DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,322,152

Hoàng Khởi Phong - Ngày N+… (kỳ 2)

Monday, May 11, 20207:53 AM(View: 259)
Hoàng Khởi Phong - Ngày N+… (kỳ 2)
                                       Ngày N+… (kỳ 2)

Bài phóng sự ngày 16 tháng 3-1975 trên Chính Luận Sài Gòn : Hoàng ...
Ngày N, 5 giờ chiều


Ì ạch mãi rồi đoàn người cũng tới được đoạn đường đất đỏ, chỉ còn năm, bảy cây số nữa sẽ vào Phú Bổn, xưa người ta gọi đây là Cheo Reo. Những chiếc xe dẫn đầu hẳn đã lọt vào thị xã, đoàn xe giảm tốc độ, ngang hông đoàn xe, những chiếc xe Suzuki, Honda hai bánh tuần tự lướt qua. Hầu như không có một chiếc xe hai bánh nào chở một người, phần lớn chở hai, đôi khi tôi bắt gặp một người lính lái, dĩ nhiên người vợ ngồi đằng sau ôm theo một đống hành lý, đứa con nhỏ ngồi trên bình xăng, kỳ lạ thay người lính vẫn vắt vai khẩu súng, bụi đường còn đọng trên khóe mắt của những em nhỏ, vệt nước mắt chảy dài trên má.

Một cột khói bốc cao từ phía thị xã, kế đó là một tiếng nổ lớn. Rồi hàng loạt, địch pháo vào Phú Bổn. Chúng không cần bắn vào đoàn di tản, chúng bắn vào chỗ mà đoàn di tản sẽ đến. Con đường còn dài, còn quá nhiều chỗ lý tưởng cho những nút chặn, những cuộc phục kích. Pháo vẫn nổ trong thị xã, đoàn người trên xe túa ra, người lớn, trẻ con khóc như ri. Họ ùa ra các cây lớn bên vệ đường, núp sau các gò đống. Trong chớp mắt, đoàn người biến đi, chỉ còn trơ lại những chiếc xe và vật dụng ngổn ngang, bừa bãi.

Tôi lội sâu vào rừng, cách xa lòng đường khoảng một trăm mét, đột nhiên có một trảng lớn xuất hiện, cái trảng đầy cỏ tranh cao ngập đầu người. Nhô lên khỏi đám tranh là những túp lều xiêu vẹo. Những túp lều nhà binh, mà tôi đoán chắc đây là một địa điểm tị nạn mới thành lập. Nổi bật trong đám lều nhà binh này là vài chiếc lều trắng linh, trắng nõn nà, phải chi có dù đỏ, và vài tàu dừa kết hoa, thì cảnh này hệt như những nhà rạp đám cưới kết bằng dù. Đó là chỗ để bà con cô bác hai bên ngồi nhậu chung vui với đôi trẻ.

*

Ngày N, 10 giờ tối

Quân xa đậu chật sân vận động, dân xa đầy trên các ngả đường. Cheo Reo tên như một lời buồn, bỗng nhiên đón nhận một số dân đông gấp mấy lần dân thị xã, gồm dân chúng của hai tỉnh Pleiku, Kontum gom lại. Không một hiên nhà nào không có người, người ta gối đầu lên vỉa hè, lên những thanh gỗ, nằm co quắp trong các ngõ hẻm, nằm tênh hênh trên các lối đi, rúc trong các quán chợ, đầy người trong các lớp học, chật nghẹt trong nhà thờ, chùa chiền. Đêm như loãng ra, người như quắt lại. Đó đây những nhúm lửa được nhúm lên, người ta nấu ăn, những người lính trẻ tụ tập bên những cút rượu vừa kiếm được.

Thật tình tôi không thể ngủ được, cả đêm qua chập chờn mộng mị, suốt một ngày dài ê ẩm trên xe, xung quanh tiếng nói chuyện rì rào. Tôi thấy rõ những điếu thuốc chợt lóe lên, soi tỏ những khuôn mặt đăm chiêu, bơ phờ.

Tôi ngồi dậy, leo lên ghế trọng tài của sân vận động. Ở vị trí này, dưới ánh trăng mồng chín, tôi quan sát được khắp chung quanh. Trong cái lờ mờ của ánh sáng này, hình ảnh đau buồn của chiến tranh được soi tỏ. Có tiếng trẻ giật mình khóc khuya, có tiếng chó sủa từ các xóm kế cận. Tôi nghe có một tiếng chó tru dài, tiếng tru này vang lên mỗi khi cả bầy im lặng, nó y như tiếng của một ca sĩ chính trong khi cả bè phụ im lặng trong một bản hợp ca tưởng chừng như bất tận.

