DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,213,273

Trần Thanh Cảnh - Bến Chia Ly

Thursday, December 26, 20198:40 AM(View: 296)
Trần Thanh Cảnh - Bến Chia Ly
                  Bến Chia Ly

Image result for chia ly

Hôm ấy là một buổi chiều đầu đông.

Mây trên trời ngưng trôi, chuyển dần từ màu bàng bạc sang xám chì. Hơi lạnh bắt đầu len lỏi vào trong vạt áo, nhấm nháy da thịt. Vài con quạ già tụ họp với nhau tít trên ngọn cây gạo bên đường, lười biếng hé mắt nhìn xuống một tốp lính trẻ đang đi tới bến sông. Ngang qua cây gạo, mấy con quạ cũng chả thèm nhúc nhích. Chúng đang trầm tư. Tốp lính trẻ mệt mỏi lê bước xuống bờ sông. Con sông Thương nước xanh ngăn ngắt chảy lững lờ dường như đứng yên một chỗ. Đò đang ở bên kia. Một người lính dùng tay làm loa gọi: “Đò ơiiiiiiiiiii....” Tiếng gọi đò vang vọng trong chiều thinh tĩnh lặng. Một con quạ già hé mắt nghển đầu nhìn xuống. Những con khác cũng chả buồn nhúc nhích cái thân hình xác xơ đen nhẻm. Nhưng có vẻ chúng cũng hơi khó chịu khi cái giọng trẻ trung rền vang kia phá dòng suy tư của mình. Bằng chứng là chúng chụm đầu vào nhau gục gặc, hơi có tiếng chí chóe, ra điều bàn bạc gì đó...

Tốp lính có mười hai người. Gọi là một tiểu đội. Con đò gỗ do ông lái già chèo sang, cặp bến.


“Sao các chú lại đi đường này?”

“Nhiệm vụ quân sự, bí mật bố ạ!” Một tay lính có vẻ láu lỉnh nhanh miệng trả lời.


Họ ngồi thành hai hàng, hai bên thành đò. Ba lô, súng để dưới lòng thuyền. Yên lặng nhìn mông lung ra dòng nước. Ông đò không hỏi gì nữa, rướn người chèo. Vừa chèo, ông vừa ngắm khuôn mặt của mười hai người trai trẻ. Trong ráng chiều đang buông nhanh, những khuôn mặt sáng láng trẻ trung như tạc vào dòng sông tím thẫm thành ra một bức tranh đẹp đẽ. Ông lái đò thốt nhiên thấy có gì đó cồn cào trong ruột và quặn nhói lên tim. Ông hít một hơi thở thật sâu rồi phà ra nhè nhẹ. Tay vẫn đều đặn đẩy mái chèo. Con đò chầm chậm sang ngang...


“Hết bao nhiêu tiền bố?”

“Các chú bộ đội không phải trả tiền. Đò này của hợp tác xã.”

“Vâng. Chúng con cám ơn. Chào bố.”

“Đi chân cứng đã mềm nhé.”


Ba lô trên lưng, súng trên vai, tốp lính trẻ đi lên khỏi bến sông. Trời đã tối hẳn. Dòng nước sau lưng đen sẫm phả hơi lành lạnh. Xóm ven sông le lói những ngọn đèn dầu. Tiếng chó sủa, tiếng gà kêu nhóc nhách. Tiếng người lớn gọi trẻ con về nhà ăn cơm í ới, léo nhéo... Tất cả những âm thanh ấy như có một áp lực vô hình dồn thêm xuống những đôi chân trẻ trung đã qua mấy ngày hành quân bộ từ những cánh rừng Đùng Đình, Mai Siu xuống. Những đôi chân thốt nhiên trở nên uể oải, chùng xuống. Đến trước mặt cái quán nhỏ duy nhất cạnh con đường xuống bến, cả mười hai đôi chân, không ai bảo ai, không ai rủ rê câu nào, nhất loạt rẽ vào.


