DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,374,719

Nguyễn Quang Lập - Nguyễn Văn Tý: Ngồi thức với xa xăm

Friday, January 3, 20206:32 PM(View: 1067)
Nguyễn Quang Lập - Nguyễn Văn Tý: Ngồi thức với xa xăm

                                                       Nguyễn Văn Tý
                  Ngồi thức với xa xăm

 
blank
                                                                                                                             Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý (1925-2019)


Kỉ niệm 35 Ngày thống nhất, cũng kỉ niệm luôn ngày sinh nhật của mình he he, mình ngồi ở quán Đo Đo với mấy anh chị em TNXP đồng đội năm xưa của Nguyễn Nhật Ánh, uống rượu và hát liên miên bài này sang bài khác. Mấy cô văn công năm xưa nay đã U50 rồi mà giọng hát vẫn trong vắt trẻ trung, mắt lúng la lúng liếng thật dễ thương.

Thích nhất hai bài Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao và Dư âm của Nguyễn Văn Tý, mình bắt mấy cô hát đi hát lại hoài. Anh Nhượng (Nguyễn Khắc Nhượng, nguyên TTK toà soạn báo Thanh Niên) ngồi cạnh mình, ghé tai mình nói, cụ Tý bây giờ sống khổ lắm. Nghe biết vậy chứ cũng chẳng hỏi gì thêm.

Mình không quen Nguyễn Văn Tý, duy nhất một lần thấy cụ ở Đồng Hới, hình như năm 1970 thì phải. Lúc đó cụ đã hơn 45 tuổi rồi mà vẫn rất phong độ, đẹp trai cực, miệng rộng môi tươi, cười có lúm đồng tiền sâu hoắm. Hồi này cụ đã nổi tiếng lắm rồi, dân Quảng Bình quên ai thì quên chứ Hoàng Vân và Nguyễn Văn Tý thì không bao giờ quên.

Khi cụ từ hội trường tỉnh uỷ đi ra, bao nhiêu cô nhìn cụ với những cái nhìn ngưỡng mộ thèm khát bốc cháy như muốn ăn tươi nuốt sống cụ. Bảo đảm chỉ cần cụ vẫy khẽ cái là có cả chục cô chạy theo liền. Cụ nổi tiếng đào hoa, nhạc sĩ chuyên trị phụ nữ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, những bài hát về phụ nữ của cụ đều hay. Tất nhiên vô thiên lủng phụ nữ say mê cụ, khỏi phải nói.

Bài Dư âm là kết quả của cuộc tán gái bất thành của Nguyễn Văn Tý, hi hi. Năm 1950 khi cụ là đoàn trưởng đoàn văn công sư đoàn 304, cụ đến tán cô chị 21 tuổi nhưng cô em 16 tuổi lại mê luôn cụ. Cụ cũng chết mê chết mệt cô em, thả luôn cô chị. Gia đình tức lắm, cấm cung cô em, cấm cửa không cụ cho được đến nhà. Cái gì bí tất sẽ phát, bài Dư âm đã rời đời trong một đêm điên cuồng vì yêu của cụ. Chuyện này mình nghe qua radio trong taxi cách đây mấy năm rồi.

Hôm nay sinh nhật mình, Đỗ Trung Quân mang đến cho chai rượu, anh ngồi thừ, nói, cụ Tý vừa gọi điện cho tôi, buồn quá. Mình hỏi sao, Quân nói, từ ngày bị tai biến liệt nửa người, cụ sống một mình khổ nghèo buồn tủi, tội lắm. Cụ gọi điện cho tôi, nói Quân ơi mai ba mươi tháng tư có chương trình văn nghệ nào vui cho mình đi xem với. Cụ có cả một Hội nhạc sĩ, một tấn bạn bè nhạc sĩ ca sĩ lại đi hỏi mình, nghĩ cái sự đời mà chán.

Té ra Nguyễn Văn Tý ở rất gần chỗ mình, đi bộ chừng chục phút là đến nhà cụ. Mình gõ cửa, từ chỗ cụ nằm ra cửa không đầy bốn mét mà cụ phải đi chừng năm phút, đúng hơn cụ lết chứ không phải đi, toàn thân run lẩy bẩy, lúc nào cũng có cảm tưởng cụ sắp đổ xuống sàn. Duy nhất gương mặt đẹp lão vẫn còn tươi tỉnh còn tất cả đều tàn tạ, cả thân xác lẫn căn hộ ám khói nơi cụ sống.

Cụ chẳng biết mình là ai, có lẽ cụ chẳng đọc một chữ nào của mình, nhắc tên Nguyễn Quang Lập hai ba lần cụ chỉ nhăn răng cười trừ, nhưng mà cụ vui, vui lắm. Cụ lập cà lập cập đòi pha trà uống nước, mình ngăn mãi không được. Cụ nhìn quanh quất chép miệng, nói, có lon bia mình uống mất rồi, không có mời Lập. Chỉ chừng ấy thôi mình biết cụ thèm khách đến nhường nào.

Mình hỏi bạn bè có hay đến thăm anh không (giới văn nghệ ai lớn tuổi hơn mình đều gọi bằng anh, không chú bác gì hết), cụ cười nhẹ khẽ lắc đầu, nói chỉ còn một thằng thôi, thằng này tháng nào nó cũng đến thăm, cho hai trăm ngàn, tháng nào nó bận không đến thì tháng sau nó cho bù bốn trăm.

