sự tự tử - homicidal, suicidal ideation. Đối với Linda Lê, cái chết của người cha của cô còn có ý nghĩa cái chết của một thần tượng đời cô, người đã thông hiểu được nội tâm của cô. Sự ra đi của người để lại cho Linda Lê một thế giới trống rỗng không có niềm tin-un monde sans dieu. Sau đó Linda Lê đã phải nhập viện bịnh tâm thần. Đó là khoản thời gian hai tập truyện Voix -Tiếng nói -và Lettre Morte - Thư chết… Tất cả hai tác phẩm này đều miêu tả sự khổ lụy tận cùng của Linda khi nghĩ về người cha xấu số bị ruồng bỏ và chết với nỗi oan khiên khôn nguôi. Linda tin rằng trong lòng người cha luôn luôn có hình ảnh của cô cũng như tiếng nói của người vẫn còn vang vọng đâu đây bên cô.

Cũng như hình ảnh của những bức thư chết của người cũng thoáng hiện về với những dòng chữ còn xanh màu mực…
Một thời gian sau đó Linda Lê xuất viện và dòng đời cứ tiếp tục trôi chảy thầm lặng. Linda Lê tiếp tục viết với những dằn vặt: “Les Trois Parques’ năm 1997 và “Autre Jeux Avec le Feu” (Lại Chơi Với Lửa) -năm 2002. Năm 2003 Linda Lê thực hiện Personne - (Không Còn Ai) nói lên sự trống vắng, cuộc đời chan chứa cô đơn của người con gái vừa đúng bốn mươi, không còn cha, không còn quê hương, không chồng, không con…

Với một ý nghĩ thật là ngộ nghĩnh, Linda Lê cho hay cô đang chuẩn bị xuất bản một bức thư gửi cho đứa con mà Linda Lê đã và sẽ không bao giờ có. Từ năm 15 tuổi, cô đã chia sẻ ý nghĩ không muốn có con với người bạn trai của mình: Cô sợ mang thai, sợ cho con bú, vì ngại rằng từ bầu vú của cô sẽ tiết ra tia sữa đắng, truyền nỗi cô đơn của mình cho đứa con vô tội. Như vậy có con không những không khỏa lấp được nỗi buồn mà còn làm cho cô thêm mặc cảm tội lỗi … Trong những năm gần đây, Linda Lê cũng có những bạn trai thành khẩn chia sẻ với cô mong cô có con với lý lẽ khi Linda có con, ngoài ý nghĩ mình là người đàn bà, Linda còn là một bà mẹ yêu thương bảo vệ nuôi nấng con, có con sẽ mang lại cho cô hạnh phúc, niềm hy vọng về tương lai, tất cả sẽ làm cho cô thấy thanh thản, dịu dàng. Nhưng Linda Lê đã đáp lại bằng cuộc sống lứa đôi không nhất thiết phải có con mới tồn tại.

Cũng như trong cuộc đời lứa đôi tình cảm, Linda Lê đã chọn một chỗ đứng cho mình trong dòng văn học của Pháp đặc thù Linda Lê, thóat ra ngoài mẫu mực giềng mối của Simone De Beauvoir, một feminist Existentialist- Marguerite Yourcenar, tác giả của những đầu sách thời danh: Alexis, Memoires d’Hadrien, hay Virginia Woolf, nhà văn nữ của vương quốc Anh, tác giả của Mrs Dolloway, Orlando… Nhưng chưa bao giờ Linda Lê cảm thấy cô đơn trong dòng văn học Pháp hiện tại. Trái lại cô được các giới trí thức và báo chí văn học Pháp tích cực chia sẻ với cô. Tác phẩm của Linda Lê, chẳng những được trọng vọng tại Pháp, được nhiều giải văn học tầm cỡ của Pháp, mà còn được dịch sang Anh ngữ, Đức ngữ…

Hôm nay, đầu năm dương lịch 2012, ở tuổi 49 Linda Lê nghĩ gì về thân phận con người trong chiến tranh và sau chiến tranh và nhất là thân phận của người di tản tị nạn chiến tranh, sống lưu vong cùng khắp thế giới hơn 35 năm qua. Chúng ta và Linda Lê có chung một vùng đất đứng, chung một tâm trạng: Tư Cố Hương, nhớ về quá khứ, quê hương và những người thân yêu đang còn hay đã khuất. Cám ơn Linda Lê đã thể hiện tuyệt vời tâm hồn và suy tư của người Việt tị nạn. Hy vọng, trong tương lai gần Linda Lê sẽ phản ảnh nhiều hơn nữa lên văn đàn nước Pháp và thế giới niềm đau thống thiết của cộng đồng Việt Nam, của cộng đồng nhân loại vì chiến tranh.

Nghĩ cho cùng, trường hợp của Linda Lê đặc thù văn học nghệ thuật- hiện tượng thụ tinh chéo- cross fertilization- Linda Lê mượn ngôn ngữ xứ người, ngôn ngữ Pháp, để miêu tả nội tâm của chính mình, của cộng đồng Việt Nam khi nghĩ về hậu quả và hệ lụy của chiến tranh. Phải chăng Linda Lê chỉ là nạn nhân của Hội Chứng Hậu Chiến-Post Traumatic-Stress-Disorders Syndromes- cũng như hàng triệu người Việt khác đang sống trong nước hay đang sống lưu vong trên cùng khắp 92 lãnh thổ quốc gia trên thế giới./.


Oak park, Illinois-USA
Đào Như
(từ: hocxa.com)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, December 4, 20196:21 PM(View: 13)
Bùi Bích Hà chỉ mới tự giới thiệu mình với độc giả hải ngoại bằng tập truyện ngắn Buổi Sáng Một Mình, do nhà Người Việt in năm 1989,
Saturday, November 30, 20195:26 PM(View: 151)
Và người thi sĩ vĩ đại Tô Thùy Yên, bất lực trước tàn phá của chiến tranh trên quê hương, trên Tính, Mệnh, của người dân Việt Nam, ông cũng đã phải chua chát hét lên như
Wednesday, November 27, 20197:12 AM(View: 107)
Làm thế nào để hình dung về Phạm Công Thiện? Một lần tôi đã tự hỏi mình như thế. Và ngay lập tức trước mắt tôi hiện ra một cặp kính cận dày cộm và chòm tóc trắng phất phơ… Có lẽ, nếu vẽ vài nét trên giấy
Wednesday, November 20, 20199:02 PM(View: 108)
Trong ghi nhận của tôi thì, thời điểm từ 1965 tới 1975, bên cạnh những mùa gặt sung mãn về sách dịch các loại, là sự rộ nở tới mức độ “choáng ngợp” của các khuynh hướng văn chương đối nghịch nhau.
Wednesday, November 13, 20199:15 AM(View: 519)
Với tôi, ở trường hợp sau, gần đây nhất, chúng ta có nhà thơ Đặng Phú Phong, với thi phẩm “tĩnh vật tôi. chờ một bàn tay.” Chỉ một dấu chấm câu ngay nơi tựa thi phẩm,