DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,374,660

Trần Văn Sơn - LÊ PHI Ô: THƠ, VĂN THỜI CHINH CHIẾN

Thursday, March 12, 20208:28 AM(View: 825)
Trần Văn Sơn - LÊ PHI Ô: THƠ, VĂN THỜI CHINH CHIẾN
LÊ PHI  Ô
THƠ VĂN THỜI CHINH CHIẾN

blank
Người chiến sĩ Tiểu Đoàn 344 Địa Phương Quân Lê Phi Ô năm xưa nay ở San Jose, California. (Hình: Lê Phi Ô cung cấp, NV)
 
 

"Bể trầm luân theo chúng lội ra khơi, sáu mươi năm nào giận ... nào cười ... nào khóc ... nào thương , lăn lóc vở tuồng trên vũ trụ -  Cuộc phiền não khiến mình qua đủ cửa ,ba thước đất hết dại, hết khôn ... hết ngu ...hết trí, rõ ràng hạt bụi giữa tang thương". Hai câu đối của ông Lê Cương Phụng, thân phụ Lê Phi Ô đọc trên giường bệnh trước khi qua đời để lại cho con cháu,  khiến tôi nhớ đến bài thơ tứ tuyệt của nhà thơ Vũ Hoàng Chương:
 
Dấu hỏi vây quanh trọn cuộc đời
Sên bò nát óc máu thầm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời                  
(Thôi hết băn khoăn - VHC)

      
Cuộc đời thăng trầm của nhà báo Lê cương Phụng và nhà  thơ Vũ Hoàng Chương đúng là vở tuồng vũ trụ. Một  nhà thơ, một  nhà báo, sống trong bể trầm luân dù muốn hay không cũng chìm đắm trong cơn lốc lịch sử. Thời mạt pháp, khôn, dại,  khóc, cười …  những phiền não dồn dập trong sự thống khổ,  tang thương, những hoài bảo biến thành tro bụi nên con người đành phải bất lực, buông xuôi ...  chỉ còn:  Ba thước đất  hết dại...hết khôn/ và / Đinh đóng vào săn tiếng trả lời. Lê Phi Ô thuộc thế hệ sau, nhưng cùng  thời đại nước mất nhà tan. Kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Nhật, chống chủ nghĩa cộng sản. Cha mất sớm, hai mẹ con đùm bọc nhau, theo bước chân quân hành của ông chú đi khắp bốn vùng chiến thuật.
 
Lê Phi  Ô  không nối nghiệp cha ông, viết văn, làm báo, hoạt động chính trị. Anh chọn con đường khác, tình nguyện vào quân đội:      (Khóa 15/SQTB/Thủ Dức):
 
Cha  mất  sớm  hai  mẹ  con  theo  Chú
Vũng Tàu - Cần Thơ - Phan Thiết - Vĩnh Long
Con khôn lớn nguồn sửa tươi của mẹ
Khổ  cực  thân  cò  lặn lội  bờ  song
(Mẹ và đời tôi - LPO) 

Từ giả thư sinh đi làm lính trận
Ngăn bước quân thù bảo vệ quê hương
Nhớ về trường xưa với hàng hoa Phượng
Sắc đỏ rụng rơi phủ kín sân trường
 
Từ dạo quê hương ngập tràn khói lửa
Súng đạn quân thù xé nát làng quê
Thầy cũ, bạn xưa lên đường lánh nạn
Chinh chiến bao năm tôi vẫn chưa về
(Phượng  buồn - LPO)
                            
         
Ra trường anh tiếp tục học khóa Căn Bản Tình Báo tại trường Quân Báo "Cây Mai" và về Tiểu khu Phước Tuy, trung đội trưởng trung đội quyết tử thuộc Phòng Nhì TK. Dấu giày anh dẫm nát các vùng xôi đậu, truy lùng, diệt địch đem lại an bình cho dân chúng. Bình Giả, Long Tân, hai địa danh nổi tiếng với những trận đánh kinh hồn của QLVNCH (1964) và quân đội Úc (1966) với bộ đội Việt cộng. Và cũng nơi đó,  anh  đã ngày đêm hành quân, phục kích, tiêu diêt địch quân. Tổ Quốc - Danh dự - Trách nhiệm, câu châm ngôn của trường bộ binh Thủ Đức đã khắc sâu trong tâm hồn người lính Lê Phi Ô:
 
Con vào đời chọn màu áo nhà binh  
Chuẩn úy sửa chỉ huy quân quyết tử
Bình giã - Ngãi giao - xuyên mộc - Long tân
Đột kích địch an dân vùng khói lửa
(Mẹ và đời tôi - LPO)
                     
    
Biển Lạc, núi Ông. Những vùng đất núi rừng trùng điệp thuộc chi khu Tánh Linh, nơi việt cộng mỗi lần thất trận chạy về ẩn nấp, bổ sung quân số sau những lần bị quân ta hành quân truy diệt. Cầu Nín Thở, nghe tên đã nín thở, nhìn tận mắt càng nín thở thêm. Cây cầu nhỏ không móng, trụ cầu và mặt cầu lót bằng cây rừng xiêu vẹo bắt ngang con suối rộng khoãng mười mét lổn ngổn đá sỏi. Địch quân lợi dụng địa thế hiểm trở sai vài tên du kích chận đường thu tiền xe be (xe chở cây), người dân đi làm rừng, hoặc nhận tiếp tế thuốc men,  lương thực của những thành phần  ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản:

Biển-Lạc, núi Ông, cầu Nín Thở
Quân đi quét sạch lũ cuồng điên
Ngờ đâu chớp mắt tinh cầu vỡ
Quỉ lộng hồn oan dậy bốn miền
(Tiếng Gọi Việt Nam - LPO)
  
Đời lính buồn vui lẫn lộn. Vui khi được cầm trên tay tấm giấy phép về thăm cha mẹ vợ con. Buồn khi đồng đội tử trận. Người lính Địa Phương Quân thiệt thòi đủ thứ. Trang bị vũ khí không đầy đủ, phương tiện yểm trợ, tiếp tế thiếu thốn nhưng vẫn anh dũng chiến đấu bảo vệ an ninh làng xã. Nhà là đồn bót. Phòng ngủ là lô-cốt, hầm ngầm, giao thông hào. Đêm phục kích, ngày hành quân truy diệt quân thù. Vợ con đến thăm ăn ngủ trong đồn, có khi cùng chồng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Vậy mà họ hình như  bị lãng quên, ít người để ý, không được nhắc nhở trên báo chí, phát thanh, truyền hình như các binh chủng Biệt Động Quân - Thủy Quân Lục Chiến - Nhảy Dù.
          
