DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,401,780

Trần Yên Hòa - Làng Quê Thấm Máu

Monday, December 23, 20198:51 PM(View: 2197)
Trần Yên Hòa - Làng Quê Thấm Máu
                                           Làng Quê Thấm Máu



Image result for ám sát



Căn nhà từ đường kiểu cũ, nơi thờ phượng họ tộc mà cha Nại đã giữ được trong mấy mươi năm. Mấy mươi năm trôi qua từ ngày tiêu thổ kháng chiến. Ngày đó, nông dân vùng lên làm cách mạng đánh Nhật, đuổi Tây. Tây đóng đâu tận Đà Nẵng, Hội An nên được gọi là vùng bị chiếm, còn vùng nầy là vùng tự do, có Ủy Ban Hành Chánh Xã, có chính quyền cách mạng.


Thời đó, trong một phiên họp của Ủy Ban Hành Chánh quyết định tiêu thổ kháng chiến để chống quân Pháp đi càn, tất cả các nhà ngói, nhà rườn phải giở đi, phá đi, trong đó có căn nhà từ đường của họ tộc nhà ông. Ông Ngọ đứng lên phản đối. Tại sao phải giở căn nhà tự đường đã có trên mấy trăm năm. Nơi đó, ông đã thờ phượng ông bà, cúng giỗ hàng năm. Con cái, cháu chắt về đông chật cả căn nhà rộng. Cuộc họp tan trong sự hậm hực của Ủy Ban Hành Chánh. Cũng may mà ông Ngọ đứng lên phản đối nên công việc tiêu thổ kháng chiến của xã tạm thời ngưng thi hành. Sau đó mấy tháng thì rục rịch có tin ký hiệp định đình chiến. Nhờ vậy, căn nhà được trụ lại cho đến bây giờ, hơn hai mươi mốt năm.

Hàng năm các con ông Ngọ mỗi lần kỵ giỗ đều trở về đây lạy tạ ông bà. Nhưng ông Ngọ thì đã ra đi không trở về quá sớm.

Quốc gia tiếp thu. Ông Ngọ ra làm chủ tịch xã. Dù ông là đảng viên Việt Quốc nhưng khi mới thành lập chính quyền, chế độ Ngô Đinh Diệm cũng cần có những người như ông trợ lực. Ông làm việc cần mẫn, liêm khiết, nên chỉ mấy năm sau hòa bình lập lại, dân chúng ai cũng đều có chén cơm ăn, cuộc sống an nhàn hơn. Cơ quan Hội Đồng Hương Chính đặt phía dưới đường quốc lộ, nằm sát bên là truờng tiểu học và bịnh xá của xã. Bên kia sát mé bờ sông là chợ, người dân mua bán tấp nập, ồn ào náo nhiệt, thật đông vui.

Một hôm, ông Lê Văn Giáo, truởng chi công an quận, cho tài xế lái xe jeep cùng một đoàn tùy tùng vào thăm xã. Ông Ngọ tiếp đón nồng hậu. Ông Giáo đầu hớt tóc ngắn, bận áo quần kiểu hiến binh cũ, cùng đám năm sáu người bận thuờng phục nhưng ai cũng biết đó là công an chìm.

Ông Ngọ mời ông Giáo uống nuớc trà, hút thuốc Cẩm Lệ. Ông Giáo lấy trong túi áo ra một gói Melia vàng, quăng xuống bàn ra chìều trịch thuợng, rồi ông Giáo nói:
- Tôi về thăm xã đuợc ông chủ tịch cho biết tình trạng an ninh của xã tốt, tôi rất mừng. Ở những xã miền trên, số cán bộ cộng sản đi tập kết còn sót lại nhiều, họ đào hầm bí mật mà ở, lợi dụng thời cơ hoạt động trở lại. Luật số 10/59 vừa đuợc ban hành là phải tận diệt Việt cộng, nên chúng ta phải đề cao cảnh giác. Nhân đây, tôi cũng có ý kiến với ông chủ tịch là, theo sự gợi ý của ông quận truởng và của cha sở chánh xứ, xin ông cho xây trong công viên hội đồng xã nầy một nhà thờ công giáo. Ngô Tổng Thống là nguời công giáo, ông quyết một lòng chống cộng, nên để toàn dân nhất tâm chống cộng thì hãy kêu gọi họ vào đạo công giáo. Ý ông thế nào?