“Các chú vào uống nước.” Một thiếu phụ trẻ vừa vặn to ngọn đèn dầu lên, vừa đon đả mời chào.

“Có nước gì cho mỗi thằng chúng em một bát?”

“Có chè xanh nóng đây, mời các chú.”


Quán nhỏ. Một cái chõng tre trên bày ít quà quê. Vài nải chuối. Mấy gói kẹo lạc, kẹo vừng. Vài bao thuốc lá hiệu Nhị Thanh, Tam Thanh. Mấy cái bánh đa Kế, dăm quả trứng gà và có cả một cái điếu cày cùng mớ đóm ...



Những bát nước chè xanh bốc khói được rót ra. Lính trẻ ngồi quây ba mặt xung quanh cái chõng tre, xì xụp húp. Một tay bỗng hếch mũi lên hít hít: “Như là có mùi ngô luộc sao chị?” “Ngô non, chưa thành hạt, chị xin người ta ít đem nấu nước uống lấy sữa cho các cháu bú.” “À...”



Tốp lính nhìn ra phía sau lưng chị chủ quán. Đằng sau chỗ ngồi bán hàng một chút là cái giường đôi, trên đó có hai bé đang ngủ ngon lành, mặc kệ tiếng ồn ào của tốp khách vừa vào. Như có một phản xạ tự nhiên, tốp lính trẻ trầm giọng xuống. Hơi thảng thốt.


“Chị sinh đôi sao?”

“Vâng. Hai cháu gái.”

“Bố các cháu đâu rồi?”

“Bố các cháu đang trong chiến trường!”

         
Lặng yên.



Ngoài đường không thấy bóng người. Ngoài bãi sông tiếng côn trùng bắt đầu ri rích bài ca ăn sương muôn thủa. Tốp lính trẻ sau bát nước chè xanh nóng hình như bắt đầu tỉnh táo và quan sát nhanh như thường lệ. Không gì lọt qua mắt họ. Một cái quán đứng lẻ loi cạnh xóm bên con đường xuống bến đò. Một người phụ nữ trẻ đang nuôi con nhỏ, dáng vẻ lam lũ nhẫn nhịn nhưng vẫn toát lên vẻ hấp dẫn của đàn bà vừa qua một lửa. Vẫn bập bùng mơ hồ đâu đó hòn than hồng ấp iu trong tro bụi đời thường. Hai đứa con của đồng đội đang ở nơi xa... Dường như có mối liên hệ nào đó bỗng dưng được thiết lập. Họ ngỏ ý nhờ bếp nấu bữa cơm tối.


“Chúng em nấu luôn cơm cho chị cùng ăn nhé?”

“Các chú vào bếp mà nấu đi, chị hết gạo rồi, tối nay ăn sắn luộc.”

“Thôi, sắn để sáng mai chị ăn. Tối nay chị ăn cơm với chúng em.”