Trong đồn Sĩ quan và binh sĩ sống hòa đồng như  một đại gia đình. Tết đến, anh em mỗi người một tay, gở thùng đạn pháo binh đóng thành bàn thờ, vỏ đạn 105 ly làm bình hoa, lương khô thay bánh mứt...dâng lên cúng ông bà tổ tiên. Không khí trang nghiêm, đầy ấp tình người làm ấm lòng người lính xa nhà:
 
Tết tiền đồn lương khô thay bánh mức
Bàn thờ cha bằng thùng đạn pháo binh
Bình vỏ đạn cắm đầy hoa cỏ dại
Tấm lòng con trong thời buổi đao binh.
 
Đêm ba mươi mượn vài chung nước lã
Thay trà thơm chờ đón phút giao mùa
Nơi quê nhà một mình ai tựa cửa
Thương quá mẹ già ngóng đợi con xa.
 
Đón giao thừa quây quần trong lô-cốt
Rượu bi-đông uống cạn lãng quên đời
Tiếp tế trễ chuyền tay từng điếu thuốc
Chúc mừng nhau năm mới ấm tình người.
(Tết tiền đồn - LPO)


Chúng ta cần phải vinh danh những người dân và người vợ lính VNCH. Ngươi dân ở những vùng xôi đậu thường thu thập tin tức VC  rồi mật báo cho  chánh quyền địa phương hay các đơn vị quân đội gần nhất  biết để có biện pháp diệt địch. Họ chấp nhận hy sinh vì chính nghĩa quốc gia  dù biết khi VC phát giác sẽ bị ám sát, thủ tiêu . Hầu hết những đơn vị địa phương quân, vợ con sống cùng chồng trong đồn.  Khi CS tấn công, người vợ tiếp tế đạn dược cho chồng, chồng tử trận  thay chồng chiến đấu như một người lính cho đến hơi thở cuối cùng:

"Trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam trước họa xăm lăng của cộng sản phương Bắc, Quân lực VNCH đã có biết bao anh hùng liệt nữ vị quốc vong thân. Bên cạnh đó có những sự hy sinh không kém hào hùng ít được nhắc đến, tôi muốn nói đến những người lính không có số quân: VỢ LÍNH.  

"Trên đường trở lại BCH/tiểu-đoàn, thoáng thấy một bóng người nép vội vào gốc cây xoài bên hông văn phòng Quận cách tôi khoảng 10 thước, dáng dấp khả nghi không giống như lính. Tôi ra dấu cho Thượng-sĩ Hường cùng một anh lính nép vào tường sẳn sàng yểm trợ, tôi và anh cận vệ còn lại bò về hướng cây xoài có kẻ khả nghi. Bóng người lạ xê dịch như muốn chạy, cả hai chúng tôi hướng súng sẳn sàng bóp cò. Bổng một quả chiếu sáng tay bừng sáng trên trời soi rỏ bóng người lạ chỉ còn cách tôi khoảng 3 thước, không có súng và hình như đàn bà. “Nữ đặc-công VC”? vừa thoáng nghĩ trong đầu thì anh cận vệ của tôi đã nhảy chồm lên tên Đặc-công còn súng của tôi thì kê sát vào lưng hắn sẳn sàng bắn, anh cận vệ la lên: “mày hả ?”. Anh ta quay lại tôi nói nhỏ: “Con bé Hạ, ông thầy ơi !”. Tôi quát khẻ: “Mầy làm gì ở đây?!”- Cô bé mặt còn nguyên nét sợ hãi: “Dạ em…dạ em…!”. Vài quả đạn pháo nổ quá gần chúng tôi chạy ùa vào lô-cốt kế cận, tôi hỏi lại: “Mầy làm gì ở đây?”, Thượng-sĩ Hường nói: “Mấy bửa nay, nó thay thằng Xuân đi tiếp đạn cho anh em”, tôi nói như trách cứ Th/sĩ Hường: “Mấy bửa nay?! thằng Xuân đâu mà nó phải đi tiếp đạn?”-“Dạ, thằng Xuân anh của nó…chết rồi!" 

Tôi hụt hẫng, cổ họng có cái gì nghèn nghẹn ! Ông già Thu, ba của con bé Hạ  một nông dân hiền lành sống với ruộng rẩy, Thằng Đông con lớn của ông đi lính rồi tử trận ngoài miền trung, từ đó mỗi khi đi làm rẩy nhận được tin tức gì của VC ông đều bí mật báo với chính quyền, bọn cơ sở nằm vùng của VC biết được đã chặt đầu ông ngoài rẫy với bản án để răn đe. Thằng Xuân là lính của tiểu-đoàn tôi…con bé không dám ở nhà một mình nên vào đồn sống với anh của nó…bây giờ thằng Xuân chết rồi, nó sẽ sống với ai ?!! - Tôi nói thật khẻ với Th/sĩ Hường như nói với chính tôi: “Bố Hường, tạm thời Bố nuôi con Hạ giùm tôi…để khi nào yên tôi sẽ tính sau!”. Tôi quay về hầm chỉ huy dưới làn mưa pháo của địch.

  

blank                                                                                                                                                          Cựu Đại Úy Lê Phi Ô. (Hình: Lê Phi Ô cung cấp, NV)