Ông Ngọ ngồi bật nguời ra sau. Tuy mấy năm gần đây đạo công giáo được sự che chở của chính quyền đã lan tràn mạnh mẽ. Họ áp lực người dân phải theo đạo, nguời nào nghèo không đủ ăn thì theo đạo sẽ được phát gạo ăn. Còn những gia đình có thân nhân đi theo cộng sản tập kết, hay số ở lại quy hàng chính quyền quốc gia cũng bị chính quyền làm khó dễ, hết học tập tố cộng rồi diệt cộng, học hết ngày này qua ngày khác, kéo dài hàng tuần, hàng tháng. Cuối cùng nếu những người đó chấp nhận theo đạo thì sẽ đuợc hết theo học và còn đuợc phát gạo ăn.

Ông Ngọ rất bất bình với công việc trên. Gia đình ông là một gia đình Phật giáo thuần thành suốt mấy đời. Và cả dân xã ông cũng vậy, dù họ không theo Phật nhưng họ thờ cúng tổ tiên, thỉnh thoảng, ba mươi, mồng một hay ngày rằm, tết nhứt, họ đi chùa. Máu huyết đạo Phật đã thấm nhuần vào tim họ. Bây giờ chính quyền cấp trên còn muốn bắt ông chấp nhận cho họ xây nhà thờ ở đây, trong khuôn viên cơ quan Hội Đồng Hương Chính, ông làm sao chịu đuợc.

Ông Ngọ ngồi thẳng trở lại và tằng hắng một tiếng, rồi ông đáp lời:
- Thưa ông truởng chi! Tôi biết từ lâu dân xã tôi vẫn theo đạo Phât rất nhiều, họ đã tự nguyện đóng góp tiền để làm cái chùa trong xóm. Nơi đó, dân chúng Phật tử đến chiêm bái Phật. Tôi thiết nghĩ, có lẽ bên Thiên Chúa các ông cũng vậy thôi. Muốn lập nhà thờ thì nên tìm chỗ nào có khu đất rộng, khang trang, đông đúc dân cư, thì tiện hơn, chứ ở đây là cơ quan hội đồng xã, xây nhà thờ sao tiện.

Nghe ông Ngọ nói xong, mặt ông Giáo cau lại. Ông không ngờ ông Ngọ có thể phản đối công việc xây nhà thờ của quận. Đã qua một số xã trong quận, công việc xây nhà thờ khá suôn sẻ.
Ông Giáo gầm gừ trong miệng:
- Tôi nói với ông chủ tịch là nói cảm tình, nhưng thật ra đây là lệnh của cấp trên. Ông bằng lòng hay không thì tùy, tôi sẽ về báo cáo lại với ông quận truởng.

Nói xong ông Giáo đứng dậy hầm hầm cáo từ ra về, dù trong dự tính, ông Ngọ đã cho mấy nguời dân vệ chạy về nhà ông báo tin cho bà Ngọ lo nấu cơm đãi khách. Ông Ngọ biết ông Giáo giận nhưng ông cũng nói:
- Lâu lâu ông truởng chi mới vào thăm xã, tôi đã báo với bà nhà tôi lo làm cơm mời quý ông một bữa, xin ông vui lòng ghé nhà tôi dùng bữa cơm đạm bạc.
Ông Giáo vẫn vẻ mặt khó đăm đăm, trả lời:
- Hôm nay tôi bận việc. Thôi xin ông để cho khi khác.

Nói xong ông đi thẳng ra xe. Bốn, năm nguời công an bận thuờng phục thấy ông đi ra vội chạy tới mở cửa xe cho ông lên. Nhìn gương mặt ông truởng chi, họ biết ông đang giận, nên họ im lặng leo lên ngồi phía sau xe, chiếc xe đuợc lệnh chạy thẳng về quận lỵ.
 
                                                                                             ***
 
Khoảng ba tuần sau, một đêm tối, ông bà Ngọ ra ngoài cơ quan Hội Đồng Hương Chính chơi. Ông vẫn coi cơ quan như là nhà của mình. Buổi tối ông thường cùng bà ra đây. Ở đây có một phòng thông tin rất nhiều sách báo, mọi nguời dân ai muốn đọc sách báo thì đến đọc. Một chiếc đèn măng sông soi sáng cả căn phòng rộng. Mấy ông già thì bày cờ tuớng ra đánh.