Họ mở vung cái nồi to trên bếp ra. Dưới là những bắp ngô non chưa thành hạt để nguyên cả râu, cả áo luộc. Trên hấp vài củ sắn đã lột vỏ, đựng trong một cái rá tre nhỏ. Mùi ngô non hòa quện với mùi sắn vừa chín tới bốc lên theo hơi nước nghi ngút, thơm nức. Họ đậy vung lại, nhấc nồi đặt xuống cạnh bếp tro. Nồi quân dụng được đặt lên. Lửa nổi to. Lính tráng vốn rất nhanh nhẹn trong việc này, chỉ nửa tiếng sau, cơm canh đã sẵn sàng. Có rau su hào vừa vào dân xin được, luộc, nước giầm cà chua. Có thịt hộp mở ra, thái miếng, kho mắm ruốc thơm nức. Vừa nấu ăn vừa nói chuyện, tốp lính đã kịp biết chị chủ quán cũng từng là bộ đội Trường Sơn. Gặp và yêu anh lính lái xe. Họ quá đà. Chị sinh con, giải ngũ về quê chưa lâu. Làng nước ong ve không ở được chị ra đây cất cái quán đợi người về. Bố hai cháu bị điều biệt vào trong chiến trường Đông Nam Bộ gần năm nay không thấy tin, chả biết thế nào. Tình quân dân, tình đồng đội, và hình như là cả tình nam nữ tự nhiên, bỗng hòa trộn vào nhau thành một cái gì đó thân mật khó nói nên lời. Về tối đò nghỉ, quán hết khách, tấm liếp chắn cửa được hạ xuống. Đồ hàng cho thúng đậy lại. Cái chõng tre được dựng lên chèn gọn vào cửa. Tăng võng được trải ra ngay bên dưới nền. Hai mâm cơm lính sẵn sàng. Chỉ có một ngọn đèn dầu được đặt cao trên đầu giường. Hai bé gái sinh đôi đẹp như tranh vẽ vẫn ngủ ngon lành. Mười hai chú lính vừa nấu ăn, vừa tranh nhau đứng quanh giường ngắm nhìn hai thiên thần bé bỏng miên man trong mộng, môi mọng đỏ, chúm chím cười mơ. Họ bảo chị chủ quán, chúng em vào chiến trường, gặp anh ấy sẽ xin cấp trên cho mười hai thằng đánh bù, để bố nó về nuôi con...


         
Bữa cơm quân dân đoàn kết tối ấy thật ngon. Cơm xong có chè xanh bốc khói thơm nức.


“Các chú đi về đâu?”

“Bọn em xuống tập kết ở ga Sen Hồ rồi lên tàu xuôi Nam chị ạ.”

“Thế sao không lên tàu từ ga Bắc Giang mà phải vòng vo qua bến làm gì?”

“Bọn em toàn lính sinh viên đại học năm thứ nhất vừa vào, chưa quen gian khổ, trên bắt đi bộ rèn thêm để vào chiến trường.”

“Ừ... vào trong đó ác liệt lắm. Phải nhanh nhẹn mới được.”

“Chị cho chúng em ngủ lại đây, sáng mai dậy đi sớm nhé?”

“Chỉ sợ chật.”

“Mùa đông chật chút không sao. Chúng em trải tăng võng dưới đất, nằm đắp chăn ôm nhau càng ấm.”


Câu chuyện đang vui thì hai bé choàng dậy. Hai đôi mắt tròn vo đen láy ngơ ngác. Các chú lính reo lên: “Ôi xinh quá, ra chú bế cái nào.” Họ vụng về và âu yếm chuyền tay nhau hai thiên thần thơm nức mùi sữa mẹ. Hai bé ọ ẹ đòi ăn. Chị chủ quán bảo, thôi các chú đưa cháu cho chị, trải bạt mà nghỉ, mai còn phải đi một thôi đường nữa. Từ đây xuống Sen Hồ dễ đến hơn chục cây số...



Thiếu phụ ngồi trên giường. Khẽ khàng quay lưng lại, bật cúc áo, hai tay ôm hai đứa trẻ, khéo léo nhẹ nhàng đưa núm vú vào miệng chúng. Vừa cho con bú, vừa bảo, “Một chú gạn cho chị xin một cái âu to nước ngô để trên giá đầu giường, đêm chị uống có thêm sữa cho hai cháu bú. Hai cháu các chú háu ăn lắm.”


       
Sáu chú lính nằm bạt đắp chăn dưới đất song song với chiếc giường của ba mẹ con. Sáu chú lính nằm phía đầu giường châu đầu lại hình thước thợ. Họ nằm yên lặng không nói thêm gì nữa. Dường như một ngày hành quân với đủ thứ trang bị trên lưng đã đủ mệt, khiến cho họ chìm nhanh vào giấc ngủ. Những hơi thở đều đặn vang hòa vào nhau tạo ra một thanh âm là lạ. Ngọn đèn dầu vẫn được đặt trên cái giá cuối giường, vặn nhỏ hết cỡ chỉ còn hắt ra chút ánh sáng mờ xanh hư ảo.