Tôi ngẩng mặt nhìn trời, đêm sơn cước ở đâu cũng huyền hoặc, bầu không khí lung linh, vầng trăng rờn rợn. Sao đầy trời, lấp lánh như những viên kim cương bày trong tủ kính.

Bây giờ là nửa đêm của ngày 16 rạng ngày 17 tháng 3, người ta đã ký với nhau một văn kiện về hòa bình hơn hai năm về trước. Hai năm đã qua, hòa bình bay cao, như một trái bong bóng bơm quá căng, lên cao thật nhanh và sắp nổ trên trời. Cái giá của hòa bình đang đóng góp bằng máu của người lính đôi bên, máu của những người dân bất hạnh.
Thật tình tôi không ngủ, mắt vẫn mở, hình như tôi mê đi, tôi chợt tỉnh vì một cơn gió khuya, tôi bắt gặp cái bóng của chính tôi đổ dài trên sân tennis. Tôi trở về chỗ nằm, bầy chó vẫn tiếp tục bản hợp ca của chúng.

*

Ngày N+, 5 giờ sáng

Trọn đêm qua và giờ này là thời gian của Cheo Reo. Những người ra đi từ Pleiku và Kontum đã chọn phần số của họ. Những người đó hãy còn chập chờn trong các ngả đường, họ sẽ phải đi, bởi lẽ không có chỗ để trở về, họ vẫn còn ngủ li bì rải rác khắp trong thị xã.

Sáng nay thiếu tá Nguyện dậy sớm hơn thường lệ, sớm hơn mọi khi còn ở tiểu đoàn. Sáng nay ông ta không có tách trà như mọi khi, bù lại cơn ho kéo dài hơn, cơn ho đủ để cho mấy người chung quanh phải trở dậy. Tôi biết rõ thói quen này đã lâu, từ ngày tôi và ông cùng học khóa sĩ quan chuyên nghiệp ở Vũng Tàu. Ông vẫn giữ được thói quen dậy sớm của người lớn tuổi, cũng như tôi vẫn giữ được thói quen thức khuya của thời trai trẻ. Dạo đó, và mãi cả về sau này, tôi vẫn không có thiện cảm với người sĩ quan già có hơn hai mươi năm binh nghiệp này. Khi tôi là chuẩn úy và ông là thiếu úy, học khóa sĩ quan đặc biệt Nha Trang ra, cái xuất xứ đã không làm tôi nể vì. Lại nữa, trường gần biển, tối nào tôi cũng lò mò ngoài bãi tới nửa đêm mới về, cứ đang ngon giấc là y như bị đánh thức bởi những tiếng lách cách của ông ta. Bẵng đi mười năm. Cả hai gặp lại nhau nơi Tiểu đoàn 2 Quân cảnh này, tôi vẫn không thể nào có thêm thiện cảm với ông, người có cái khôn của một sĩ quan sắp giải ngũ, ông đang có những toan tính vụn vặt cho ngày về hưu. Bỗng nhiên cơn ho dài hôm nay và thế ngồi bó gối của ông khiến tôi thương cảm vô cùng.

Trong suốt mười hai năm quân đội, tôi chỉ kính trọng hai người trong số hàng chục vị chỉ huy trực tiếp. Ông Nguyện không phải là một trong hai người này, đôi lúc tôi còn coi thường những thủ đoạn vặt của ông, nhưng hôm nay lòng tôi chùng lại. Tôi nhỏm dậy nói chuyện với ông. Một già một trẻ trầm ngâm trong bóng tối. Chúng tôi trao đổi vài câu, cả hai vẫn lắng nghe những tiếng động vụn vặt của đồ đạc xếp lại, tiếng dọn dẹp, không phải của những người đang ngủ ngoài trời, bây giờ là của những người đang trú ngụ trong những ngôi nhà của thị xã nhỏ này. Họ dọn dẹp trong bóng tối, vì thành phố này hiếm điện. Lát nữa đây, khi mặt trời lên, khi đoàn người tỉnh dậy để đi nốt quãng đường còn lại, tôi biết thêm một thành phố nữa sẽ bị cuốn đi, bởi một dòng cuồng lưu tạo bởi con người. Chúng tôi mới trải qua một phần ba con đường. Gần một trăm cây số đường tráng nhựa, không giao tranh, không trở ngại, không mô, không mìn. Họ, những người dân của thị xã Phú Bổn sẽ nhập vào với chúng tôi, đoàn xe sẽ dài thêm, và con đường cũng bắt đầu tồi tệ.