Tôi gọi 2 đại-đội của tôi bên ngoài thì Đại-đội 1 của Đại-úy Trương-Kiêm tan hàng trong đêm mất hẳn liên lạc, Đại-đội 2 của Trung-úy Thời thì còn lại hơn 40 người, Đại-đội 512 Trinh-sát của Trung-úy Đường vừa lui lại khu vực chợ cách BCH Chi-khu không xa vì áp lực địch quá mạnh, ngay trưa hôm đó Trung-úy Đường tử thương và Trinh-sát tan hàng. Bây giờ thì không riêng gì con bé Hạ mà cả các chị vợ và con lính cũng được cấp phát súng đạn. Vợ Trung-sĩ Hảo là cô đở (Bà Mụ ở nông thôn) trở thành y tá của tiểu-đoàn, hai tay chị đầy máu, một thương binh cánh tay trái chưa đứt lìa hẳn đã bốc mùi thối phải cắt bỏ, không còn thuốc Tê, với lưỡi dao cạo râu chị cố lấy bình tỉnh cắt bỏ cánh tay, anh thương binh cắn răng chịu với hai hàng nước mắt chảy liên tục vì quá đau đớn! Tôi cố gắng an ủi từng người, anh tài xế của tôi bị gảy chân trái vì đạn pháo, thấy tôi anh ấy khóc. Tôi cố an ủi, bảo rằng vết thương của anh không đến đổi cưa chân đâu, anh ấy nói trong nước mắt: “không phải em sợ cưa chân đâu, nếu được tải thương coi như chắc chắn được sống … ông thầy còn kẹt lại, em thương cho ông thầy quá !” anh ấy nghẹn lời không nói được, anh ấy đâu biết rằng tôi còn nghẹn hơn anh ấy nữa! Tình Huynh Đệ chi binh như thế đó, lúc nguy nan chỉ nghĩ đến người khác mà quên nghĩ đến chính mình, (sau ngày tôi ra tù, anh ấy hay tin, từ Saigon với đôi nạng gổ và một chân…lặn lội xuống Bà-rịa thăm tôi).
Con bé Hạ đầu quấn khăn tang cho anh nó bằng cuộn băng vải trắng, mặc áo trận, vai mang súng M16 người nó trông cứng cỏi như một người lính thực thụ, mới 16 tuổi mà trông như 30 – 40 tuổi. Một tiểu đội nữ binh mới được bổ sung đặt dưới quyền chỉ huy của Thượng-sĩ Hường, tiểu-đội trưởng là  vợ của Trung-sĩ nhất Man-Ngui (người Thượng)."

                   
(Hồi ký chiến trường. Chiến sĩ vô danh - LPO)
 
 
Có còn nhớ không niên trưởng Lê Phi Ô?  Sau những lần hành quân , về hậu cứ thay vội bộ quần áo bê bết bùn lầy ,  chúng ta hẹn gặp nhau ở một nơi nào đó , có thể là quán bà Tư Cứ...ở Tánh Linh, quán Ông Tư Bình Dương, quán cô Rạng...ở Võ Đắt, quán Mây của cô Nhường ...ở LaGi. Hay ở nhà những người dân thương lính,  mời lính ghé chơi như nhà ông Thọ thuốc bắc, ông Tám Hà tiệm vàng, ông Tư Lê thư ký quận. Một vài chai bia, vài xị rượu đế, cười nói huyên thuyên cũng đủ lãng quên đời.


blank
                               Tháng Mười Hai, Đại Úy Lê Phi Ô (ngồi giữa) thảo kế hoạch tái chiếm đồi Bảo Đại (chỉ trong hai ngày đã chiếm lại được ngọn đồi này). (Hình: Lê Phi Ô cung cấp, NV)


Nguyễn Bắc Sơn trong tập "Chiến Tranh Và Tôi" có những câu thơ diễn tả đúng tâm trạng người lính chiến đấu: / Mai ngày đụng trận ta còn sống / Về ghé Sông Mao phá phách chơi / Chia sớt ni buồn cùng gái điếm / Đốt tiền mua vội một ngày vui /. Đời lính sống nay chết mai, vui được chút nào cứ vui,  không cần  ngày mai...mặc kệ.  Đơn vị không đóng quân cố định mà phải di chuyển để tránh  nội tuyến hoặc những vặp mắt cú vọ của những tên CS nằm vùng. Và ở những nơi đèo heo hút gió đó, người lính không tránh khỏi sự rung động trước nhan sắc của các cô thôn nữ mộc mạc,  dể thương:

Xin em yêu dấu bờ môi,
Nụ hôn mật ngọt ấm đời mai sau.
Xin em đôi mắt bồ câu,
Dạt dào yêu mến quên sầu thế nhân.
Xin em mái tóc hương trầm,
Nồng nàn tha thiết trăm năm vuông tròn.
Xin em dáng liễu eo thon,
Bờ vai Ngọc nữ nét son ngọc ngà.
Xin em một chổ sân ga,
Tàu anh cặp bến chung nhà, chung chăn.
Xin em một nửa vầng trăng,
Nửa vầng thương nhớ ôm hằng hà sao.
Xin em…trao trọn đời nhau,
Xa xôi lòng mở đường vào ái ân.
Xin em và xin em thêm,
Kiếp nầy, muôn kiếp vẫn thèm…YÊU EM!
(Xin em - LPO)

  
Lê Phi Ô không nhận mình là nhà thơ, nhà văn. Anh thuần túy chỉ là người lính  kể chuyện bằng chữ viết sự thật về cuộc đời chính mình và những trận đánh anh đã từng tham dự. Lời thơ lời văn và cách dùng chữ rất bình dị, mộc mạc nên dể đi sâu vào lòng người đọc.  Đối đầu với địch quân dù quân số ít hơn rất nhiều lần, anh vẫn hiên ngang chỉ huy binh sĩ đẩy lui những đợt tấn công biển người của cộng quân. Bọn cuồng điên sinh Bắc tử Nam mù quáng nghe theo lời tuyên truyền của giới chóp bu cộng sản quốc tế lao đầu vào lò lửa chiến tranh. Tên văn nô Tố Hữu làm những câu thơ khát máu, nịnh bợ quan thầy CS:/ Giết , giết nữa , bàn tay không ngưng nghỉ / Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong / Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng / Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt /  .

Lê Duẩn, tên đầu sỏ cộng sản VN đã từng tuyên bố: Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô - Trung quốc. Câu nói bán nước này được bọn CS đàn em ghi trên tấm bãng gắn trước cổng vào đền thờ tên súc sinh Lê Duẫn.  Để rồi năm 1979, đàn anh Trung Cộng trả ơn bằng cách xua hàng vạn quân tàn sát hàng chục ngàn dân chúng tại năm tỉnh miền bắc, biên giới Việt - Trung.
     
Ta từng có một thời làm lính trận
Súng đạn, ba-lô trĩu nặng đôi vai
Tuổi đôi mươi sá gì đời sương gió
Mộng sông hồ cho thỏa chí làm trai
 
Chắc tay súng nơi tuyến đầu lửa đạn
Ngăn bước thù gieo tang tóc đau thương
Cho quê hương nhà nhà vang tiếng hát
Cho mẹ già, em gái bớt lệ vương.
 