Thỉnh thoảng một cơn gió lạnh lọt vào rung rinh. Hai đứa trẻ vẫn chùn chụt bú say mê. Bà mẹ trẻ ngồi xoay lưng lại cho con bú hồi lâu chắc mỏi. Không thể nằm xuống giường mà cho cả hai con bú một lúc được. Chị xoay người lại, hai tay vẫn hai đứa, dựa lưng vào bức vách phía sau gian quán cho đỡ mỏi. Áo vẫn mở rộng buông lơi. Cặp vú to mọng của đàn bà đang nuôi con sáng lóa trắng toát trong đêm. Tiếng chóp chép chụt chịt của những cái miệng xinh non đang ra sức mút. Mùi thơm nồng ngậy của sữa mẹ sực nức khắp gian quán nhỏ đóng kín. Hai đứa trẻ quả là những đứa bé háu ăn, chúng vẫn say mê bú. Hai cặp môi xinh non không còn ham ăn cắn dứt chộp choạp như lúc đầu. Dường như đã sắp no. Chúng mơn man trên núm vú như vừa ăn vừa giỡn. Cặp môi xinh của con mơn man dịu nhẹ khiến cho thiếu phụ thốt nhiên có cảm giác là lạ mơ hồ dâng lên trong người. Cơ thể dường như ẩm ướt và râm ran khó tả.

Ánh mắt thiếu phụ đang đăm đắm nhìn các con rồi chiếu ra xa mơ màng. Ánh mắt lướt qua những thân hình trai trẻ khỏe mạnh đang nằm ngồn ngộn bên dưới. Hình ảnh người cha hai đứa trẻ bỗng từ trong ký ức chưa xa hiện về sống động. Anh ấy cũng trong bộ quân phục màu xanh quen thuộc, cũng đang nằm nghỉ thế kia sau một chặng hành quân đường dài. Rồi anh ấy đứng dậy. Đến bên. Hôn con. Hôn mẹ. Và... Thiếu phụ chợt rùng mình. Lâu lắm cảm giác của một người đàn bà mới trở về rõ ràng và đột ngột như vậy. Thiếu phụ hơi bặm môi, khẽ lắc mái đầu như cố xua đi một ý nghĩ nào đó vừa rực lên. Nàng rung tay nhè nhẹ à ơi ru: “Ả à ơiiiii..../ bồng bồng cõng chồng đi chơi/ đi đến chỗ lội à đánh rơi mất chồng/ ai ơi tôi mượn gàu sòng/ để tôi tát nước cho chồng tôi à lên... ả à ơiiiii...”

Ngọn đèn dầu leo lét cuối giường bỗng nhiên lóe sáng lên. Soi rõ cả khuôn mặt thanh tú của thiếu phụ đang cúi xuống nhìn ngắm hai con mình đang thiu thiu ngủ, miệng vẫn tóp tép trên vú mẹ chưa rời. Và khuôn ngực căng mọng tràn trề dường như hồng rạng lên trong ánh cuối của ngọn đèn trước khi tắt phụt...

“Ôi, hết dầu rồi!”

Tiếng thiếu phụ rên lên nho nhỏ, than vãn, như là nhận lỗi.


Đêm vẫn yên ắng. Vài nhịp thở bỗng nhiên lộn xộn lao xao đứt quãng. Bên ngoài vẫn chỉ có những khúc ca râm ri bất tận của lũ côn trùng. Những con chuột hay chạy kiếm ăn đêm mọi hôm, nay sợ rét hình như cũng rúc kỹ trong hang. Hai đứa bé được bú no, ủ ấm lại ngủ ngon lành trên chiếc giường duy nhất trong quán. Thiếu phụ nằm nghiêng, quay lưng ra ngoài, xoay mặt về phía hai con. Trên thân mình phủ hờ chiếc chăn mỏng không đủ để che lấp đi một đường cong uốn từ bờ vai tròn, xuống eo, lượn lên nơi hông đầy đặn rồi xoải ra mềm mại thon thả mờ mờ trong đêm...


