DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,341,074

NGUYỄN HÒA - Gs Đoàn Viết Hoạt trả lời phỏng vấn của báo Sài Gòn Nhỏ: Thích Quảng Độ, cuộc đời chỉ dành cho đại nghĩa

Friday, February 28, 20206:57 AM(View: 604)
NGUYỄN HÒA - Gs Đoàn Viết Hoạt trả lời phỏng vấn của báo Sài Gòn Nhỏ: Thích Quảng Độ, cuộc đời chỉ dành cho đại nghĩa
                             Gs Đoàn Viết Hoạt
                        trả lời phỏng vấn của báo Sài Gòn Nhỏ:
             Thích Quảng Độ         
             cuộc đời

            chỉ dành cho đại nghĩa

blank
Hòa thượng Thích Quảng Độ. Ảnh: Phật tử Việt Nam.
 
Hòa thượng Thích Quảng Độ, người đứng đầu Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) viên tịch vào ngày 22-2-2020, để lại nhiều tiếc thương cho Phật tử cũng như những cộng sự của ông. Từ Virginia, Hoa Kỳ, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, người cộng sự thân tín của Hòa thượng dành cho Sài Gòn Nhỏ một cuộc trao đổi về cuộc đời của Vị Tăng thống, cũng như những kỷ niệm khi ông còn ở Việt Nam với Ngài Thích Quảng Độ. Trước tiên, ông nói về cảm xúc của mình khi được tin Hoà thượng viên tịch.
 
                                                                                                   *** 

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt: Tôi hết sức xúc động khi nghe tin Ngài viên tịch dù trươc đó ít ngày khi nhìn thấy tấm hình chụp Ngài đang nằm trên giường bệnh tôi đã cảm thấy ngày này không còn bao xa. Tử là một trong tứ diệu đế, tất nhiên không ai tránh khỏi. Nhưng khi, từ nửa quả địa cầu theo dõi tang lễ dành cho Ngài, trái tim tôi không ngừng buốt nhói. Ngài ra đi là một mất mát quá lớn cho đại nghĩa dân tộc và đạo pháp. Cả cuộc đời Ngài, nhất là từ 1975 đến nay, chỉ dành cho đại nghĩa. Ngài là một biểu tượng chói sáng cho cuộc đấu tranh của toàn thể dân tộc nhằm vượt qua giai đoạn cuối cùng của thời kỳ suy thoái để mở đường cho nước Việt tiến vào thời kỳ hưng thịnh trong thời đại 2000. 

Sài Gòn Nhỏ: Cũng có những phàn nàn rằng Thầy Thích Quảng Độ từng chống lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa, và như vậy là tạo điều kiện thuận lợi cho cộng sản nắm quyền? 

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt: Đó là một nhận định sai lầm và thiếu tầm nhìn. Ngài không chống lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa, mà chỉ chống lại những việc làm sai trái của người cầm quyền nhằm làm cho chế độ phát huy tốt hơn. Ngài chống lại chế độ cộng sản vì cộng sản chủ trương dùng bạo lực và bạo quyền để thống trị nhân dân. Những người như Ngài Thích Quảng Độ “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, đem chí nhân mà thay cường bạo“. Đại nghiã dân tộc và nhân loại không phát huy từ tranh chấp quốc-cộng, tả-hữu. Cộng sản không thể phù hợp với dân tộc Việt và với nhân loại. Nó đã bị nhân loại đào thải và đang bị dân tộc ta loại bỏ. Dân tộc ta đang cùng nhân loại tổng hợp lại những ưu điểm của quá khứ và hiện tại, hướng tới một tương lai cao đẹp hơn. Những người Việt yêu dân tộc và yêu nhân loại luôn biết hướng tới tương lai toàn diện đó, tìm mọi cách để loại bỏ các trở ngại, khơi mở con đường tương lai đó cho dân tộc. Những chế độ đi ngược lại xu thế tương lai đó không thể tồn tại, dù có chiến thắng trong hiện tại nhờ bạo lực. Suốt mấy chục năm qua Ngài Thích Quảng Độ đã kiên trì đấu tranh chống lại một chế độ như thế. 

Sài Gòn Nhỏ: Ông có thể chia sẻ những kỷ niệm sâu sắc nhất của ông với Thầy Thích Quảng Độ? 