Khoảng muời giờ, phòng Thông Tin đóng cửa. Ông bà ở lại về sau cùng sau khi đã khóa cửa kỹ luỡng. Trời đêm tối mịt mù, ông cầm cái pin và soi đuờng cho bà đi. Qua khỏi ngã ba chợ, ông bà quẹo theo đuờng đất đỏ về nhà. Có mấy cái bóng nguời đi qua truớc ông bà, ông cứ nghĩ đó là anh em dân vệ đi tuần đêm. Khi ông bà đi lên qua khỏi ngôi chùa làng một chút, bà đi truớc, ông đi thụt về phía sau, thì từ trong bụi rậm nhảy ra một bóng đen, chận ông Ngọ lại.

Ông hỏi:
- Ai đó?
Bóng đen không trả lời, loáng một cái, bóng đen cầm súng ria thẳng vào ông Ngọ, ông Ngọ kêu lên cái hự và nằm gục xuống. Bà Ngọ quay trở lại thấy ông Ngọ đã nằm sòng suợt trên đất, bà hoảng hốt kêu lên:
- Bớ làng cứu tôi, bớ làng...

Bóng đen thoát qua nguời bà và chạy thẳng vào bãi cát xa. Mọi nguời nghe tiếng kêu cứu, vội vã cầm đèn ra đến nơi thì thấy ông Ngọ nằm sõng soài trên vũng máu. Họ lấy võng bỏ ông lên và khiêng ông về nhà. Đến nơi, đặt ông nằm trên tấm phản ngựa giữa nhà, soi đèn kỹ lại thì thấy ông đã tắt thở.

Bà Ngọ nghe tin ông Ngọ đã chết, bà ngất lên ngất xuống, xỉu lên xỉu xuống mấy lần. Đứa con trai lớn làm việc ở Pleiku, đứa thứ hai đang học ngoài Hội An. Chỉ còn có anh Đạc và Nại ở nhà. Cả nhà ôm xác ông Ngọ mà khóc. Cái hạnh phúc và cái bất hạnh thật nối liền nhau. Mới ngày hôm qua Nại còn ngồi trong lòng cha, kể cho cha nghe chuyện học hành ở lớp. Hôm nay nàng đã ôm thân thể ông Ngọ đầy máu me, thân hình lủng nhiều vết đạn, ông nằm im bất động. Những con ruồi xanh từ đâu nghe hơi máu bay kêu vo vo, la đà đậu trên tấm ra trắng đắp qua thân hình ông Ngọ. Phía trên là một bình hương, để một chén cơm trắng và một cái trứng gà luộc đã bóc vỏ.

Ngày đó, Nại còn rất nhỏ, hình như nàng đang học lớp đệ thất ngoài thị xã. Nàng trở về nhà nghỉ thứ bảy, chủ nhật, thì ông Ngọ bị nạn.

Sáng hôm sau, ban hội Đồng Hương Chính liền báo khẩn về quận việc ông Ngọ bị sát hại. Ông quận truởng Đặng cấp tốc cho đánh xe vào thăm và lên án gắt gao bọn cộng sản nằm vùng, đã âm muu ám sát ông Ngọ, một vị chủ tịch mà dân ai cũng cảm mến.

Ông quận truởng Đặng thắp hương truớc quan tài ông Ngọ và có lời thảm thiết:
- Chúng tôi rất lấy làm buồn khi đuợc tin ông Phạm Ngọ, một chiến sĩ quốc gia chân chính đã bị cộng sản âm mưu sát hại. Chúng tôi cố gắng hết sức để trả mối thù này cho gia đình nạn nhân. Truớc hết, tôi sẽ can thiệp để các con ông Ngọ được huởng quy chế Quốc Gia Nghĩa Tử, mong đem lại một chút an ủi cho gia đình. Chúng tôi cầu nguyện linh hồn ông Ngọ đuợc siêu thăng tịnh độ và mong gia đình bớt buồn đau.

Những tiếng thở dài rất nhẹ của những nguời đi tham dự. Đám tang đuợc diễn ra sau đó với thật đông đồng bào từ các thôn, ấp xa, nghe tin ông mất, đã tới thăm viếng và đưa tiễn. Ba phát súng của dân vệ bắn lên trời để đưa ông khi quan tài hạ huyệt. Bà Ngọ và những đứa con lăn lộn khóc.