       
Đêm. Vẫn là đêm. Mờ ảo.


Hơi thở của những người trẻ đang nồng lên trong đêm tĩnh lặng của miền quê ven sông. Ngày mai, những người trai trẻ ấy sẽ lên tàu, xuôi Nam. Họ sẽ vào chiến trường. Họ bỏ lại gia đình. Bỏ lại quê hương. Họ có người yêu chưa? Họ đã từng cầm tay một người con gái nào chưa? Họ đã được nếm vị ngọt của nụ hôn tình ái chưa...


Lúc nãy, khi trò chuyện, cùng ăn bữa cơm với những người lính trẻ, thiếu phụ cảm thấy mình như vẫn đang sống trong binh trạm Trường Sơn hồi chưa xa. Bên đồng đội. Và bên người yêu của mình. Cũng chỉ mới đây thôi mà nay đã là ngàn trùng xa cách, không biết có còn được gặp nhau nữa không. Chiến tranh ác liệt chả ai nói trước được điều gì. Mấy năm trong chiến trường thiếu phụ đã kịp chứng kiến vô vàn cái chết, với muôn vàn kiểu chết khác nhau mà chỉ lão thần chiến tranh hung bạo mới nghĩ ra được. Mười hai người trai trẻ trung kia, mai họ sẽ vào trong đó. Và rồi...
Và rồi họ có trở về không?


Thiếu phụ bỗng thấy trào lên trong lòng một tình thương da diết. Ứa nước mắt. Thương những người trai trẻ mai sẽ vào tuyến lửa. Thương bố của các con mình giờ này không biết còn hay mất. Và thương mình...


Những câu hỏi, những suy nghĩ mông lung, như những sợi tơ trời, tung lên không gian đặc quánh hơi thở nồng nàn của gian quán nhỏ. Vấn vít vào nhau như một mớ bòng bong. Có lúc không gian như ngưng lại. Tĩnh lặng tuyệt đối. Nghe rõ cả những hơi thở dài sâu thăm thẳm đã cố kìm nén của thiếu phụ trẻ...

“Chị ơi...”

Run rẩy và nhẹ bẫng...

“Gì em...”

Thoảng nhanh không hề ngái ngủ.

“Em... em... nhớ mẹ...”

“Sao...?”

“Chị cho em ôm một tí...”

“Vào đây. Ôm chị đi...”


Thiếu phụ với tay chèn chăn cho hai con. Xoay người lại đón. Cậu lính trẻ rúc gọn vào ngực người đàn bà đang nuôi con nhỏ. Bộ ngực to dập dềnh ấm nóng. Mùi sữa thơm nức. Chút sữa thừa ứa ra lần áo. Cậu lính trẻ rúc mặt xuống, thè lưỡi nếm. Ngọt lành. Cái lưỡi mềm mại chạm vào đầu ti qua lần vải mỏng. Chỉ thế là đủ cho một dòng điện chạy xoẹt từ đỉnh đầu đến gót chân. Tê dại. Hai thân thể cong lên, dính chặt vào nhau trong vô thức.


“Chị ơi...”

“Em nhớ người yêu...”

“Em nhớ bạn gái...”

“Em nhớ cô hàng xóm...”

“Em nhớ bạn học...”

“Em nhớ....”

“Em nhớ....”

“Em cũng nhớ...”

“Chị ơi!”

Thiếu phụ mở to mắt, long lanh.