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt: Tôi có cơ duyên cùng làm việc với Ngài Thích Quảng Độ từ đầu thập niên 1970 tại Viện đại học Vạn Hạnh. Khi Hòa thượng Viện trưởng có việc phải công du, Ngài Thích Quảng Độ luôn đảm nhiệm Quyền Viện Trưởng. Ngài giải quyết công việc một cách chính trực công minh, thẳng thắn, chân tình. Sau 1975, nhà cầm quyền cộng sản kiểm soát toàn bộ công việc tại Viện Đại học. Sau nhiều tháng hoàn toàn bị động, ba người chúng tôi, Ngài Thích Quảng Độ, Hòa thượng Thích Minh Châu và tôi, họp lại quyết định tách phần Phật học ra khỏi phần thế học. Tôi soạn bức thư do Hòa Thượng Thích Trí Thủ nhân danh Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, ký tên gửi chính quyền thành phố, thông báo việc chúng tôi chấm dứt trách nhiệm phần thế học, và giữ lại phần Phật học của Viện đại học Vạn Hạnh. Chúng tôi cũng giữ lại năm người làm việc tại Viện Phật học là Hoà Thượng Thích Minh Châu, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, Ni sư Thích Nữ Trí Hải, và Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục. Ngay sau khi gửi thư đi, chúng tôi nhanh chóng di chuyển toàn bộ thư viện Phật học sang cơ sở trên đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận (nay là đường Nguyễn Kiệm), treo lên tấm biển Viện Phật Học Vạn Hạnh, bên trên có hàng chữ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Sau khi tôi và Ngài Thích Quảng Độ bị bắt, nhà nước bắt thay bảng mới với tên Viện Nghiên cứu Phật học, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam do nhà nước thành lập. 

Tôi còn nhớ, sau khi đã hoàn tất việc di chuyển sang cơ sở mới, một hôm tôi ngồi đàm đạo với Ngài, đang nói cười sang sảng thì chợt một sĩ quan công an vào, nói Giáo Hội của ông toàn CIA. Ngài nghiêm mặt, đập tay xuống bàn rồi chỉ mặt người này la mắng cũng sang sảng: “Anh nói bậy”. Viên sĩ quan công an im lặng, cúi đầu, từ từ rút lui. 

Cuối năm 1976, đêm hôm trước khi tôi bị bắt, tôi đến họp với Ngài tại chùa Giác Minh trên đường Phan Thanh Giản để trao đổi về tình hình lúc đó. Tôi có soạn một bản phân tích thời cuộc. Ngay sáng sớm hôm sau công an đến bắt tôi, rất may họ không lấy được bản phân tích thời cuộc này, trên đó có để tên Ngài, nhờ nhà tôi nhanh tay giấu được khi công an xét nhà, nhờ đó Ngài chưa bị bắt ngay lúc đó. Khi nhà tôi đến báo tin tôi bị bắt Ngài nói với nhà tôi: “Tội nghiệp anh Hoạt quá”. 

Sài Gòn Nhỏ: Theo ông tương lai Phật giáo Việt Nam sẽ như thế nào? Số phận của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Giáo hội Phật giáo Việt Nam? Ông có lo lắng về bề nổi có vẻ như tha hóa của Phật giáo Việt Nam hiện nay không? 

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt: Giáo Hội PGVNTN thời kỳ sau Ngài Thích Quảng Độ, tất nhiên phải lâm vào khủng hoảng, nhưng theo tôi đây là cuộc khủng hoảng chung của dân tộc và của Phật giáo, từ mọi phía. Phật giáo Việt Nam chưa tìm được con đường phát triển và hoạt động thích hợp với thời đại mới đang mở ra cho dân tộc và cho nhân loại. Thời đại hiện nay theo tôi như cơn sốt vỡ da cho toàn dân tộc ta, trong đó Phật giáo gánh chịu nặng nhất vì luôn gắn liền với biến chuyển của dân tộc trong suốt mấy ngàn năm qua. Ngoài ra chính Phật giáo nói chung trên toàn thế giới cũng đang phải chuyển mình để có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển một nếp sống mới, một nền văn minh mới cho nhân loại trong thời đại toàn cầu. Phật giáo Việt Nam không thể tách rời những biến chuyển của Phật giáo toàn cầu như thế. Một giải pháp cho Phật giáo không thể tách rời một giải pháp cho Việt Nam, và một giải pháp cho Việt Nam không thể tách rời một pháp cho khu vực và cho toàn thế giới. 

