DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,531,435

VÕ CHÂN CỬU - “Gìn Vàng Giữ Ngọc”

Thursday, January 16, 20204:40 PM(View: 2813)
VÕ CHÂN CỬU - “Gìn Vàng Giữ Ngọc”
                      “Gìn Vàng Giữ Ngọc”
 




DTL đầu gió


Dùng nguyên thành ngữ 4 từ trên làm tên cho một nhà xuất bản xuất hiện vào  những năm cuối của cuộc chiến 1954-1975, chắc hẳn người sáng lập-nhà thơ Du Tử Lê-đã gửi gắm vào đó nhiều ước vọng!
 
Đó là một nhà xuất bản chuyên in các sáng tác văn chương (thơ, truyện). “Vàng”, và “Ngọc” ở đây là những gì,  có đúng là “thứ thiệt” hay không?
 
Các ấn phẩm đầu tiên của Gìn Vàng Giữ Ngọc trong đầu năm 1974 lại là những…tập thơ (thường khó bán chạy như trào lưu sách diễn tình thời thượng). Đó là “Đời Mãi Ở Phương Đông” của chính “ông chủ” NXB, và Thơ Kim Tuấn của Kim Tuấn-một nhà thơ đã sống và đang là quân nhân ở tận chiến trường cao nguyên (Pleiku).
 
Trên tạp chí Tiền Phong của Quân đội VNCH cuối năm đó, dưới bút danh Lê Thụy Du, trong bài điểm sách “Thơ Kim Tuấn”, Du Tử Lê đã viết : “Tôi vẫn nghĩ văn chương của chúng ta, nhất là thi ca, thiếu hụt hẳn cái mầm xanh của trời, cái óng ả của cây cỏ, cái tươi mát, hùng vĩ của rừng núi. Bởi thế, Thơ Kim Tuấn đến với chúng ta, như một cơn mưa hiếm muộn đến với vườn đời khô nẻ. Thơ Kim Tuấn đến với chúng ta, như một phiến trời xanh, giữa không gian xám, úa”…
 
Những năm này ở miền Nam, do các biến động về mặt tinh thẩn xã hội sau những “hoá thân” , “sống vội” hoặc “nghi ngờ”, “phủ định tất cả” mà chủ nghĩa hiện sinh và các trào lưu tư tưởng triết học mang lại, giới cầm bút  đang có khuynh hướng “về nguồn”.
 
Bốn chữ “Gìn Vàng Giữ Ngọc” mà thi sĩ Du Tử Lê dùng, hình như cũng nằm trong xu hướng đó? Nhưng nếu thật sự đó chỉ là khát vọng trở về với thiên nhiên, về với :tình tự dân tộc”, thì …đơn giản quá. Ai cũng có thể làm được!
 
Mãi đến gần đây, sau nỗi bàng hoàng và tiếc nhớ khi anh Du Tử Lê  xa rời cõi tạm, ngồi  đọc lại những tàng thư liên quan, tôi mới hiểu hơn những gì ở phía sau 4 chữ của thành ngữ mà anh đã dùng làm tên gọi nhà xuất bản!
 
Ở Việt Nam trước đây cũng như hiện nay, các nhà văn nhà thơ thường có thu nhập chính từ một nghề nghiệp  không phải là sáng tác. Đa phần là nhà báo, đi dạy học, hoặc là công chức, quân nhân. Người làm nghề báo, tức cũng sống bằng nghề cầm bút, nhưng không phải để làm văn chương mà là chạy theo thời sự, cái viết ra phải theo ý kiến của người cầm chịch-tức chủ báo hoặc nhóm quyền lực sáng lập ra tờ báo. Nhà văn mà đi làm báo thời sự thì sau đó thường rất khó viết văn-vì dễ “đá lộn sân”!
 
Thi sĩ Du Tử lê cũng đã từng nhiều năm làm báo, là phóng viên chiến trường do Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính Trị quản lý. Khoảng năm 1973, anh được cử về làm Thư ký Toà soạn tạp chí Tiền Phong. Tạp chí ra hàng tháng; đứng tên chủ nhiệm là Đại tá Hoàng Ngọc Tiêu (tức nhà thơ Cao Tiêu). Anh đã không “đá lộn sân”!
 