Ngày bắt đầu rạng dần, sao đã thưa, vài cơn gió sớm thổi tung những miếng giấy vụn trong sân vận động. Lác đác có những ngọn lửa hồng. Trung úy Chánh, trưởng đồn Quân cảnh Phú Bổn cùng trung úy San, Tiểu đội Quân cảnh Tư pháp Phú Bổn đến xin lệnh triệt thoái. Ông Nguyện trở lại cương vị của ông bằng một cái lệnh không chính xác. Có thể hiểu là đồng ý, có thể hiểu là không. Tôi buồn vô hạn, những cái lệnh như thế đã đưa bao nhiêu người đến chỗ chết. Cái thương cảm dành cho ông nửa tiếng đồng hồ trước bỗng biến mất. Tôi nhớ đến mấy em Thiếu sinh quân hồi trưa, tôi nhớ đến người lính chở vợ bằng xe Honda, con nhỏ trước bình xăng và vẫn không quên khẩu súng. Tôi bỏ ra ngoài, đón hai người sĩ quan này ở cổng sân tennis, nói với họ:
– Các anh phải sửa soạn đơn vị, giữ liên lạc thường trực với tiểu khu, Phú Bổn không thể đứng được, Ban Mê Thuột đã mất, người ta đã bỏ Pleiku và Kontum. Cả Bộ Tư lệnh Quân đoàn còn bỏ, huống hồ thị xã Cheo Reo này. Tôi biết chắc các đơn vị ở Phú Bổn sẽ rút ngay sau khi tụi tôi đi, các anh nên theo họ. Đừng quên binh sĩ và vợ con họ.

*

Ngày N+, 9 giờ sáng

Đoàn xe đã nổ máy ba lần, chúng tôi vẫn chưa rời khỏi thị xã Phú Bổn được. Nắng hôm nay gắt hơn hôm qua, mới hơn chín giờ sáng mà đã oi nồng, con đường trước mặt thẳng tắp rồi mất hút trong đám cây rừng. Hôm nay đoàn xe trông thật kỳ dị, nó nham nhở, lẫn lộn giữa đám quân xa và dân xa, giữa màu xanh ô liu là những chiếc xe be màu đỏ, xanh lòe loẹt, một vài chiếc xe du lịch, mặc dù bùn đất phủ đầy lớp sơn nhưng vẫn giữ được cái vẻ đỏm dáng của nó. Những chiếc xe Lambretta ba bánh phun khói mờ trời, và những chiếc xe Honda vẫn len lỏi di chuyển hai bên, ngay cả khi đoàn xe ngừng lại. Tôi đứng trên mui xe nhìn về phía trước, chung quanh bạt ngàn là rừng núi trùng điệp. Gió thổi những chiếc bạt xe nhà binh căng lên. Những chiếc chăn, khăn trải giường được căng lên che nắng bị gió hất lên, trông như những lá cờ hàng của một đoàn quân thất trận. Sau cùng chúng tôi cũng để Cheo Reo ở lại.

Con đường bây giờ không còn rõ hình dáng, có khúc mới được bồi thêm một lớp đá củ đậu, có khúc giữ nguyên hình dáng của một con đường mòn, không có dấu của lề. Giữa trưa đoàn xe ngừng lại ngang một buôn Thượng, có những căn nhà sàn mái tôn mới cất, tình trạng mặt đường có vẻ tốt. Cả tiếng đồng hồ vẫn không thấy phía trước chuyển động. Đây là một khu đồi cỏ, không một bóng cây chung quanh, không một dòng nước mát. Một vài người lính rời đoàn xe, lững thững vào buôn kiếm nước. Họ trở ra cho biết buôn bỏ hoang, nhiều người khác tiến vào, rồi trở ra với những trái đu đủ xanh, hay buồng chuối chín dở.