Trong đám đông có tiếng nói rỉ tai nhau:
- Việt cộng ở đâu mà giết ông Ngọ, chỉ bọn công an chìm lập mưu ám hại ổng thôi. Ông không cho xây nhà thờ ở xã nên họ muốn triệt hạ ổng. Tội nghiệp một con người cương trực.
 
Những năm sau đó, Nại vẫn còn ám ảnh về cái chết của cha mình. Nàng lúc nào cũng thấy cha chập chờn trong những cơn mộng dữ, thân hình ông máu me, quằn quại. Nàng ôm lấy cha và khóc thét lên. Hình ảnh ấy bám chặt, ăn sâu tận cùng tâm tuởng nàng, một tuổi thơ dữ dội.

Sau đó, ông Diêu, một chân thư ký trong Ban Hội Đồng, một Thiên chúa giáo tân tòng, được lên thay ông Ngọ.

Những ngày đau buồn đó đã qua. Bà Ngọ sống âm thầm cùng các con, lo cho các con ăn học. Toàn, người anh cả đã thành danh, đã hoạt động có tiếng tăm trong chính giới. Còn những người con khác cũng có bằng cấp và nghề nghiệp. Dĩ vãng lùi dần phía đàng sau, nhưng mỗi khi nghĩ lại ngày ông Ngọ bị bắn chết với viên đạn của kẻ vô danh, bà Ngọ lại nghe lòng mình đau nhói.