Rồi từ đấy đi vào miền gió cát
Mảnh chinh y thấm máu bạn, máu thù
Có những lúc dừng quân nơi lũng thấp
Tiễn bạn mình vào chốn nghỉ thiên thu!
(Một đời lính trận - LPO)
     
MÙA HÈ ĐỎ LỬA,  bút ký chiến trường của nhà văn Phan Nhật Nam là một thiên anh hùng ca bất tử viết về tinh thần chiến đấu bền bỉ, can trường và anh dũng của người chiến sĩ VNCH. Mặt trận Bình Long - An Lộc , bắc quân  mỗi ngày trút hàng ngàn đạn pháo, hàng trăm xe tăng gầm rú suốt ngày đêm, cùng với những đợt tấn công biển người dồn dập tưởng như đã cày nát, hủy diệt mọi sinh vật trên mặt đất. Nhưng không, tất cả còn đó, vạn vật hồi sinh như có một sự  mầu nhiệm, đất còn người còn, Bình Long - An Lộc vẫn vùng lên sừng sửng trơ gan cùng tuế nguyệt. Mặt trận Võ Đắt - Hoài Đức tuy ở tầm vóc nhỏ hơn nhưng sự ác liệt, tàn khốc và khủng khiếp như nhau. Vẫn hàng trăm đạn pháo mỗi ngày, vẫn tiền pháo hậu xung, vẫn tấn công biển người ròng rã suốt ba mươi ba ngày đêm,  địch quân vẫn không chiếm được một tấc đất nào trong quận lỵ nhỏ bé không đầy một cây số vuông.
 
Tao dắt tiểu-đoàn qua suối chết
Đuổi giặc chạy dài tận sân bay
Địch đón tao một trung-đoàn pháo
Xé tiểu-đoàn rách nát làm hai.
 
Trước mặt tao trung-đoàn Quyết-Thắng
Sau lưng tao trung-đoàn Sông-mao
Xác bạn, xác thù thây chất đống
Thịt da người tan tác binh đao
(Một đời lính trận - LPO)

             
Tôi đã trực tiếp chiến đấu tại mặt trận Võ Đắt - Hoài Đức bên cạnh Lê Phi Ô nên hiểu biết đôi chút về trận chiến này. Ngày 25 /12/1974 quận Tánh Linh thất thủ, địch chia quân làm hai cánh tấn công cùng một lúc Võ Xu - Võ Đắt.  Đêm đêm nằm trong giao thông hào thấy từng đoàn xe địch chuyển quân từ Tánh Linh qua Hoài Đức, mở đèn sáng rực như chổ không người mà lòng quặn đau. Không phi cơ, không pháo binh yểm trợ, quân số không đầy một trăm người kể cả lực lượng bán quân sự thì làm sao tử thủ đây.  Tôi chỉ huy các lực lượng gồm Xây Dựng Nông Thôn,  Nhân Dân Tự Vệ, Cảnh Sát. Trung úy Trương minh Tâm chỉ huy Nghĩa Quân. Một đại đội ĐPQ đóng tại kho lúa xã  đã rút về phòng thủ chi khu Hoài Đức. Võ Xu, một xã nhỏ, dân số vài ngàn người,  thế mà phải hứng chịu hàng trăm đạn pháo mỗi ngày phá nát nhà cửa, hầm hố, công sự phòng thủ. Dân chúng di tản ra đồng ruộng sống chung với CS.  Không pháo binh yễm trợ,  không trực thăng tải thương, không tiếp tế đạn dược. Lính bị thương băng bó. Lính tử thương chôn tại chỗ. Chúng tôi sống trong giao thông hào kiên trì chiến đấu, tiết kiệm từng viên đạn suốt ba mươi ngày đêm chờ viện quân. Ngày 20/3/1975  Võ Đắt thất thủ, còn lại Võ Xu trơ vơ giữa rừng núi bạt ngàn là miếng mồi ngon cho CS. Không còn sự chọn lựa nào ngoài việc rút quân. Chúng tôi phải gồng gánh thêm người dân chạy giặc, băng rừng vượt Biển Lạc, gặp chốt phá chốt, xuyên thẳng vào mật khu CS,  mở đường máu tìm cái chết trong cái sống,  và cuối cùng tôi đã về đến Bình Tuy. Tôi đã sống. Thật sự tôi đã sống. Nhìn quanh anh em không còn được mấy người, lớp mất tích, lớp tử thương.   Trung úy Trương minh Tâm đi một cánh quân khác đụng trận bị bắt làm tù binh. 
      
Sau khi định cư tại Mỹ , gặp lại đồng đội một thời sống chết với mình , nhớ lại chiến trường xưa , tôi làm bài thơ  nói về cuộc lui binh tại mặt trận Võ Đắt- Hoài Đức:
 
LUI  BINH  HÀNH
(Tặng hai vị Tiểu đoàn trưởng của tôi: Lê Phi Ô / Lê Hùng)
 
Lui binh lui binh hề lui binh
Tướng giỏi nghiến răng nén bất bình
Chiến trận bao năm chưa chiến bại
Một ngày buông súng quỉ thần kinh
 
 Ghìm súng đêm đen đồi Bảo Đại
Quân đi ngậm thẻ nuốt hờn căm
Hoài Đức pháo rơi như đậu vãi
Về đâu quốc lộ một mù tăm
 
 Băng rừng vượt chốt mở đường máu
Tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi
Bi đông cạn nước tay lựu đạn
Máu trộn mồ hôi lẫn xác người
 
Sông núi rùng mình Biển Lạc khóc
Ba lô nón sắt vững lòng dân
Hình vợ thẻ bài đeo trước ngực
Lăng Quăng cầu gãy lính chồn chân
 
 La Ngà, Gia Huynh địch vây khổn
Tánh Linh tràn ngập bầy kên kên
Quan nghinh đầu súng lính đoạn hậu
Sống chết trời cho súng nổ rền
 
 Vợ trẻ chờ chồng con chờ cha
Giặc ruồng thôn xóm nát tan nhà
Võ Xu, Chính Đức rồi Võ Đắt
Về đâu La Gi xa thật xa
 
 Người lính can trường vuốt mắt bạn
 Cắn nát môi nuốt lệ rưng rưng
Hỡi ơi chiến trận anh hùng tận
Vùi thây đánh dấu gốc bằng lăng
 
 Đêm sao Bắc Đẩu soi mắt thần
Mỗi bước chân mìn bẫy giăng ngầm
Suối Kiết, Láng Gòn, Tân Long bến
Hải đội đâu mà biển lặng câm
 
Tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi
Mất tích thương vong lính tả tơi
Tận nhân lực anh hùng mạt vận
Xuôi đời theo vận nước nổi trôi
 
 Lui binh lui binh hề lui binh
Tướng giỏi nghiến răng nén bất bình
Trăm trận ra quân trăm trận thắng
Tháng tư bẻ súng đất trời kinh
 
              
Hãy nghe Tiểu đoàn trưởng Lê Phi Ô kể về trận chiến ba mươi ba ngày đêm tử thủ tai Võ Đắc, một tiểu đoàn gồng mình chiến đấu với một sư đoàn Bắc quân:
        
"Đúng 02:00 giờ sáng ngày 09 tháng 12 năm 1974, Lính vừa đổi phiên gác thì một ánh chớp cùng tiếng nổ long trời phát ra tại hàng rào hướng tây của Chi-khu, nơi tuyến phòng thủ của một trung đội thuộc Đại-đội chỉ-huy, một trung đội của Đại-đội 3 và tiểu đội thám-báo Tiểu-đoàn.  Khói lửa, cát bụi mịt mùng, đặc-công việt cộng đã chui vào hàng rào phòng thủ đặt chất nổ phá hủy nhiều lớp kẻm gai. Lập tức, tổ thám báo của tiểu-đoàn tung nhiều quả lựu đạn vào vùng khói lửa nơi vừa xảy ra tiếng nổ để ngăn chận bọn đặc-công cảm tử địch xông vào.   Trong ánh chớp kèm tiếng nổ của lựu đạn bóng vài tên VC chạy ngược trở ra nhưng đã bị khẩu đại-liên trên vọng gác đốn ngã. Những trái sáng tay và của súng cối 81 ly được phóng lên sáng rực bầu trời, tôi gọi Trung-úy Lưu-đức-Thắng (khóa 24/VBĐL) đại-đội trưởng ĐĐ3 cẩn thận mặt Bắc, nơi có một ngôi chùa nhỏ sát cạnh hàng rào phòng thủ…đây  là đường tiến sát rất thuận lợi cho VC  vì bọn chúng biết lính không bao giờ dám mang súng đạn vào gần chùa dù chỉ để phục kích đêm. Trung-úy Thắng báo đã bắn hạ hai 2 tên địch ngay khi chúng vào tới hàng rào phòng thủ trong cùng…mười phút sau, Thắng cho biết hàng rào đã bị cắt đứt nhiều chỗ, lập tức tôi lịnh cho Trung-úy Thời, đại đội trưởng Đại-đội 2 đang bố trí quân  tại trại cưa bên ngoài Chi-khu về hướng đông cách Chi-khu 500 thước đưa ngay một trung-đội vào chiếm giữ ngôi chùa nhỏ,  trung-đội nầy chạm súng nhẹ  và địch bỏ chạy, đây chỉ  là tổ cảnh giới của địch.  

Đây không phải là trận đánh đơn thuần của đơn vị đặc-công địch, vì đặc-công chỉ lẻn vào âm thầm chứ không phá hàng rào nhiều chổ như vậy, bọn chúng đang chuẩn bị chiến trường cho những đơn vị lớn hơn. Đúng như tin tức MẬT  từ Bộ Tổng-tham-mưu cho biết trước: VC mở chiến-dịch “Tánh-Linh Hoài-Đức” để đánh chiếm hai Chi-khu nầy theo chiến thuật mà chúng gọi là “Bóc vỏ” trước khi tiến đánh Thị-xã Xuân-Lộc, nếu không thành công thì ít ra bọn chúng cũng cầm chân được một số lớn đơn vị của ta để dễ bề đánh chiếm Tỉnh Phước-Long. Trước đây một tuần, vì  áp lực địch quá nặng  nên Quân-khu 3 đã tăng cường Liên-đoàn 7/ BĐQ cho Chi-khu Hoài-Đức, Đơn vị BĐQ nầy đóng quân tại khu vực Gia-Huynh   nằm trên Tỉnh- lộ 333 về hướng nam và cách Bộ chỉ-huy Chi-khu 10 cây số. Đồng thời Bộ chỉ-huy Tiểu-khu ra lịnh cho Tiểu-đoàn 344/ĐP (344/Địa Phương) của tôi rút bỏ xã Võ-Xu và các ấp nằm dọc Tỉnh-lộ 335 về phòng thủ duy nhất  cứ điểm Chi-khu và xã Võ-Đắt, tiểu đoàn được tăng cường thêm Đại-đội 512/TS (Trinh-sát)    Quận Hoài-Đức là quận xa nhất của Tỉnh Bình-Tuy, cách Tỉnh lỵ 80 cây số đường chim bay.

Xung quanh quận lỵ là rừng cây bạt ngàn, phía đông bắc giáp với Tỉnh Lâm-Đồng toàn núi rừng của chặng cuối dãy Trường-Sơn thuận lợi cho việc che dấu và tiến sát các đơn vị lớn VC mà máy bay quan sát khó phát hiện…những cuộc hành quân lục soát đã khám ph
á nhiều dấu vết địch cấp trung- đoàn. Tôi cho vài người lính Thượng (sắc tộc Man) giả dạng dân làm rừng xâm nhập những vùng nghi ngờ có địch để thám sát  nhưng những người lính nầy ra đi không về ! Những cuộc chuyển quân của Ta và Địch làm cho người dân đoán biết được tình hình rất nghiêm trọng nên gồng gánh ra đi bằng nhiều phương tiện khác nhau. Đêm 25 tháng 12 năm 1974, Chi-khu Tánh-Linh cách Hoài-Đức 15 cây số về hướng đông nam thất thủ sau hai tuần lễ kháng cự.  Chi-khu Hoài-Đức suốt tuần nay bị địch pháo bằng hỏa tiễn 107 ly và cối 82 ly trung bình 500 quả một ngày.    Sau khi Tánh-Linh thất thủ, bọn VC dồn cả lực lượng cấp Sư-đoàn tấn công LĐ7/BĐQ và Chi-khu Hoài-Đức do Tiểu đoàn tôi tử thủ với quân số còn lại khoảng hơn 200 người.