Những đôi mắt trẻ trai sáng rực trong đêm quây quanh giường từ lúc nào. Khẩn thiết. Đợi chờ. Van xin. Thiếu phụ hiểu họ muốn gì. Nàng ra hiệu cho họ về chỗ nằm. Nhẹ nhàng ngồi dậy. Chèn thêm chăn cho hai con. Tuột hẳn chiếc áo xuống giường. Phần thân trên và bộ ngực to căng tràn trắng lóa tỏa ra một thứ ánh sáng mơ màng thần bí trong đêm. Nàng luồn xuống, thả mình vào giữa những người trẻ trai đang khao khát cực điểm. Những tiếng rên rỉ sung sướng cất lên át cả tiếng côn trùng ăn đêm. Tiếng hơi thở dồn dập nóng bỏng nồng nàn. Những thanh âm đứt quãng xôn xao. “Mẹ em đây...” “Chị em đây...” “ Người yêu em đây...” “ Bạn gái em đây....” “ Của em đây...”. Hối hả. Gấp gáp. Nóng rực.

Cả gian quán nồng nàn hương đàn bà, hương trai trẻ thanh tân, hương sữa mẹ...  Ba thứ hương ấy hòa trộn với nhau thành một mùi hương thơm lạ lùng đê mê trong đêm. Nó như một thứ hương thơm thần thoại trong cổ tích làm cho con người ta mê mụ. Nó khiến con người ta làm những việc điên rồ theo tiếng gọi của bản năng mách bảo. Những thân thể trẻ trung quấn riết chặt lấy nhau thành một khối. Rồi họ cùng nhau bay lơ lửng trên thiên đường của hoa thơm trái ngọt, của ánh sáng rực rỡ và hạnh phúc tột cùng. Họ cùng nhau bay về miền cực lạc. Tưởng như những phút giây ngọt ngào ấy sẽ không bao giờ chấm dứt...


Nhưng bên ngoài trời đã bắt đầu rạng sáng. Vài chú gà trống chăm chỉ trong xóm đã bắt đầu cất lên bài ca muôn thủa của mình.

        
Mười hai chú lính chia tay thiếu phụ.



Trong ánh sáng mờ của ngày mới sắp đến, hai bé gái vẫn ngủ say như thiên thần. Không ai bảo ai, họ lấy trong ba lô ra, gạo, thịt hộp, lương khô... Và cả những bánh xà phòng giặt của Liên Xô viện trợ đen sì, rắn đanh, để trên giường. Họ để lại cho hai bé. Họ cùng ôm lấy thiếu phụ không muốn dời. Họ hứa sau chiến tranh, dứt khoát sẽ quay trở lại bến sông. Nếu anh ấy không về, họ sẽ nuôi hai bé...



Tiểu đội lính lên đường lúc rạng sáng. Họ đi bộ xuống ga Sen Hồ, lên tàu xuôi về Vinh. Họ hành quân trong đội hình đi về phía Nam.



Đến đầu năm Ất Mão (1975), họ đã hầu như đi dọc chiều dài đất nước. Họ trong đội hình dự bị chiến lược của quân đội nên luôn ở phía sau. Tháng tư năm ấy, khi những khẩu AK mới tinh, nòng còn nguyên ánh thép xanh chưa kịp bắn viên nào thì họ đã có mặt trên chiếc xe quân sự tiến vào Sài Gòn. Vẫn nguyên một tiểu đội mười hai người. Họ mỉm cười hân hoan nghĩ ngày chiến tranh sắp kết thúc. Họ sắp trở lại giảng đường đại học. Và họ sẽ cùng nhau trở lại bến sông...


        
Bỗng một tiếng nổ kinh trời và một quầng lửa da cam bùng lên.



Một quả mìn chống tăng còn sót lại trên đường phát nổ, đúng vào chiếc xe chở mười hai chàng lính trẻ.


        
Họ bay lên, bay lên, bay lên mãi mãi....



Trên môi họ, nụ cười chưa kịp tắt. Họ vẫn đang mơ về giảng đường và cái bến sông đêm nào. Cái bến sông họ đã để lại một phần tuổi trẻ, mà họ cũng còn chưa kịp biết tên của nó là Bến Chia Ly trong huyền thoại.