Bây giờ người ta túa vào buôn, cái buôn nhỏ có độ mười, mười hai nóc nhà bỗng nhiên bi lục lạo mọi xó xỉnh. Rồi người ta dẫn ra hai người Thượng già, thật già. Cả hai không biết nói tiếng Việt. Một người thông ngôn được gởi tới. Và sau cùng chúng tôi biết lý do tại sao buôn mới cất lại bị bỏ hoang: người Thượng di tản ngược chiều với chúng tôi, chẳng phải là họ về với phía bên kia. Song đã nhiều năm nay, một thiểu số đòi tự trị ở Cao nguyên, đòi lập một quốc gia riêng biệt cho người sắc tộc, đây là dịp họ nghĩ là tốt để thực hiện ý định đó. Bây giờ tôi không còn ngạc nhiên khi cả hai ngày nay bắt gặp nhiều toán người Thượng di chuyển ngược phía chúng tôi, có toán cả trăm người.
Hai giờ chiều, đoàn xe chuyển bánh, bỏ lại đằng sau cái buôn Thượng vừa trải qua một trận lụt người.

*

Ngày N + 1, 3 giờ chiều

Một khu rừng tuyệt đẹp, những thân cây cao, to, lá như lá bàng. Con đường đổ dốc thoai thoải, bên phải là hàng triệu những tảng đá xanh lớn nhỏ, thỉnh thoảng một khối lớn như căn nhà đứng chênh vênh chờ đổ. Bên trái con đường là một dòng sông nhỏ, nước trong veo, chảy xiết. Bên kia sông là khu rừng tuyệt đẹp, chỉ có các thân cây lớn thẳng tắp, nhiều cây cao hàng chục thước, thân lớn hơn sải tay, lá khô phủ đầy mặt đất. Bây giờ là tháng ba, đang độ xuân về, đáng lẽ khu rừng đó phải xanh biếc, đầy bóng mát, đáng lẽ nó phải là nơi trú ẩn tốt cho những cánh chim rừng. Vậy mà cây cối đã chết đi, hàng loạt. Khu rừng chết vẫn còn đó, nó rụng lá dần, trơ lại những thân khô, nó còn đó đôi khi cả chục năm sau. Khi lớp thuốc khai quang đã mất hết hiệu lực, rồi cỏ bắt đầu mọc, những thân cây khô mục nát đổ xuống. Phải biết bao nhiêu lâu nữa khu rừng mới có được những thân cây cao dường đó.

Đoàn xe bây giờ không còn chạy, như một con rắn già kiệt lực, nó bò từng chập rồi lại ngừng để thở. Một người lính cho tôi biết còn chừng mười lăm cây số nữa đến quận Phú Túc. Như vậy từ sáng tới giờ chúng tôi đi được hơn ba mươi cây số. Đoàn xe bây giờ không còn đội hình, thật ra thì không còn thứ tự của lúc khởi hành. Làm gì có đội hình, đây chỉ là đơn vị trưởng các đơn vị cỡ tiểu đoàn tự lo liệu cho đoàn xe của họ, có chung một nỗi lo, một tần số làm việc, họ tự vá víu lại, thành một đoàn quân triệt thoái. Rồi dân chúng nhập vào, và bây giờ tôi không còn biết ai là người trách nhiệm cho hơn trăm ngàn người. Tôi biết ông sếp chúa của tôi, trung tá Trần Đình Kha, cũng có mặt trong đoàn triệt thoái này. Có thể có một, hai đại tá, nhưng những người này cũng chẳng bao giờ liên lạc được với những người có trách nhiệm là chuẩn tướng Phạm Duy Tất và chuẩn tướng Trần Văn Cẩm.

Bây giờ là sáu giờ chiều của ngày 17-3-1975, đoàn xe ngừng lại giữa rừng, hai bên đường là những chồi cây nhỏ. Tôi ăn miếng cơm đầu của ngày hôm nay, suốt ngày tôi chỉ nhấm nước, một người lính mang lại cho tôi một gói cơm sấy và một hộp thịt. Tôi không cảm thấy đói, nên lại cất gói cơm vào ba lô. Tôi bỏ xe, xuống đường nằm ngửa mặt nhìn trời cao. Vài ngôi sao mọc sớm lung linh trên nền trời tím thẫm.