Mình ngước lên bức tường thấy bức ảnh cụ chụp chung với nhạc sĩ đại ca được phóng to treo rất trang trọng. Mình biết nhạc sĩ đại ca là bạn chí thiết của cụ từ hồi chống Pháp, hơn nửa thế kỉ chia ly nay cả hai đã gặp nhau, sống cùng thành phố. Trong khi cụ đã tàn tạ, đếm ngày xuống lỗ thì nhạc sĩ đại ca vẫn rất hoành tráng, tiền nhiều như quân Nguyên.

Mình chỉ tấm ảnh cười cười, nói, Đại ca không đến thăm anh à? Cụ cười hiền lành, nói, thằng đó thì tính làm gì. Thời kháng Pháp nó ốm nặng, nằm ở nhà mình cả tháng. Mẹ mình có đàn gà 12 con, lần lượt thịt từng con một nấu cháo cho nó ăn, ăn đến con thứ 12 nó ngước lên hỏi mẹ mình một câu lạnh tanh, nói, đây là con cuối cùng à? Thế thôi.

Cụ kể, giọng nửa đùa nửa thật, (tới giờ mìn cũng chẳng biết thật hay không nữa), nói, tưởng đến chết nó cũng không thể quên chuyện đó, chẳng ngờ anh em gặp nhau, nhắc đến chuyện cũ nó không hề nhớ gì, ngơ ngác hỏi, gà nào nhỉ gà nào nhỉ? Đỗ Trung Quân ngồi cạnh, nói, chú có biết Đại ca viết hồi kí nhắc đến chú thế nào không? Cụ lắc đầu nói, không. Quân nói, Đại ca viết nguyên xi thế này nhé: “Tôi nhớ ngày đó trong văn công có một anh cán bộ tên là Tý, có làm nhạc..” Chú lừng danh với bài Dư âm trước cả khi gặp Đại ca, đúng không? Bạn bè thân thiết mà nói vậy là không có được.

Cụ cười khì khì, nói, nó còn nhắc tên Tý là may lắm rồi. Rồi cụ ngước nhìn ra cửa sổ khẽ thở dài, nói, bạn bè mỗi đứa một nết, trách nhau thì trách cả ngày. Mình nhìn cụ thấy thương thương, chợt nhớ chuyện Quân kể năm ngoái chương trình âm nhạc của Đại ca được làm rất hoành tráng, vé bán hai triệu đồng một cặp, không được Đại ca cho vào danh sách khách mời nhưng cụ vẫn đến. Có người nói, người ta đã không mời, anh đến làm gì. Cụ nói, chương trình âm nhạc của bạn tôi tại sao tôi không đến!

Cụ đứng rúm ró ở cửa nhà hát không biết làm sao có được cái vé, may gặp Đỗ Trung Quân, anh kéo cụ vào, nói, cháu cũng không có vé nhưng cháu xin vào được. Quân xin bảo vệ cho vào, bố trí cụ ngồi một ghế trống, nói, chú cứ ngồi đây, nếu có ai đến đòi ghế chú cứ dơ tay lên là cháu vọt tới liền. Cụ ngồi thắc thỏm không yên, hễ có ai tới gần là cụ nhỏm dậy lúng ta lúng túng. Trong khi Đại ca bận rộn bắt tay bắt chân quan khách thì cụ ngồi lo bị đuổi ra khỏi ghế.

Một cặp vợ chồng trẻ đến, nói, chú ngồi lộn ghế tụi cháu rồi. Mặt cụ tái nhợt, nói, vâng vâng… rồi ngồi đực mặt không biết làm gì. Đỗ Trung Quân vọt đến, nói, đây là nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, cụ không có vé. Cặp vợ chồng trẻ mắt trố miệng há, nói, vậy mời chú ngồi, vợ chồng cháu ra sau đứng cũng được, nước mắt cụ dàn dụa, nói, cảm ơn cảm ơn… may quá may quá…

Quân nhắc lại chuyện này, nói, đó… chú thấy chưa, đời vẫn yêu chú lắm. Cụ mỉm cười lặng lẽ, cất giọng run run hát bài Ru người trăm năm, lời thơ của Trần Mạnh Hảo - “Ngủ đi người của anh ơi. Xin nhờ làn gió về nơi em nằm. Anh ngồi thức với xa xăm. Đến em phải vượt hàng trăm tinh cầu… Cách xa như đất với trời. Đêm đêm anh lặng ru người trăm năm.”

Đang hát cụ chợt dừng lại ngồi yên, nước mắt rân rấn. Mình hỏi, sao thế anh? Cụ lặng lẽ nhìn mình, nói tự nhiên nhớ bạn, bạn bè mình nhiều lắm.



Nguyễn Quang Lập
Sài Gòn Tháng 10-2012
(từ: bọ lập)


  Mời nghe nhạc Nguyễn Văn Tí:

Người Đi Xây Hồ Kẻ Gỗ - Phạm Phương Thảo






Image result for Chung chúc tân xuân 2020                                                               

Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content
hoa_65-contentTRần Yên Hòa 20
TYH và 3 con gái


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 141)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 168)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 432)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 370)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 293)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,