Nhưng nhìn vào hàng ngũ những tăng ni trẻ hiện nay tại Việt Nam và tại cộng đồng người Việt hải ngoại, tôi tin rằng đang xuất hiện những khuôn mặt giác ngộ mới, những bậc Bồ Tát mới, đáp ứng tình hình mới này, như đã từng xuất hiện trong thời gian qua. 

Sài Gòn Nhỏ: Xin cám ơn Giáo sư. 

 
*** Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, từng là phụ tá Viện trưởng Thích Minh Châu của Viện Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn trước năm 1975. Ông bị nhà cầm quyền cộng sản bắt giam vào năm 1976 với án tù 12 năm vì tội danh “tuyên truyền tư tưởng phản động.” Ra tù vào năm 1988, ông tiếp tục viết báo bí mật, trình bày những tư tưởng tự do. Ông bị bắt lần thứ hai vào năm 1990, sau đó được chính phủ Hoa Kỳ nhận tị nạn chính trị vào năm 1998.



                                                                        Nguyễn Hòa
                                                                                                                                                                         (từ: DĐTK)


Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-contenthoa_65-content
                                                                                  TYH và Cindy Trần


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, August 3, 20205:04 PM(View: 169)
Tôi mang cái túi xách trên vai, nhẹ hèo. Bước khỏi chiếc xe vespa của anh Tôn. Chiếc xe kềnh càng, to đùng, nhưng chạy máy êm re. Anh Tôn làm việc ở nhà máy điện Quảng Ngãi, nay mới đổi về làm tại Đà Nẵng được khoảng một năm. Anh có nhà cửa đàng hoàng, vợ con bảy, tám đứa, nhưng anh sống rất bạt mạng, nhậu nhẹt lu bù. Tuy vậy, anh là người làm ra tiền, quảng đại, hào sảng. Tôi nói với anh Tôn: - Thôi em đi nghe anh Tôn. Cảm ơn anh đã giúp em, hồi hôm nhậu với anh một bữa đáng đời. Vui quá. Anh Tôn nói nhỏ bên tai tôi: - Thôi em đi vào đi. Khi nào được phép ra chơi, nhớ ghé nhà anh, đừng ngại gì hết, nhé. Em nhớ địa chỉ, đi xe ôm có mấy chục bạc. Tôi dạ nhỏ rồi bước vào chỗ bên phải cánh cổng của Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, có chòi canh với người lính gác đứng bên trong. Tôi lục túi lấy cái Thẻ Căn Cước và cái Sự Vụ Lệnh, cầm tay. Rồi đến gần nói với người lính gác: - Thưa anh, tôi có Sự Vụ Lệnh vào trình diện ở đây. Xin anh cho vào. Người lính gác đưa tay cầm lấy 2 tờ
Thursday, July 30, 20203:33 PM(View: 292)
Nói đến lính là nói đến sự cơ cực, nhọc nhằn, luôn luôn chạm mặt với cái chết, hoặc đỡ hơn thì bị thương, bỏ một phần thân xác nơi chiến trường...như bản nhạc "Ngày trở về" của Phạm Duy: "Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre nắng vàng hoe..." và "Ngày trở về, có anh thương binh chống nạng cày bừa...". Lứa tuổi của chúng tôi trong khoảng thời gian thập niên 60, 70...thì miền nam không còn bình yên nữa, mà đúng là thời đại chiến tranh, nhất là dịp sau Tết Mậu Thân, 1968. Tôi nhớ, khoảng tháng 5/68, tôi đã nộp đơn thi vào cả 2 nơi: Trường Võ Bị Quốc Gia, khóa 25. Và trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Khóa 2. Tất cả 2 trường đều tổ chức thi (hình như) tại trường Kỹ Thuật, Đà Nẵng. Đà Nẵng, nơi tôi đến chỉ có 2 lần. Lần thi tú tài 1 và lần thi tú tài 2. Tôi không có bà con thân thiết ở Đà Nẵng. Hai lần thi tú tài 1 và 2, tôi đi (ăn) theo một người bạn học cùng lớp. Bạn tôi dẫn tôi ra cùng ở trọ nhà một người bà con của bạn ấy, ở đâu khoảng khu đường rầy