*

Ngày N + 1, 8 giờ tối

Hàng ngàn động cơ rú lên, hàng trăm cái còi inh ỏi, đèn xe sáng rực một góc trời. Tôi ngoảnh lại, ánh đèn xe tưởng như bất tận. Đêm nay có lẽ cả đoàn người sẽ phải ngủ lại quận Phú Túc. Để rồi sáng mai chúng tôi lại cuốn theo một số người, bỏ lại một quận lỵ hoang vắng.
Thấp thoáng hai bên vệ đường vẫn là những chiếc Honda đủ màu, chúng lượn qua lượn lại để tránh các ổ gà, các mô đá, y như bầy thiêu thân lăn xả vào ánh đèn. Đường thật hẹp, có lúc tưởng chừng như xe tôi móc phải những chiếc ghi đông xe Honda, song kỳ diệu thay, tất cả trườn đi trơn tuột như một con lươn. Nhìn ngược lại tôi thấy đoàn xe y hệt một dòng suối bạc, nó như một con rồng lửa có cái thân thật dài trong các phim thần thoại. Hình như không xe nào cách xe nào quá ba thước, tôi cảm thấy như nghe được tiếng khóc của con nít trên chiếc xe đằng trước. Tất cả trôi về phía Phú Túc, hầu như không có gì có thể cản nổi.

Bỗng tôi thấy một người đi Honda nằm ngang cạnh lộ, cái xe Honda dúm dó bên đường, có lẽ anh ta đã lạc tay lái va vào một chiếc xe nào đằng trước. Chắc chắn anh ta bị thương nặng, cái tay vẫy cao trong ánh đèn. Anh ta nằm chúi đầu xuống, nhiều chiếc xe lướt qua, thật tình khó có thể ngừng lại với cái dòng xe này. Tôi chưa biết phải làm gì, cái tay cứ lớn dần, lớn dần dưới ánh đèn xe, có lúc tôi tưởng chừng cái bàn tay đó sắp mò vào mặt tôi.

Còn bốn xe nữa tới xe tôi, tôi bảo người tài xế tìm cách đậu lại thì cùng lúc đó cách tôi ba chiếc, đột nhiên đèn thắng loé lên, một người nhảy xuống. Chiếc xe sau ngừng lại kịp, nhưng vài chiếc sau tôi thắng không kịp, những cản xe nhà binh va nhau tạo thành những tiếng kinh hồn. Cũng may tốc độ đoàn xe tương đối chậm, nên cũng không có gì đáng tiếc. Qua ánh đèn xe tôi thấy trung úy Nguyễn Bảy, người sĩ quan điều hành của tiểu đoàn tôi đang vực người bị nạn lên, một anh lính giúp sức, cả hai khênh người bi nạn lên xe. Có những tiếng chửi thề giòn tan của mấy tên lính vô lại trong tiểu đoàn.
Sau cùng chúng tôi đến vòng đai của quận lỵ Phú Túc. Tôi mệt mỏi thiệt tình. Tôi thiếp đi trên xe, từ lúc trước khi đoàn xe ngừng lại. Lúc mở mắt ra tôi thấy một bãi cát im lìm, chung quanh tôi xe cộ đậu ngổn ngang, vẫn màu trăng mênh mông đó, vẫn cái lạnh ngắt của đêm rừng. Đêm nay tôi thực sự thấm thía cái hay của bà Đoàn Thị Điểm trong Chinh phụ ngâm.

*

Ngày N + 2, 9 giờ sáng

Hôm nay thứ hai, 18-3-1975, ngày thứ ba của cuộc triệt thoái, chúng tôi đã ngốn được nửa đoạn đường. Hình như cam go chỉ mới bắt đầu. Trên bản đồ con đường còn lại cũng cả trăm cây số nữa. Nó xuất hiện trên bản đồ bây giờ không còn là một đường vẽ liền nữa, mà là những gạch nhỏ, đứt quãng. Rời khỏi bãi cát, chỗ nghỉ tạm đêm qua, chúng tôi thực sự bước vào quãng đường bị bỏ quên hơn chục năm qua. Mới ra khỏi quận lỵ chừng ba cây số, dấu hiệu của an ninh hoàn toàn biến mất. Ngoài vòng đai phòng thủ của quận lỵ, tôi thấy một xóm nhà, xóm vắng không một bóng người. Tôi biết chắc nó vẫn là chỗ trú ẩn của một số gia đình, những con chó lởn vởn, một con mèo ngồi sưởi trên nóc nhà, nghển đầu nhìn đoàn xe, rồi lại lim dim đôi mắt. Tôi thấy những lá cờ quốc gia mới sơn trên nóc, và trên một vài cánh cửa là những khẩu hiệu chống chính phủ, đả đảo Mỹ, Ngụy.

