DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,242,472

VÕ CHÂN CỬU - “Gìn Vàng Giữ Ngọc”

Thursday, January 16, 20204:40 PM(View: 467)
VÕ CHÂN CỬU - “Gìn Vàng Giữ Ngọc”
                      “Gìn Vàng Giữ Ngọc”
 




DTL đầu gió


Dùng nguyên thành ngữ 4 từ trên làm tên cho một nhà xuất bản xuất hiện vào  những năm cuối của cuộc chiến 1954-1975, chắc hẳn người sáng lập-nhà thơ Du Tử Lê-đã gửi gắm vào đó nhiều ước vọng!
 
Đó là một nhà xuất bản chuyên in các sáng tác văn chương (thơ, truyện). “Vàng”, và “Ngọc” ở đây là những gì,  có đúng là “thứ thiệt” hay không?
 
Các ấn phẩm đầu tiên của Gìn Vàng Giữ Ngọc trong đầu năm 1974 lại là những…tập thơ (thường khó bán chạy như trào lưu sách diễn tình thời thượng). Đó là “Đời Mãi Ở Phương Đông” của chính “ông chủ” NXB, và Thơ Kim Tuấn của Kim Tuấn-một nhà thơ đã sống và đang là quân nhân ở tận chiến trường cao nguyên (Pleiku).
 
Trên tạp chí Tiền Phong của Quân đội VNCH cuối năm đó, dưới bút danh Lê Thụy Du, trong bài điểm sách “Thơ Kim Tuấn”, Du Tử Lê đã viết : “Tôi vẫn nghĩ văn chương của chúng ta, nhất là thi ca, thiếu hụt hẳn cái mầm xanh của trời, cái óng ả của cây cỏ, cái tươi mát, hùng vĩ của rừng núi. Bởi thế, Thơ Kim Tuấn đến với chúng ta, như một cơn mưa hiếm muộn đến với vườn đời khô nẻ. Thơ Kim Tuấn đến với chúng ta, như một phiến trời xanh, giữa không gian xám, úa”…
 
Những năm này ở miền Nam, do các biến động về mặt tinh thẩn xã hội sau những “hoá thân” , “sống vội” hoặc “nghi ngờ”, “phủ định tất cả” mà chủ nghĩa hiện sinh và các trào lưu tư tưởng triết học mang lại, giới cầm bút  đang có khuynh hướng “về nguồn”.
 
Bốn chữ “Gìn Vàng Giữ Ngọc” mà thi sĩ Du Tử Lê dùng, hình như cũng nằm trong xu hướng đó? Nhưng nếu thật sự đó chỉ là khát vọng trở về với thiên nhiên, về với :tình tự dân tộc”, thì …đơn giản quá. Ai cũng có thể làm được!
 
Mãi đến gần đây, sau nỗi bàng hoàng và tiếc nhớ khi anh Du Tử Lê  xa rời cõi tạm, ngồi  đọc lại những tàng thư liên quan, tôi mới hiểu hơn những gì ở phía sau 4 chữ của thành ngữ mà anh đã dùng làm tên gọi nhà xuất bản!
 
Ở Việt Nam trước đây cũng như hiện nay, các nhà văn nhà thơ thường có thu nhập chính từ một nghề nghiệp  không phải là sáng tác. Đa phần là nhà báo, đi dạy học, hoặc là công chức, quân nhân. Người làm nghề báo, tức cũng sống bằng nghề cầm bút, nhưng không phải để làm văn chương mà là chạy theo thời sự, cái viết ra phải theo ý kiến của người cầm chịch-tức chủ báo hoặc nhóm quyền lực sáng lập ra tờ báo. Nhà văn mà đi làm báo thời sự thì sau đó thường rất khó viết văn-vì dễ “đá lộn sân”!
 
Thi sĩ Du Tử lê cũng đã từng nhiều năm làm báo, là phóng viên chiến trường do Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính Trị quản lý. Khoảng năm 1973, anh được cử về làm Thư ký Toà soạn tạp chí Tiền Phong. Tạp chí ra hàng tháng; đứng tên chủ nhiệm là Đại tá Hoàng Ngọc Tiêu (tức nhà thơ Cao Tiêu). Anh đã không “đá lộn sân”!
 
Vừa về nhậm chức “nồi niêu soong chảo” cho tờ tạp chí này, Du Tử Lê đã “trình diện” trên đó hai bài thơ mới sáng tác (ghi sáng tác ngày 25-7-1973) của mình:
 
   
DTL Chủ biên tặng sách Đầu Gió
                                                                                                 thủ bút Du Tử Lê
 
 

Lạ lùng thay, trên tờ tạp chí văn nghệ “chính thống” của quân lực VNCH, vẫn là một Du Tử Lê  trong thay đổi nhịp điệu thơ lục bát; và cách chấm, phẩy theo hình tượng ý và chữ (ví dụ trong bài trích dẫn: …gió đi, tôi động, lòng rào rạt, xưa). Thơ không mang mệnh lệnh, cổ vũ, hô hào ra trận…đáng lẽ phải có ở một tờ tạp chí văn nghệ dành cho các chiến sĩ.
 