Nhưng cũng đúng lúc linh hồn mười hai chàng trai trẻ bay lên, thì tại bến sông xưa, đàn quạ già vẫn đậu trầm mặc trên ngọn cây gạo, bỗng hốt hoảng tung mình bay loạn xạ lên trời cao. Vừa bay vừa kêu những tiếng thê lương ai oán... quạ... quạ... quạ....


                                                                              TRẦN THANH CẢNH
                                                                                      
(từ: hopluu.net)
                                                            
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, February 16, 20207:21 AM(View: 85)
Hồ Trường An là một trong những nhà văn nền móng của văn học hải ngoại, cùng với Nguyễn Mộng Giác, Du Tử Lê, Võ Đình, Kiệt Tấn; trẻ hơn có Đỗ Kh. và Trần Vũ. Nhưng Hồ Trường An đã không được đánh giá đúng mức, thậm chí còn bị coi thường, với những biệt hiệu như nhà văn miệt vườn, bà già trầu... mới nghe tưởng là tôn vinh, thực ra, ẩn dấu một sự kỳ thị ngầm có ý chê bai tiếng Nam quê mùa, lại được Hồ Trường An kể lể dài dòng như đàn bà con gái. Tên thật là Nguyễn Viết Quang, Hồ Trường An là bút hiệu chính, ông còn ký những tên khác: Đào Huy Đán, Đinh Xuân Thu, Đông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Đoàn Hồng Yến và Đặng Thị Thanh Nguyệt. Hồ Trường An có nghiã là họ Hồ ở chợ Trường An (gần chợ Vĩnh Long). Và họ Hồ này "phải là" con cháu Hồ Biểu Chánh. Hồ Trường An sinh ngày 11/11/1938 tại xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình có truyền thống văn học. Cha là nhà thơ Mặc Khải (tên thật là Nguyễn Viết Khải),
Wednesday, February 12, 20209:06 PM(View: 238)
Ngày 31 tháng 1, năm 2020 Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh của Báo Người Việt phổ biến một thông báo với nội dung: Thông báo gửi toàn thể nhân viên NV. Xin thông báo cùng các bạn, kể từ ngày Jan 15, 2020, ông Đinh Quang Anh-Thái. và kể từ ngày Jan 24, 2020, ông Đỗ Quý Toàn, hai ông sẽ không còn làm việc với công ty NV dưới bất cứ mọi hình thức nào khác! Như thế là thế nào? Dẫu không phải là nhân viên hoặc cộng tác viên của NV, nhưng do một cơ duyên đã cho bản thân cá nhân dịp tìm hiểu, giao tiếp với người sáng lập Người Việt, Đỗ Ngọc Yến từ những năm 50, 60 qua các hoạt động Báo Ngàn Khơi (1957), Trại Hướng Đạo Trãng Bom (1958); mối giao tiếp càng chặt chẽ hơn trong thập niên 70 khi cộng tác với Đỗ Ngọc Yến qua Báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc ở Sài Gòn. Sau hơn nửa thế kỷ quen thân từ Đỗ Ngọc Yến, bản thân dần biết thêm Đỗ Quý Toàn, Đinh Quang Anh Thái và hiểu ra giữa họ có một Giây Liên Lạc – Mối Ân Tình Huynh Đệ Rất Chặt Chẽ. Vậy tại sao có lần đỗ vỡ quá đổi bất ngờ và ngạc nhiên như vậy đã
Monday, February 10, 20208:25 PM(View: 72)