Trước trận đánh, vì Bình-Tuy không đủ quân số nên xin tăng cường 2 tiểu-đoàn ĐPQ, Quân-đoàn 3 chỉ tăng cường một tiểu-đoàn ĐPQ cho Chi-khu Tánh-Linh từ Long-An đến (TĐ335/ĐP) còn tiểu đoàn của tôi thì bổ sung quân số lên đến hơn 500 người lấy từ các tiểu-đoàn khác trong Tiểu-khu. Xác chết VC  vì không ai chôn nên đã bốc mùi, xác lính thì chôn tạm, phủ poncho. Thương binh còn kẹt lại khoảng 50 người vừa nặng vừa nhẹ vì trực thăng vào vùng không được do phòng không VC dày đặc và nhiều chuyến phải quay đầu lại vì phải ưu tiên cho mặt trận Phước-Long. Liên-đoàn 7/BĐQ triệt thoái khỏi Hoài-Đức…như thế với tiểu-đoàn ĐPQ của tôi còn lại hơn 200 người bị Sư-đoàn 6 tân lập VC, Trung-đoàn 812 Sông- Mao và 4 tiểu-đoàn Đặc-công 18, 19, 20 và  200C bao vây tấn công ngày đêm ( VC từ 6 đến 8 ngàn quân, tham khảo tài liệu của Dr. Nguyễn-đức-Phương, tác giả “Chiến tranh VN toàn tập”). Thượng cấp cho tôi toàn quyền quyết định đi hay ở, tôi đã cho thăm dò nhiều lần con đường rút nhưng không thể thực hiện được. Nếu lính tráng thì được còn vợ con họ thì sao ? và thương binh nữa ? Chúng tôi quyết định tử thủ. " 

(Hồi ký chiến trường - Chiến sĩ vô danh - LPO)
 
Mười  hai  năm con vào sinh  ra tử
Nay Hàm Tâm mai Hoài Đức, Tánh Linh
Mẹ ở tiền đồn nuôi bầy cháu nội
Đêm từng đêm mẹ cầu nguyện âm thầm
 
Võ Đắt, ba mươi ba ngày tử thủ
Xác anh em trộn lẫn xác kẻ thù
Mở đường máu băng rừng về quốc lộ
Chưa kịp đoàn viên bị bắt vào tù
(Mẹ và đời tôi - LPO)

            
Quận Hoài Đức thất thủ ngày 20/3/1975. Tỉnh Bình Tuy thất thủ ngày 24/4/1975.  Tiểu đoàn 344/ĐP của Lê Phi Ô đã trải qua những trận đánh khốc liệt nên thiêt hại quân số rất nhiều, từ ba mươi ba ngày tử thủ tại Võ Đắc cho đến lui binh về trấn thủ phòng tuyến Bình Tuy, tiểu đoàn năm trăm quân còn lại một ông thầy và hai đệ tử, vượt suối băng rừng về Vũng Tàu:

"Ngày 22/4/1975 Trinh-Sát chạm địch tại ấp Láng-Gòn cách Bộ chỉ-huy Tiểu-khu hơn 4 cây số từ hướng Quốc lộ I đi vào, Việt cộng có tất cả 24 xe tăng với Quân số Bộ binh cấp Sư-Đoàn đang tiến vào tỉnh lỵ Bình-Tuy (cánh quân này thuộc Quân đoàn số 5 VC, tôi đọc được trên báo Nhân Dân khi bị VC giam ở Chí-Hòa). Trinh-sát lui dần đến cầu Láng-Gòn và chận được đơn vị tiền phương của VC tại đây. Toán Mìn của Trinh-Sát cho gài mìn giựt sập cầu Láng-Gòn để ngăn chận Tank. Suốt ngày 23/04/1975 những đơn vị tiền phương VC không thể nào vượt qua được Đại-đội 512 và ĐĐ513/Trinh-sát tại cầu Láng-Gòn, vì là mùa nắng nên sông Láng-Gòn có chỗ cạn không có nước do đó bọn việt cộng đã tìm được chỗ hai bên bờ thoai thoải dốc để Tanks của bọn chúng vượt qua. Bình-Tuy không đủ quân số và hỏa-lực để ngăn cản đà tiến quân của cộng sản Bắc Việt.

Lúc 6 giờ chiều VC bắt đầu pháo vào Tiểu-khu, trung tâm Yểm-trợ Tiếp-vận, Căn cứ pháo-binh nơi đặt BCH/TĐ 344/ĐP và sau đó là khắp mọi nơi trong tỉnh lỵ kể cả khu dân cư. Một trận địa pháo khủng khiếp không thua gì ở An-Lộc năm 1972… cả tỉnh lỵ biến thành một biển lửa. Đến 8 giờ tối 12 chiếc xe Tăng T54 với tùng thiết và cả một Trung-đoàn bộ binh theo sau tiến vào Phi-trường nơi tuyến của tôi (TĐ344/ĐP). Chúng tôi không có vũ-khí chống Tank, đại bác 57 ly hết đạn chưa được bồi hoàn, chỉ có 6 khẩu M72 nhưng khi kéo ống phóng thì 3 khẩu bị đứt “giây kích-hỏa” nên không xử dụng được, hai khẩu bắn trúng Tank nhưng chỉ trượt pháo tháp, chúng chỉ khựng lại rồi tiếp tục tiến tới với hỏa lực tối đa. Chúng tôi không ngán Tank nhưng vì bộ binh của chúng quá đông nên tuyến đầu bị bể phải lui về tuyến sau, xe Tanks VC rượt theo hết tốc lực và cán lên cả tuyến sau. Chúng tôi xử dụng lựu đạn để ngăn bộ binh địch trong tình thế tuyệt vọng..!

Gần một giờ quần thảo với Tanks, với hằng ngàn bộ binh địch… chúng tôi chỉ M16 với hai hoả-lực đạn, hai khẩu pháo 105 ly của ta đã bị T54 khống chế, trận chiến bất cân xứng nhưng vì kỷ-luật quân đội, vì danh dự của người lính VNCH chúng tôi phải chiến đấu cho dù sự thất bại khó tránh khỏi. Kết quả bi-thảm đến với chúng tôi: Đại-đội chỉ-huy tan rã, Bộ chỉ-huy Tiểu-đoàn gồm có tôi, các trưởng ban và một số anh em cận-vệ tất cả 12 người chỉ còn sống sót 3 người, những người may mắn đó là tôi (người viết) một anh truyền tin và một anh cận vệ nhờ vào những rảnh sâu do nước mưa xói mòn chúng tôi nằm dưới rảnh khi xe Tăng (Tanks) cán qua.