Tạp chí Tiền Phong từ đó không chỉ “khác lạ” với hơi thơ Du Tử Lê. Những quân nhân là các nhà thơ thời danh như Cao Tiêu, Hà Huyền Chi, Tạ Tỵ, Y Yên, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Bắc Sơn, Thái Tú Hạp, Vũ Hoàng, Hạ Quốc Huy, Phạm Lê Phan, Phan Lạc Giang Đông; lớp mặc áo lính trẻ hơn như Trần Dạ Lữ, Lê Nguyên Ngữ, Bùi Đức Long, Chu Ngạn Thư… xuất hiện thường xuyên ở đây. Báo mời được  cả các “lão thành văn nghệ” như Vũ Hoàng Chương, Bùi Khánh Đản, Song Hồ, Mai Trung Tĩnh..; cả những người không mặc áo lính vẫn có bài đăng, như Đỗ Nghê, Lê Phổ Đức, hay mới xuất hiện như Hoàng Trần từ Pleiku. Thơ đăng trên tờ Tiền Phong lúc này đa phần có chủ đề về tình yêu (thậm chí là tình phụ) và những cảm xúc về thiên nhiên, tình người…
 
Năm 2014, trong chuyến du lịch đến Mỹ, tôi được gặp lại thi sĩ Du Tử Lê. Và  anh đã xác nhận: Du Tử Lê coi như là chủ biên của tuyển tập thơ Đầu Gió xuất bản năm 1973. Sách dày 570 trang, bìa ghi rõ: tuyển tập những bài thơ thép; và “dành để tặng các chiến sĩ”. Tập hợp hơn 160 nhà thơ hiện thời của miền Nam, đa phần in lại những bài thơ hay, đã được nhiều người biết. Lạ lùng là trong “Tuyển tập những bài thơ thép” này, có mặt cả những nhà thơ không dính dáng gì với chiếc áo lính, như Nguyễn Đức Sơn, Lê Văn Ngăn, Phạm Ngọc Lư, Võ Chân Cửu, Hà Nguyên Thạch, Phạm Cao Hoàng…
 
Qua những gì thi sĩ Du Tử Lê ứng xử, tôi hiểu thêm rằng: những sáng tác hay chính là vàng, là  ngọc, cần phải gìn giữ cho đời. Và sau 1975 ở Hoa Kỳ, anh lại tự nguyện dành thời gian làm công việc đó.



                                                                           Võ Chân Cửu
                                                                                                                                  (Tác giả gởi)



Image result for Chung chúc tân xuân 2020                                                               

Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content
hoa_65-contentTRần Yên Hòa 20
TYH và 3 con gái



 

 
 
 
 