Saturday, July 25, 20207:28 AM(View: 366)
Đó cũng là những ngày Tết Mậu Thân, 1968. Tết Mậu Thân, tôi vê Tam Kỳ ăn Tết với cha mẹ. Lúc này cha mẹ tôi đã tản cư từ Quán Rường xuống Tam Kỳ. Cha mẹ xin dượng Liệu, một người bà con xa với mẹ tôi, một khoảnh đất nhỏ sau vườn nhà dượng, cùng cậu Tiến (em trai mẹ) làm cái nhà tranh nhỏ để có chỗ tạm trú cho gia đình. Cái nhà nhỏ làm chung, nhưng chia làm hai, bằng tấm vách là tấm cót tre. Cậu Tiến tôi lúc này đang làm xã trưởng xã Kỳ Mỹ, nên buổi sáng cậu về quê làm việc, buổi tối, cậu và các con trai cậu về đây ngủ. Tết Mậu Thân, tôi về ở đây, và trong đêm mùng một, nghe đạn bắn tứ tung, từ tiểu khu Quảng Tín, từ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 6 BB, không biết địch tấn công ở đâu, mà từ nhà cha mẹ tôi, đạn bắn gần như sát sạt. Mẹ tôi hoảng quá, ra ngoài chạy lung tung, khiến tôi sợ quá, phải ra dẫn mẹ tôi vô nhà. Lúc đó tôi thấy chiến tranh thật quá gần kề. Cũng nửa tháng sau, tôi vào lại Quảng Ngãi định để thăm trường cũ. Tôi chưa vào Mộ Đức, vì tình hình trong đó nghe nói còn
Wednesday, July 22, 20206:35 AM(View: 455)
Không biết chữ "lính lác" có từ bao giờ? Có lẽ sau ngày 30 tháng tư bảy lăm. Thời gian đi qua lâu quá, tôi cũng không còn nhớ nổi. Chữ "lính lác" - lính là người gia nhập trong quân đội, lính bắc việt gọi là bộ đội. "Lác" theo tiếng bắc là bệnh hắc lào, theo tiếng miền nam, miền trung, là bị bịnh ngứa nổi lên như đồng tiền. Từ này dùng chỉ những anh lính lội rừng, lội núi, qua truông, qua khe, tháng này qua tháng khác, có lúc không có nước tắm rửa nên bị bịnh "lác". Từ này cũng nói lên với tính cách vui cười là, lính nghèo, lính cực khổ trăm bề, nên lính bị "lác". Tôi dùng từ này với tính cách vui cười, không chê bai hay làm xấu người lính. Chuyện lính thì trăm hình vạn trạng (lính miền nam hay bộ đội miền bắc...). Ý của tôi trong hồi ức này là muốn nói đến lính miền Nam, nơi tôi đã tham gia ở đó hơn bảy năm, từ ngày trình diện nhập ngũ (23-10-1968) đến ngày miền nam tan hàng, quân đội cũng tan theo (30-4-1975). Tôi đi lính ngày 23 tháng 10 năm 1968. Một buổi chiều từ Tam Kỳ chạy
Saturday, July 18, 20202:28 PM(View: 234)
Hôm nay, Giáo sư Kê phải sang làng Ao Xá dự lễ tế thành hoàng, nên ngài dậy từ sớm. Mới khoảng năm giờ sáng, mà ngài đã lục đục chuẩn bị đầu tóc, quần áo, giày tất… Đóng bộ complet chỉnh tề, đứng trước gương soi. Tự cảm thấy hài lòng với mình. Vẫn phong độ lắm. Ngài xịt tí keo lên mái tóc thường xuyên được nhuộm đen nhức, rồi dùng lược chải hất ra đằng sau, bóng mượt. Ngài ngắm nghía dung nhan lần nữa và lẩm bẩm một mình: “Kính thưa ngài Giáo sư Kê, à không, Giáo sư Gà! Thay mặt toàn thể dân làng Ao Xá, nhiệt liệt chúc mừng và cám ơn ngài…”. Hài lòng. Ngài đi sang làng Ao Xá. Thật ra, họ và tên đầy đủ của ngài là Giáo sư Tiến sĩ Giang Đình Kế. Có điều, ngay từ buổi đầu tiên đến lớp vỡ lòng của thày giáo Hà, ngài giáo sư tương lai đã bị nhầm tên, Kế thành Kê. Kể ra thì cái sự nhầm ấy cũng dễ giải thích, hai chữ ấy khác nhau mỗi dấu sắc. Mà tay thư ký, khi làm giấy khai sinh cho con ông chủ tịch uỷ ban, lại hứng khởi sao đó, viết kiểu chữ phăng-tê-di (Fantaisie) Nên dấu má chả đâu vào