Có người vặn vẹo tôi: Ông bịa chuyện vừa thôi, lão Tư Lâm vốn là thợ kéo mật, sau ba năm học bố túc văn hóa về làng Tào, nếu không phải đảng viên thì lão ta dù là con ông giời cũng chả ai cho làm chủ nhiệm hợp tác xã, chứ đừng nói được bầu làm chủ tịch… Bạn đọc trách tôi cũng có lý, lẽ ra tôi phải kể chuyện lão Tư Lâm được kết nạp đảng như thế nào trước khi kể chuyện lão được làm chủ nhiệm hợp tác xã, cũng như chuyện đảng viên của mụ Tuyền Bếp. Vâng, xin đa tạ sự quan tâm góp ý của bạn đọc và những người quan tâm tới làng Tào. Lão Tư Lâm sau khi học bổ túc văn hóa được ba tháng thì người ta phát hiện lão chưa phải là đảng viên, việc này được báo cáo lên lãnh đạo huyện. Nhiều người trong Thường vụ huyện ủy giật mình: Cán bộ nguồn mà không phải là đảng viên thì sao gọi là cán bộ nguồn được? Chủ tịch Hoàng Nhất Nam cười ruồi: - Một quần chúng như đồng chí Tư xứng đáng hơn nhiều đảng viên. Đảng cần mở cửa đón những người dám nghĩ, dám làm như đồng chí Tư đã mang lại lợi ích vô
Monday, February 3, 20208:06 PM(View: 125)
Sau này nghĩ đến chị Ngát làm tôi nhớ đến cả miền Bắc mà tôi đã xa nó từ năm 1952. Cái tên của chị quả hăm mốt năm ở miền Nam tôi rất ít hoặc không hề nghe, nó như một cái tên đặc trưng của gái miền Bắc. Khi tản cư qua Điền Hộ mùa hè năm ấy, tôi mới tám chín tuổi. Dọc đường, nhiều khi gia đình còn phải thuê người gánh hai anh em tôi mỗi đứa mỗi đầu. Những dòng sông, con đê, những thửa ruộng nứt nẻ, những đứa trẻ cỡ tôi vỏn vẹn với cái quần đùi, chăn trâu trên những cánh đồng cỏ cháy, những mẹ già mặc váy đụp lúp xúp quang gánh đi bên đường, những chiếc xe đò chạy bằng lò than chết máy dọc đường đang được đám lơ tài quay cho máy tái nổ, những ngôi nhà vách rơm trộn bùn, những thánh đường lỗ chỗ dấu đạn… Điền Hộ cuối thời chống Pháp, sang thời Việt Minh kiểm soát trong mắt tôi là như thế. Những sản phẩm từ mạn ngược, xứ Thanh của tôi, từ những chum vại Lò Chum cho đến nước mắm Kẻ Bạng Ba Làng, qua cửa Thần Phù, đem vào đây để phân phối đi xuống phương Nam gần như vắng bóng. Hơn một
Friday, January 31, 20207:20 AM(View: 139)
Đầu thập niên 70, tôi đã sống hơn một năm tại một căn phòng trên lầu ngôi biệt thự ở đường Hoàng Diệu, Sài Gòn. Phòng không có máy lạnh, cửa sổ mở tối ngày cho thoáng, trên trần lúc nào cũng có vài ba con thạch sùng, trông rất ngứa mắt. Một hôm, bạn thân Lê Triết đem cho khẩu súng bắn hơi “baby gun”, với một hộp đạn chì 500 viên, nói là để thỉnh thoảng bắn thạch sùng cho đỡ buồn. Nhưng tôi chỉ bắn thử vài con, rồi thôi. Vì xác chúng rơi xuống, cái đuôi vẫn còn giãy một hồi, ớn lắm. Có khi chỉ có đuôi rớt xuống, còn nạn nhân cụt đuôi chạy mất tiêu. Cách phòng tôi chừng bốn mét, là dãy nhà phụ phía sau, nối với nhà chính bằng lối đi ở cả tầng trệt và tầng lầu. Đối diện với cửa sổ phòng tôi là một sân thượng nhỏ, đầu dãy nhà phụ, bên hông nhà bếp của tầng lầu. Góc sân thượng có thùng rác. Hàng ngày, tôi chứng kiến một đàn chuột khá đông, con nào cũng lớn bằng cổ tay, kéo tới kiếm ăn bên trong, hoặc quanh thùng rác. Khi chúng tới, có một con đi đầu, chắc là lãnh tụ. Nhưng khi chúng bới