 
 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, March 24, 20208:31 AM(View: 58)
Trời Sydney mưa như thác đổ. Miên gọi điện thoại cho tôi, nói, “thằng” mô mà đòi trời không mưa anh cũng lạy trời mưa là em bắn bể đầu liền. Tôi phì cười. Nhưng chắc Miên không nghe tiếng tôi cười. Mưa ngoài khung cửa rộng mở át mọi thanh âm chung quanh tôi. Miên lặp lại phía bên kia đầu dây, em nói thiệt, trời như ri mà còn cầu trời mưa, không điên thì cũng khùng, không bắn không được. Và Miên chặc lưỡi, mưa chi mà mưa lạ mưa lùng, mưa kiểu ni, em không có nhà chừng hai tuần chắc cây khế của em chết quá. Tôi để cho Miên thở than. Cây khế Miên khuân từ tiểu bang này qua tiểu bang khác, cưng như cưng con. Lúc tôi mới về lại miền nam bán cầu, gặp nhau chưa kịp hết mừng, Miên đã khoe em có trồng cây khế, mai mốt chị tới nhà em cho coi. Vừa từ vùng trời lạnh lẽo Âu Châu qui cố hương, nghe nói đến cây khế, tôi thích quá, hớn hở theo Miên tới nhà xem. Sau thấy Miên cực khổ, tẩn mẩn như nuôi bịnh, tôi la làng. Tôi bảo: - Ngoài Cabramatta bán một ký khế mười hai đồng, tau đi mua
Sunday, March 22, 20208:15 AM(View: 259)
Chúng ta trở lại chiến trường với Tướng Quân Lê Minh Đảo và những người lính đang giữa trùng vây của lửa. Ở mặt trận Long Khánh, ngay từ ngày đầu của năm 1975, Sư đoàn 18 đã phải đối phó với tình trạng căng quân ra giữ vững vùng lãnh thổ trách nhiệm, cùng tập trung lực lượng để chiếm lại phần đất đã bị lấn chiếm. Tiếng gọi là một sư đoàn, nhưng Tướng Đảo chưa hề tập trung đủ lực lượng cơ hữu để điều động trong một cuộc hành quân quy mô cấp sư đoàn. Đầu tháng Ba 75, Trung Đoàn 48 lại tăng phái cho Sư Đoàn 25 trách nhiệm mặt trận Tây Ninh, vùng Tây Sài Gòn cũng chung Vùng III Chiến Thuật với Sư Đoàn 18. Thế nên khi trận chiến bắt đầu 9 tháng 4, 1975 ông chỉ có một lực lượng sư đoàn (trừ) gồm những đơn vị: Chiến đoàn 43 do Đại Tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy gồm trung đoàn 43 (trừ Tiểu Đoàn 2/43 đóng giữ các cao điểm quan trọng) gồm Tiểu Đoàn 2/52 (cơ hữu của Trung Đoàn 52); Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Phải nói qua đơn vị kỳ lạ này với sự tồn tại tưởng
Friday, March 20, 20205:01 PM(View: 56)
Chúng tôi vừa tìm được cuốn ghi chép về khoa thi Hương vào năm Thành Thái thứ 6 (1894) và khoa thi Hội vào năm Thành Thái thứ 7 (1895) của triều đình nhà Nguyễn. Cuốn sách có tựa đề "Ngọ Mùi hương hội" chia làm hai phần. Phần đầu là "Hà Nam trường Hương thí văn tuyển" do tượng nhân Liễu Chàng khắc ván in. Phần sau là "Hội, Đình văn tuyển" do nhà sách Đồng Văn sao chép. Phần "Hà Nam trường hương thí văn tuyển" gồm 3 mục. Mục 1 là danh sách Ban Giám khảo kỳ thi Hương năm Thành Thái thứ 6. Mục 2 là danh sách các cử nhân xếp theo thứ tự cao thấp, và mục 3 là tuyển chọn các bài văn sách của khảo sinh của 3 kỳ khảo thí, trong đó có bài của những thí sinh không đỗ nhưng xuất sắc cũng được đưa vào. Phần "Hội, Đình văn tuyển" không có mục danh sách ban giám khảo mà chỉ có danh sách các tiến sĩ, đồng tiến sĩ và phó bảng. Mục "văn tuyển", ngoài văn sách của các thí sinh trúng cách, người tuyển chọn cũng đưa vào một số bài của các thí sinh lạc đệ nhưng cũng xuất sắc qua các đợt khảo thí của
Wednesday, March 18, 20208:16 PM(View: 147)
Nữ danh ca Thái Thanh qua đời vào 11 giờ 50 phút ngày 17/3/2020 tại Orange County, California, hưởng thọ 86 tuổi. Nữ danh ca Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh), sinh ra và trưởng thành trong đại gia đình gắn liền với âm nhạc Việt Nam trong nhiều thập niên (Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Hoài Trung… và thế hệ thứ hai. Với giọng ca thiên phú và được tập luyện cùng người thân trong gia đình, năm 14 tuổi đã khởi nghiệp tiếng hát (Băng Thanh) và năm 17 tuổi đổi lại Thái Thanh khi vào Sài Gòn trong ban Thăng Long. Từ đó tên tuổi Thái Thanh đã được nổi tiếng trên Đài phát thanh Pháp-Á (Radio France Asie). Những ca khúc của người anh rể là nhạc sĩ Phạm Duy (chồng ca sĩ Thái Hằng) và người anh ruột là nhạc sĩ Phạm Đình Chương (ca sĩ Hoài Bắc) và nhiều ca khúc nổi tiếng với tiếng hát Thái Thanh được mọi người ngưỡng mộ “đệ nhất danh ca” giữa hai thập niên 50, 70’. Trước năm 1975 ở Sài Gòn, nhà văn Mai Thảo gọi danh ca Thái Thanh “Tiếng Hát Vượt Thời Gian” và năm 1971 xuất hiện đĩa nhạc
Saturday, March 14, 20205:19 PM(View: 75)
Chiếc cầu thang cong vòng, thảm đỏ, sang trọng, dẫn lên lầu vũ trường Maxim…từ thập niên 1970, là nơi quây quần giới phong lưu công tử Sài Thành, tuy mở sau các vũ trường khác, như Olympia, Paramount, Văn Cảnh, Tự Do…nhưng lại là nơi quý phái, khang trang nhất, sau này, khoảng 1973-74 có thêm vũ trường Rex, nhưng vắng, lạnh, hơn Maxim. Tôi vào Maxim’s, cùng với công tử Sóc Trang, gọi thế vì gia đình anh có ruộng thẳng cánh cò bay, sau này chương trình ruộng đất mỗi tháng trả cho anh vài trăm ngàn, vào thời điểm đi vũ trường chỉ mất 1500-3000 đồng! đã thế anh còn làm công, làm tư…sắm được chiếc xe Nash lái quanh Sài Gòn từ lúc lên đèn đến giờ giới nghiêm, thời ấy, nhà có điện thoại, có máy lạnh…đã là cao cấp lắm. Khoảng 1966, vào Thủ đức khoá Quân Y Dược, đêm nằm xem bạn bè chơi bài dưới sàn,tôi buột miệng than : Maxim vui, vũ nữ đẹp, nhưng đắt quá…tình cờ công tử Nh. nằm giường trên nghe thấy : zậy hả, đi với tôi, mình quen hết tài pán quản lý trong ấy, họ trừ ticket nhiều lắm!