*

Ngày N + 2, 12 giờ trưa

Đột nhiên con đường biến mất, đoàn xe đang từ hàng một, bò chậm chạp trên mặt đường lồi lõm, bỗng nhiên mở ra một khoảng trống, một đồng cỏ bao la. Vài chiếc xe tách ra khỏi hàng, chạy trên lớp cỏ tranh ngã rạp đó, rồi những chiếc khác tách theo, bây giờ là cả một cuộc chạy đua băng đồng, hàng ngang. Một vài chiếc xe đương chạy bỗng sụp hố, những chiếc sau tách sang hai bên. Người trên xe bi nạn túa ra, đẩy phụ với sức máy, rồi người ta sử dụng bạo lực, nổ súng bắt những chiếc xe gần đó ngừng lại, đẩy, kéo xe họ khỏi hố, hoặc dồn người và đồ đạc lên những xe chạy được. Súng bắt đầu nổ từ một phe, bạo lực lan nhanh như lửa cháy đồng, trong chốc lát nó bao trùm đoàn xe, súng nổ khắp nơi, người ta bắn để cướp đường giành đi trước.

Bạo lực khởi đầu như thế, khởi đầu bằng một nguyên nhân nhỏ nên cường độ chưa cao. Phải đợi đến lúc địa thế trở lại chật hẹp, lại có dấu vết con đường cái, hằng trăm chiếc xe bây giở bắt đầu ép vào giữa, ép vào phía xuất hiện của con đường. Bây giờ súng không nổ phát một, người ta bắn hàng tràng đại liên, không bắn chỉ thiên, mà bắn xả trên đầu. Thỉnh thoảng tiếng súng phóng lựu nổ về phía hai vệ đường trước mặt. Khói súng khét lẹt. Trẻ con khóc như ri, người sùng đạo cầu Chúa, niệm Phật, kẻ bạo lực bóp cò.

Bây giờ là ba giờ chiều của ngày 18-3-1975. Giao tranh chưa thực sự xảy ra, nhưng súng đã nổ, và có lẽ không một khẩu súng nào không lên đạn. Khắp nơi người ta nhìn nhau nghi kỵ. Khắp nơi người ta đề phòng lẫn nhau, kẻ bên cạnh có thể nguy hiểm. Kẻ thù ở xa chưa tới, và chiếc xe bên cạnh, nếu không biết thật rõ, nếu không cùng đơn vị thì phải coi chừng. Bây giờ không còn ai chỉ huy thực sự ở đây.

Tôi đã qua khỏi cái trảng cỏ cao tệ hại đó. Một nửa đoàn xe kẹt lại trong cái đồng cỏ mênh mông, bây giờ chúng tôi tiến thật chậm, chậm như một con ốc sên trên mặt đường. Đoàn xe giảm tốc độ tệ hại, trong khi bạo lực và hỗn loạn khởi đi với gia tốc nhanh.
Súng vẫn nổ đằng sau, chua chát thay, tôi cảm thấy hơi mừng khi chỉ nghe những tiếng nổ giòn của đạn M.16, chưa có những tiếng nổ chát chúa của AK.

*

Ngày N + 2, 5 giờ chiều

Cả ngày nay chỉ di chuyển được mươi cây số, bây giờ chúng tôi ngừng lại ở bìa một ấp định cư. Một ấp Công giáo tương đối trù phú hơn hết kể từ lúc chúng tôi qua khỏi Phú Bổn. Những ruộng mía thẳng hàng, những nương ngô xanh ngát. Bạo lực như dịu lại cùng với nắng chiều sắp tắt. Xe tôi hình như lọt vào khoảng vài trăm chiếc chạy đầu, hầu như không có một chiếc dân xa nào lọt được vào đoàn này, nó lụi đụi đằng sau, bị bỏ lại đó đây trên đồng cỏ, ngổn ngang hàng trăm xác xe, vài kẻ đốt những chiếc xe du lịch đã nâng cao địa vị họ trong nhiều năm nay.