Bọn Việt cộng dã man hơn cả súc vật, những người bị thương đều bị bọn chúng bắn bồi hoặc cho Tank cán qua người, các đại-đội khác của Tiểu-đoàn cũng tan hàng với sức tiến vũ bão của T54 và bộ binh địch cấp Trung-đoàn (trong thời điểm này mỗi tiểu-đoàn của chúng tôi quân số chỉ còn lại 2/3 vì chưa có phương-tiện vận chuyển tân binh bổ sung từ Saigon, một số binh-sĩ đào ngủ để lo cho gia đình..v..v..). Tiểu-đoàn 341/ĐP của Tiểu đoàn trưởng
 Lê-Hùng cũng cùng chung số phận như TĐ của tôi. Tiếp theo và ngay trên đường nhựa cả đoàn xe hơn 20 chiếc đủ loại chở đầy lính VC và cả chục chiếc T54 chạy thẳng vào tỉnh lỵ. Cả tiểu-đoàn 344/ĐP hơn 300 người (vì chưa được bổ sung) bị Tanks địch xé nát từng mảnh, cả đại-đội chỉ-huy và bộ chỉ-huy tiểu-đoàn giờ đây chỉ còn 3 người, cả 3 anh em chúng tôi băng mình vào trại cưa gần đó, một chiếc T54 rượt theo ủi sập hàng rào nhưng nhờ những cây súc rất to nên T54 khựng lại không tiến lên được. Dưới hỏa lực của T54 và bọn tùng thiết bắn như mưa anh em chúng tôi lao mình trong đêm tối về hướng bìa rừng cách đó 500m tai nghe văng vẳng bọn việt cộng la hét lẫn trong tiếng súng, khói lửa mịt mùng bao trùm cả bầu trời tỉnh lỵ Bình Tuy.

Khi vào đến bìa rừng nơi tương đối an toàn, Tôi cố gắng liên lạc Trung-tâm hành quân, các đơn vị bạn nhưng tất cả đều không có tiếng trả lời, quay nhìn về hướng BCH/Tiểu-khu… anh em chúng tôi đứng nghiêm đưa tay chào vĩnh biệt trong nước mắt, sau đó súng cầm tay hướng về phía Vũng Tàu chúng tôi lầm lủi trong đêm tối mịt mùng ! Đó là lúc 3 giờ sáng ngày 24 tháng 04 năm 1975."
(Hồi ký chiến trường : Bình Tuy, những ngày cuối cùng)
 
                 
Tôi và Lê Phi Ô bị bắt tại Vũng Tàu trước ngày tổng thống  Dương văn Minh đầu hàng. Chúng nó còng tay đưa chúng tôi đến Rạch Dừa, Long Khánh, rồi mỗi người một nơi. Tôi bị chuyển qua các trại Tân Hiệp - Biên Hòa, Gia Rai - Long Khánh. Năm 1977 chúng lùa chúng tôi xuống tàu Sông Hương ra Bắc tống vào trại tù Nam Hà. Lê Phi Ô bị cùm kẹp, tra tấn, biệt giam tại khám Chí Hòa, trại tù Suối Máu, cuối cùng là trại trừng giới A20 Xuân Phước.

 Ký Giả "Người Xứ Nghệ" phát thảo một vài nét về trại giam này:

"Trại Trừng Giới A20 nằm ở thung lũng Xuân-Phước, một thung lũng tử thần, vào rồi khó có đường ra. Muốn vào tới đây, người ta phải vượt qua 60 cây số đường rừng. Nếp sống của tù nhân  là cả một địa ngục trần gian, ăn đói, làm việc khổ sai, bệnh khô
ng có thuốc, ít được gặp gia đình.  Bọn CS trại giam cài vào hệ thống ăng-ten dày đặc. Cán bộ an ninh trại giam thường áp dụng chiến thuật “ra tay trước”, nghĩa là một người tù chỉ được báo cáo: “không an tâm cải tạo” sẽ phải nằm trong chuồng cọp hàng năm trời, bị cắt thực phẩm, bị cắt nước uống.  Linh Mục Nguyễn-văn-Vàng (Dòng Chúa cứu Thế). Ngài bị bắt khi tham gia vào một tổ chức Phục Quốc, bị kết án chung thân và bị chuyển về trại giam A20 . Ngài chết sau 3 năm bị cùm ở chuồng cọp, toàn thể người Ngài bị ghẻ lở, kể cả gương mặt, chỉ chừa đôi mắt. Linh Mục Nguyễn-Luân, người tù bất khuất đã dám viết hàng chữ: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt-Nam – không có độc lập – không có tự do – không có hạnh phúc trên mọi tờ khai lý lịch. Trước khi bị hành hạ, tra tấn suốt ba năm trong chuồng cọp cho đến chết,  ngài  nói với những người cùng cảnh ngộ: “Tôi muốn chỉ là viên gạch lót đường cho những cuộc đấu tranh sau nầy”. 
(Người lính địa phương quân - Lê Phi Ô - Người xứ Nghệ)
.
 
Con biệt giam tại khám lớn Chí Hoà
Ba tháng gông cùm đòn thù nghiệt ngã
Lời mẹ dặn con một lòng một dạ
Ngẩng cao đầu trước nòng súng địch quân
 
Bảy năm khổ sai sức kiệt thân tàn 
Tù Suối Máu - Ngục kiên giam Xuân Phước
Đồng đội con những nấm mộ không tên
Manh chiếu rách kéo lê ra nghĩa địa
(Mẹ và đời tôi - Lê Phi Ô )
 
     
Trại tù CS đúng là địa ngục trần gian,  không thua kém gì những trại tập trung dân Do Thái  của bọn phát-xít Đức, hay những trại trừng giới Gulag tại Liên bang Xô Viết. ĐAI HỌC MÁU của nhà văn Hà thúc Sinh, ĐÁY ĐỊA NGỤC của nhà văn Tạ Tỵ, TRẠI KIÊN GIAM của nhà văn Nguyễn chí Thiệp, CHUYỆN KỂ NĂM HAI NGÀN của nhà văn Bùi ngọc Tấn, QUẦN ĐẢO NGỤC TÙ của nhà văn Liên Xô  Aleksandr Solzhenitsyn... đã nói lên sự  hèn hạ, độc ác, vô nhân đạo của bè lũ súc sinh lòng người dạ thú CS.  
      