Vừa về nhậm chức “nồi niêu soong chảo” cho tờ tạp chí này, Du Tử Lê đã “trình diện” trên đó hai bài thơ mới sáng tác (ghi sáng tác ngày 25-7-1973) của mình:
 
   
DTL Chủ biên tặng sách Đầu Gió
                                                                                                 thủ bút Du Tử Lê
 
 

Lạ lùng thay, trên tờ tạp chí văn nghệ “chính thống” của quân lực VNCH, vẫn là một Du Tử Lê  trong thay đổi nhịp điệu thơ lục bát; và cách chấm, phẩy theo hình tượng ý và chữ (ví dụ trong bài trích dẫn: …gió đi, tôi động, lòng rào rạt, xưa). Thơ không mang mệnh lệnh, cổ vũ, hô hào ra trận…đáng lẽ phải có ở một tờ tạp chí văn nghệ dành cho các chiến sĩ.
 
Tạp chí Tiền Phong từ đó không chỉ “khác lạ” với hơi thơ Du Tử Lê. Những quân nhân là các nhà thơ thời danh như Cao Tiêu, Hà Huyền Chi, Tạ Tỵ, Y Yên, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Bắc Sơn, Thái Tú Hạp, Vũ Hoàng, Hạ Quốc Huy, Phạm Lê Phan, Phan Lạc Giang Đông; lớp mặc áo lính trẻ hơn như Trần Dạ Lữ, Lê Nguyên Ngữ, Bùi Đức Long, Chu Ngạn Thư… xuất hiện thường xuyên ở đây. Báo mời được  cả các “lão thành văn nghệ” như Vũ Hoàng Chương, Bùi Khánh Đản, Song Hồ, Mai Trung Tĩnh..; cả những người không mặc áo lính vẫn có bài đăng, như Đỗ Nghê, Lê Phổ Đức, hay mới xuất hiện như Hoàng Trần từ Pleiku. Thơ đăng trên tờ Tiền Phong lúc này đa phần có chủ đề về tình yêu (thậm chí là tình phụ) và những cảm xúc về thiên nhiên, tình người…
 
Năm 2014, trong chuyến du lịch đến Mỹ, tôi được gặp lại thi sĩ Du Tử Lê. Và  anh đã xác nhận: Du Tử Lê coi như là chủ biên của tuyển tập thơ Đầu Gió xuất bản năm 1973. Sách dày 570 trang, bìa ghi rõ: tuyển tập những bài thơ thép; và “dành để tặng các chiến sĩ”. Tập hợp hơn 160 nhà thơ hiện thời của miền Nam, đa phần in lại những bài thơ hay, đã được nhiều người biết. Lạ lùng là trong “Tuyển tập những bài thơ thép” này, có mặt cả những nhà thơ không dính dáng gì với chiếc áo lính, như Nguyễn Đức Sơn, Lê Văn Ngăn, Phạm Ngọc Lư, Võ Chân Cửu, Hà Nguyên Thạch, Phạm Cao Hoàng…
 
Qua những gì thi sĩ Du Tử Lê ứng xử, tôi hiểu thêm rằng: những sáng tác hay chính là vàng, là  ngọc, cần phải gìn giữ cho đời. Và sau 1975 ở Hoa Kỳ, anh lại tự nguyện dành thời gian làm công việc đó.



                                                                           Võ Chân Cửu
                                                                                                                                  (Tác giả gởi)



Image result for Chung chúc tân xuân 2020                                                               

Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content
hoa_65-contentTRần Yên Hòa 20
TYH và 3 con gái



 

 
 
 
 