Tôi xuống xe, tìm một chỗ ngả lưng êm ả trong ruộng mía non bên đường. Đoàn xe bây giờ thực sự là trộn trấu. Lúc khởi đi, tiểu đoàn tôi và các đơn vị phụ thuộc có sáu mươi hai chiếc lớn nhỏ, qua cuộc chạy đua băng đồng đó, chung quanh tôi toàn những xe vẽ phù hiệu lạ, lác đác tôi bắt gặp vài binh sĩ dưới quyền. Cách tôi độ mươi chiếc là xe của trung úy, Đại đội trưởng 24 Quân cảnh Tư pháp và trung úy Vui thuộc Tiểu đội Quân cảnh Tư pháp Kontum. Hình như họ có dự trữ khá nhiều lương khô quân đội. Cả hai vẫy tôi lại, mời dùng cơm chung. Những miếng cơm san sẻ lúc này quả tình là quý. Nhưng với tình trạng này, chỉ ba ngày nữa sẽ có nạn đói trầm trọng nếu không được tiếp tế lương thực. Tôi thấy Vui chui vào xe, lục đục một hồi lâu rồi mang ra khá nhiều cơm sấy và đồ hộp. Tôi nói với hai người là phải dè sẻn hơn, và hỏi họ một ít trợ giúp cho mấy đứa trẻ trên xe tôi, vợ con của binh sĩ trong đơn vị. Vui có vẻ ngần ngại. Tôi không trách gì hai anh. Nhưng lòng tôi chùng xuống.

Đằng sau xe tôi, trung úy Lộc già, vợ và tám con, mới giải ngũ chừng ba tháng, khi di tản hốt hoảng quay về đơn vị cũ. Vài người lính trong tiểu đoàn cũng có con nhỏ. Tôi nghe chúng khóc đã hai ngày nay. Tiếng khóc của con nít nó ngặt nghẽo, tưởng chừng như có thể làm đứng tim người mẹ. Khoảng thời gian năm phút kể từ khi tôi mở lời yêu cầu đó, tôi tưởng thời gian ngừng lại. Người tài xế trên xe Vui, nói với tôi giọng giả lả:
– Xe của ông thầy gần đây, lúc nào tụi tôi ăn ông thầy xuống ăn chung cho vui.

Tôi nổi giận vì câu nói này. Một là tôi không xin cho tôi, tôi đủ sức chịu đựng, đủ tài xoay trở khi cần. Hai là tôi biết rõ họ có rất nhiều, lương thực đủ dùng cho cả tháng. Giữa lúc đó một người hạ sĩ quan khác của Vui tới cho biết, vợ thượng sĩ Mạnh có thể đẻ non, đau bụng dữ dội, Mạnh đã đi công tác giải giao vài ngày trước khi di tản. Vui là một sĩ quan tương đối có lòng, anh đứng dậy cùng người hạ sĩ quan đi về phía sau. Thấy vậy tôi cũng đi theo, mãi hơn một giờ sau tôi và Vui tìm được một bà mụ trong ấp. Không thể đưa sản phụ về nhà bà ta được, mà nước đầu ối ra nhiều, Vui, tôi cùng đồng ý phải kiếm một chỗ kín gió, chăng tạm vài tấm bạt, và đứa bé đã ra đời trong cái lều lộ thiên này. Tôi và Vui ngồi ở xa xa chờ kết quả, cái kết quả mở đầu bằng tiếng khóc trong hoàn cảnh bi đát này.

Một vài ngôi sao mọc sớm cùng với tiếng trẻ sơ sinh khóc oa oa trong cái buổi chiều chạng vạng kỳ quặc đó. Bà mụ cho biết đứa nhỏ tốt nhưng sản phụ hơi yếu. Khỏe làm sao được với cuộc hành trình này. Tôi không biết Vui giải quyết nốt tình trạng ra sao. Nhưng khi về lại chỗ đậu xe, Vui đưa cho tôi một thùng lương khô với giọng thật nhẹ:
– Cái này của tụi nhỏ. Rồi anh ta tiếp luôn:
– Đây là của ông thầy. Miệng nói tay anh đưa cho tôi hai bao thuốc lá quân tiếp vụ.

*

Ngày N + 2, 6 giờ chiều

Một toán Biệt kích của trung tá Lê Minh cải trang quân phục Việt cộng, dép râu, súng AK xuất phát từ phía trước mặt. Tôi nghe nhiều tin đồn xấu về những lính giả Việt cộng cướp của, giết người, hãm hiếp phụ nữ. Cầu mong có Lê Minh ở đây. Anh ta là bạn cùng khóa cùng trung đội với tôi hồi còn là sinh viên sĩ quan. Trung tá ba mươi tuổi, đem xương máu của anh để đổi lấy những huy chương và những bóng mai trên cổ áo.