Cuộc nội chiến Hoa Kỳ kéo dài từ năm 1861 đến năm 1865. Quân đội miền nam do tướng Robert E Lee chỉ huy,  đầu hàng tướng Ulysses S Grant chỉ huy quân đội miền bắc. Lính miền nam bị giải thể nhưng được mang súng đạn về nhà  đoàn tụ với gia đình. Không bị bắt bỏ tù, không gông cùm tra tấn, không biệt giam. Cả hai miền Nam Bắc cùng nhau đoàn kết tạo dựng nước Mỹ trở thành một cường quốc đứng đầu thế giới như ngày hôm nay. Còn thiên đường xã hội chủ nghĩa thì khác: đày đọa,  thủ tiêu tất cả những thành phần mà chúng chụp mũ ác ôn, phản động. Tên đồ tể Đỗ Mười đã từng tuyên bố: "Giải phóng miền nam, chúng ta có quyền tịch thu tài sản, trưng dụng nhà cửa, hãng xưỡng chúng nó. Xe chúng nó ta đi, vợ chúng nó ta lấy, con chúng nó ta bắt làm nô lệ. Còn chúng nó thì ta bắt làm lao đông khổ sai vùng kinh tế mới vào nơi rừng sâu nước độc, chúng nó sẽ chết dần mòn..."

Mà đúng như vậy, dân quân cán chính VNCH sống dưới chế độ CS vô thần, sống không ra sống,  chết không ra chết, lê  lết đầu đường xó chợ, ăn bửa đói bửa no, có khi còn phải đi khất thực sống qua ngày. Con cái ngụy quân ngụy quyền không được đi học, hoặc đi học thì cũng bị phân biệt đối xữ với con cán bộ CS, bị liệt kê vào danh sách thấp hèn nhất xã hội. Người tù dưới chế độ CS, nhất là thuộc diện ngụy quân ngụy quyền thì không còn gì để nói,  bọn đầu trâu mặt ngựa trả thù bằng cách đày lên những vùng rừng sâu nước độc, bắt lao động cật lực cho đến chết, lại còn bỏ đói, tra tấn, biệt giam: / Bạn ta trong tù mới gặp / Nam hà địa ngục trần gian / Gạo mục bo bo sắn bắp / Đói lòng nước lã muối rang / Bạn ta trong tù mới gặp / Nam hà địa ngục trần gian / Vác đá đào ao đắp đập / Khổ sai biệt xứ chung thân /  (Tiễn Bạn - TVS):

Long-Giao, Suối-Máu tù trơ xương
Mìn gở phanh thây máu đỏ đường
Chiếu rách xác gom vùi gió cát
Mồ chôn vô chủ lạnh khói hương
.
Vợ bỏ con thơ theo "cán bộ"
Đồng tiền đánh đổi cả nhục vinh
Hởi ơi, canh bạc đời đen đỏ
Mỹ nhân hề…chén rượu tàn canh !
(Tiếng gọi Việt Nam - LPÔ)
      
Nhà thơ Trần phù Thế khi ở tù về đớn đau, uất nghẹn:/ em đi một tiếng không giao lại / hai đứa con thơ cho mẹ chồng /bà đi tìm cháu bao ngày tháng /gặp cháu ăn mày giữa chợ đông / con chị ôm em mừng khóc ngất / nội ôm hai cháu lệ lưng tròng / (Đời Tôi - TPT). Hoàn cảnh gia đình của Lê Phi Ô bi thảm hơn nhà thơ TPT nhiều. Ra tù, không nhà cửa, vợ ra đi không một lời từ biệt, con cái không biết ở đâu nên đành phải sống lang thang tại Bà Rịa.  Ngày đội cá, gánh muối thuê độ nhật, đêm ngủ đầu đường xó chợ. May còn có những người bạn, người  lính năm xưa  sống sót cùng chung cảnh ngộ,  chia xẻ miếng cơm manh áo nên cũng bớt phần nào tủi nhục. Điều này chứng tỏ tình quân dân như cá với nước. Huynh đệ chi binh: vui buồn có nhau, sướng khổ có nhau, sống chết có nhau. Mẹ chết khi LPO trong tù, không ai lập bàn thờ, không ai cúng giỗ,  mộ mẹ một nấm mồ hoang phế cỏ mọc um tùm. Thèm gọi một tiếng MẸ, một tiếng CON thân thương, trìu mến ...: 
 
Con ra tù sống lang thang Bà Rịa
Gánh cá thuê, đội muối, ngủ đầu đường
Mẹ chết từ lâu mộ hoang cỏ dại
Ôm tấm bia con chỉ biết khóc thương
 
Bạn bè xưa vài thằng còn sống sót
Nương tựa nhau chia sớt miếng cơm thừa
Vợ ra đi không một lời từ biệt
Con ở đâu...Ba thèm một tiếng "THƯA"
 
Tạ tội mẹ thương đứa con bất hiếu
Đêm vượt biên không lạy mẹ con đi
Sống hay chết giờ đây con đã hiểu
Chỉ một con đường cặp bến Tự Do
(Mẹ và Đời tôi - LPO)

       

Đánh trận không chết. Bị thương không chết. Tù tội không chết. Vượt biên không chết. Mười hai năm lính, bảy năm tù. Sống ở Mỹ hơn ba mươi năm, tuổi đã bát tuần, chưa một lần về Việt Nam,  người lính Lê Phi Ô vẫn giữ nguyên khí tiết của người chiến sĩ VNCH. Không giãi ngũ, không đầu hàng. Anh tiếp tục chiến đấu trên một mặt trận khác, mặt trận tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ không cộng sản. Anh sẽ về Việt Nam khi:
 
Con sẽ về thắp hương quỳ lạy mẹ
Cất lều tranh bên mộ mẹ cuối đời
Khi đất nước có tự do  dân chủ
Cờ vàng bay phũ kín khắp muôn nơi
(Mẹ và đời tôi-LPO)

Xin cảm ơn người lính già Lê Phi Ô. Xin cám ơn thương binh tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa.


                                                                 Trần Văn Sơn
                                                                                                                     3/2020
                                                                                                   (Tác giả gởi)

Giới Thiệu Sách Mới: Bi Kịch Bản - Truyện dài Trần Yên Hòa





    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-contenthoa_65-content
                                                                     TYH và Cindy Trần



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 133)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 165)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 432)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 370)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 293)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,