 
 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, July 30, 202112:23 PM(View: 41)
Phật dạy rằng có vô số lượng kiếp, và tôi đang sống đây là kiếp người, lẽ ra cũng đáng mừng, nhưng lại là người dưới thời “chưa bao giờ tốt đẹp như bây giờ”, nghe ra thật mỉa mai nếu không muốn nói là rất đắng cay. Sau 1975, các xe xích lô ở Nha Trang phải vào hợp tác xã, có ghi biển viết tắt XLNT. Hỏi bác xích lô nghĩa là gì, bác tỉnh bơ: Xin Làm Ngựa Trâu! Ôi chao, người miền Nam và tiếng Việt Nam! Hay thấm thía! Thì đúng là gần nửa thế kỷ rồi làm kiếp ngựa trâu, giờ sắp vào lò luyện ngục, quỷ sẽ dắt đưa đi đầu thai. Chẳng biết sẽ thành chó, mèo, heo, gà hay giun dế… Thành kiếp gì cũng không bằng kiếp người. Ngẫm ra, cái hay của kiếp người là giàu nghèo sang hèn đều có quyền ước mơ. Có anh mơ làm tổng thống, có chị mơ làm hoa hậu, mơ tột đỉnh dù chẳng bao giờ thành sự thực. Nhưng vẫn cứ mơ, vì chẳng có điều 5, điều 7 nào trong hiến pháp cấm kỵ công dân cho dù hạng bét được quyền ước mơ cả. Vậy thì, tôi cũng có quyền mơ viển vông như thế này: mơ làm Chử Đồng Tử, một
Saturday, July 24, 20218:33 PM(View: 242)
Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi : - Xếp có dính dáng đến Duy Dân không? Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói : - Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái. - Xếp là nhà báo. - Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân. Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi
Wednesday, July 21, 20214:14 PM(View: 153)
Nghe tôi nói đến "Hiếu nhà băng", thiếu tướng Thạc nhướng lông mày, ngạc nhiên: – "Hiếu nhà băng" ở Zurich? Ông quen hắn à? Tôi gật: – Quen. Chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy à? – Biết. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy chúng tôi đặt cho hắn biệt danh "Hiếu tồ". – Trái đất tròn thật. Hoá ra hai ông quen nhau – tôi nói – Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch Ai Cập. Lâu rồi, dễ đến ba hoặc bốn năm. Quen loáng thoáng thôi. Mãi đến năm ngoái gặp lại ở Genève mới có dịp tâm sự. – Ông thấy hắn ta thế nào? – Tính tình cởi mở, quả có hơi tồ một chút. – Nghe nói bây giờ hắn giàu. Giàu lắm ấy. Ông thiếu tướng liếm đôi môi khô. Trong giọng ông có một chút khó chịu, một chút ghen tị, hoặc cả hai. – Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi nói nhận xét của mình – Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang – một cái BMW đời cũ. Đại khái là làng nhàng, không có gì nổi bật. Trước khi về hưu ông ấy làm việc ở một ngân hàng. Phó giám đốc
Thursday, July 15, 202110:51 AM(View: 150)
rong tháng Tám vừa qua, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tại Paris, Pháp Quốc, đã đột ngột qua đời tại Quận Cam, Nam California, khi ông từ Pháp sang đây để lo việc ấn hành sách cho nhà xuất bản của ông. Ông là một người của sách vở, tuy không phải là một người sáng tác hay biên khảo nhưng những tác phẩm ông để lại cho đời thật là nhiều. Từ bốn mươi năm qua, ông chính là người phát hiện ra những giá trị của sáng tác và biên khảo của biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam, đưa chúng đến với người đọc với một tấm lòng trân trọng và trìu mến. Chính công việc và cung cách xuất bản sách của ông đã cho thấy ông là một người nghệ sĩ thứ thiệt, một nhà văn hóa nhiệt tình với đất nước. Có thể nói Thanh Tuệ là sách, sách là Thanh Tuệ, và chữ sách ở đây phải được hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất, thanh tao nhất mà từ xưa đến nay nhân loại đã dành cho thứ sản phẩm văn hóa này. Một người thích sách vở sống vào giữa thập niên 1960 tại Sài Gòn thì không thể không để ý đến một
Wednesday, July 7, 202112:00 PM(View: 230)
Cha tôi, nhà văn Nhất Linh, cho ra đời hơn mười tác phẩm. Mẹ tôi sinh đẻ hơn mười người con. Bà thường nói đùa với chúng tôi: “Cứ mỗi lần Mợ có mang thì Cậu lại thai nghén một quyển truyện”. Những đứa con của mẹ tôi khi chào đời thường song hành với một tác phẩm mới của cha tôi được xuất bản. Chẳng hạn như anh Thạch tôi sinh năm 1935 ứng với năm tác phẩm Đoạn Tuyệt ra đời. Nhưng khi cha tôi bắt đầu thai nghén và khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940, trong khi mẹ tôi cuối năm đó sinh đẻ ra tôi, thì tác phẩm này vẫn chưa chịu ra đời. Lần này khi khởi viết Xóm Cầu Mới Nhất Linh mang hoài bão quá lớn, “cái thai” quá to, nên tác phẩm không chịu xuất hiện trên đời cho mãi đến ba mươi ba năm sau. Kỳ diệu thay chính tôi lại là người “đỡ đẻ” cho tác phẩm ra đời khi tôi cho xuất bản cuốn Xóm Cầu Mới lần đầu tiên vào năm 1973. Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để