                                                                  Trần Yên Hòa
                                                                                                                                                                (Tác giả gởi)
 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, October 24, 20208:41 AM(View: 50)
Đêm thứ nhất, sau khi trét xong cái vách đất biến ngôi nhà thành một cái hang lộ thiên khổng lồ, ông không thể nào chợp mắt được. Cái mùi xăng vẫn còn nồng nặc, rồi mùi của đất ướt ngai ngái, mùi của bóng tối đậm đặc, mùi của cây gỗ bị rang nóng… làm ông ngạt thở. Đã mấy lần ông chui ra ngoài hiên, ngồi đốt thuốc nhìn trời. Ngân hà giống con sông chảy qua làng trong mùa lũ, trông mênh mang cả một trời sao trắng đục. Ông thấy sao con công vẫn còn kéo cái đuôi óng ánh dài lê thê, sao con vịt xấu xí hếch cái mỏ lên trời và ông nghe thấy tiếng con chim heo kêu ụt ụt. Không có tiếng vạc kêu, cũng không có tiếng chim cú ném vào đêm tối những tiếng kêu dài ma quái. Đất trời vẫn yên hàn thanh tịnh, chỉ có lòng người vẫn không ngớt dậy lên những trận phong ba kinh hồn, lúc nào cũng để lại những tiếng dội âm ỉ như tiếng sấm rền trong mây. Cớ làm sao chỉ một bước mà mình đã lên địa chủ? Rồi một bước nữa là phản động. Đâu phải mình muốn bước mà mình bị đẩy lên, bị nắm tóc kéo lên chỉ sau một
Tuesday, October 20, 20209:29 PM(View: 101)
Cung Tiến từ nhỏ được xem là nhạc sĩ tài hoa, học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ Thẩm Oánh và Chung Quân. Năm 1952 theo thân phụ vào Sài Gòn học tại hai trường trung học Nguyễn Trãi và Chu Văn An. Năm 1953, sáng tác hai nhạc phẩm bất hủ Thu Vàng và Hoài Cảm. Theo lời anh “Lúc đi, nhớ tất cả những gì mà ở Hà Nội ghi vào ký ức mình”. Ca khúc Thu Vàng, điệu valse, khi nghe tưởng chừng như những bước chân chim nhảy nhót trên lá thu, và Hoài Cảm nhưng tâm trạng của kẻ tình si “Lòng cuồng điên vì nhớ. Ôi đâu người, đâu ân tình cũ… Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa” thật tuyệt. Thật khó tưởng tượng cậu học sinh lớp Đệ Lục (lớp 7) mà viết lên lời ca hay như vậy. Nhạc sĩ Cung Tiến sáng tác hai ca khúc Hương Xưa và Nguyệt Cầm. Thể loại nầy từ lời ca và giai điệu mang chất classical nên thường gọi là dòng nhạc bán cổ điển (semi-classic, semi-classical). Ca khúc Hương Xưa (1956) đã một thời nổi tiếng qua tiếng hát điển hình như Lệ Thu, Hà Thanh, Sĩ Phú, Duy Trác (Mai Hương trình bày với
Sunday, October 18, 20204:22 PM(View: 152)
Tôi chỉ là một công dân hạng hai cầm bút chứ không phải là nhà văn. Lại càng không phải là nhà văn có thương hiệu cho dù là cấp xã hay cấp nhà nước. Tôi viết trước hết cho các con tôi vì chúng rất mù mờ không hiểu cha ông chúng đã sống và đã chết như thế nào trong suốt hơn nửa thế kỷ dông bão vừa qua. Tôi có người bạn bảo bây giờ viết như Kinh Kha buồn. Nghĩa là biết chẳng tới đâu mà vẫn phải cầm lấy bút như cây chủy thủ. Tôi nghĩ còn hơn Kinh Kha buồn vì sông Dịch bây giờ chẳng những lạnh mà hoang vắng đến rợn người. Chẳng có một tân khách nào dám tiễn đưa. Cái đất Tần ấy lúc này đang ngút trời gươm đao bất trắc. Từ lúc nạn đói năm Ất Dậu đến nay có bao nhiêu triệu công dân hạng hai Việt Nam đã chết? Hai triệu? Năm triệu? Hay mười triệu? Chết vì đói, vì thủ tiêu, vì đấu tố, vì tố cộng, vì Mậu Thân, vì cải tạo, vì vượt biên… Cho dù ở bên nào họ cũng chỉ là những nông dân nghèo, cả đời khát khao mảnh vườn thửa ruộng. Chính vì vậy mà họ bị lừa phỉnh, bị lợi dụng, bị sai khiến.
Wednesday, October 14, 20208:35 AM(View: 237)
Cách đây hơn bốn mươi năm, khi còn ngồi trên ghế nhà trường cấp III, có một lần, trong buổi ngoại khóa, chúng tôi được thầy H. B. N. bình bài “Tiếng hát sông Hương” của nhà thơ Tố Hữu. Thầy bị cụt một tay, người chỉ được một mẩu, đuôi mắt trái lại có mụn ruồi to đùng nhưng giảng văn thì cực hay. Dường như những khi đứng trên bục giảng, thầy đã hóa thân vào tác phẩm, để rồi, trong phút xuất thần, chuyển tải cái nhân sinh quan cộng sản của một ông râu xồm mãi bên trời Tây vào con tim ngu ngơ của đám học trò nông thôn, quần âm lịch, chân đất, vốn chưa biết gì về nạn mại dâm. Theo sự phân tích rất logic từ mỹ học Marx-Lenin, thầy khẳng định, cô gái sông Hương là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, bị giày vò cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy nhiên, nỗi ô nhục ấy sẽ mất đi, người con gái vướng vào kiếp nạn ê chề sẽ được hoàn lương một khi Cách mạng vô sản thành công. Chân trời mới sắp mở ra. Những thân phận bọt bèo, lạc loài sẽ được sống trong một xã hội công bằng, hạnh phúc, đầy hoa
Sunday, October 11, 20203:27 PM(View: 188)
Vậy mà Lê mất đã một năm... Giờ này năm trước, tôi đang ở Việt Nam có chút việc, và cứ tưởng mình sẽ không đến dự kịp lễ tang của anh tại nhà quàn Peak Family. Nhưng may thay, cuối cùng công việc lại êm xuôi và tôi trở về Bolsa kịp đúng vào buổi sáng ngày di quan linh cữu của anh - nhà thơ của hằng ngàn bài thơ tình trong số đó có nhiều bài thuộc loại nằm lòng của rất nhiều bạn đọc Việt Nam, nhất là phái nữ. Dù phải trải qua chuyến bay dài, tôi cũng dễ dàng bỏ qua sự mệt mỏi để đến dự tang lễ và nhất là đến để đưa tận tay chị Hạnh Tuyền, vợ anh, chiếc cọ vẽ cũ của tôi. Trong một buổi sáng cà phê nào đó ở Little SG, anh đã từng ngỏ ý muốn tôi tặng một cây cọ đã dùng của mình cho bộ sưu tập những cây cọ vẽ cũ của các hoạ sĩ Việt Nam nổi tiếng mà chị cất công sưu tập bấy lâu. Và đó là lúc mà tôi thực hiện lời hứa với bạn mình, chỉ là không ngờ phải thực hiện ngay trước linh cữu bạn. Tầm 11 am, sau khi tìm được chỗ đậu xe, tôi đến nơi đang có rất nhiều người trong trang