*

Ngày N + 3, 5 giờ sáng

Đoàn xe khởi hành thật sớm. Trời tối mịt. Đêm qua tôi ngủ thật ngon, cả ngày kinh hoàng vậy mà đêm tôi có những giấc mơ thật đẹp. Tôi thấy trẻ lại mười năm, bước vào lớp học. Những em nhỏ áo quần sạch sẽ đứng dậy chào, rồi lớp học bắt đầu trong những tiếng hoan ca. Phải chi tôi trẻ lại thật sự.

Chúng tôi vẫn ì ạch tiến tới, một binh sĩ cho biết tin tệ hại, đã xảy ra từ hai ngày trước. Binh sĩ này có mấy người bạn ở thiết giáp thoát chết trong trận phục kích phía sau đoàn xe, và đã phải chạy thục mạng mới bắt kịp đoàn xe. Trận đánh diễn ra khoảng giữa đường Phú Bổn và Phú Túc, ngay tại khu rừng đẹp với những thân cây khô. Thiết giáp đoạn hậu cho cuộc triệt thoái tệ lậu này. Theo lời mấy binh sĩ thoát chết kể lại, Đại tá Lữ đoàn trưởng đi cùng đơn vị, khoảng một trung đoàn địch bôn tập từ quốc lộ 19 sang, không bắt kịp đoạn đầu của đoàn di tản đã chặn đánh khúc sau. Vị trí thuận lợi cho cuộc phục kích, địa thế chật hẹp, chiến xa không thể xoay trở được, một số nhỏ chạy thoát kịp theo đoàn di tản phần lớn là M113, hầu hết những chiến xa nặng kẹt lại. Đại tá Lữ đoàn trưởng tự sát. Thêm vào đó hai tiểu đoàn Địa phương quân người Thượng cũng nổi loạn, chiếm tỉnh Phú Bổn, truy kích phía sau của đoàn tị nạn, nhiều dân chết, phía cuối đoàn xe bây giờ là địa ngục.
Tôi còn biết thêm một tin tệ hại không kém, cái tin kia đã dừng lại từ hai ngày trước, đã bị bỏ lại đằng sau.

Tin tôi mới biết sẽ mang sự tệ hại đến cuối con đường. Tin cho biết là một số Biệt động quân thất trận khi giải vây Ban Mê Thuột, cùng với hậu cứ của các tiểu đoàn Biệt động quân Biên phòng đã bắt kịp đoàn người. Bây giờ họ là những ông vua con của từng đoạn đường. Họ nổ súng bừa bãi, cướp giật giữa ban ngày, họ tước đoạt bình thản bằng mũi súng của họ, không chừa một ai, già, trẻ, lớn, bé. Họ không chê một thứ gì từ đồng hồ, nhẫn, dây chuyền, tiền bạc, thậm chí họ còn tước cả những đôi giày còn tốt của người khác đang đi, họ cướp ăn, họ giật uống.
Tôi biết chắc chỉ có một vài Biệt động quân làm ẩu. Nhưng bọn đào binh, bọn quân phạm, bọn vô lại của tất cả các đơn vị đã cố kiếm cho được những bộ áo ngụy trang của binh chủng này. Trời dần sáng, chúng tôi bắt gặp một dòng suối cạn, đường thật hẹp chỉ một xe có thể qua, bờ bên này thoai thoải, bờ bên kia dốc thật gắt lại có thêm một khúc quẹo ngặt nghèo. Xe qua từng chiếc, phải đợi cho chiếc này lên hết dốc chiếc khác mới có thể tiến lên.

Một quân xa chở nặng, hư số phụ, tuột dốc lưng chừng đồi, rất may xe không có người và anh tài xế nhảy ra kịp, chiếc xe lật nhiều vòng. Cây cối ngã rạp, đồ đạc văng tứ tung, sau cùng nó nằm ngửa bốn bánh lên trời, một phần xe choán ngay lối lên dốc. Cần phải tránh một tai nạn tương tự, nếu không tất cả đoàn xe sẽ kẹt cứng.

Tôi không rõ ai ra lệnh, một vài quân cảnh tiến ra điều hòa lưu thông, họ hoạt động ở hai đầu dốc. Thượng sĩ Hạp, một nhân viên quân cảnh của trại giam Pleiku điều hành ở dốc cao, anh chặn lại những xe có cần trục, để có thể kéo những xe khác không đủ sức leo, hễ có một chiếc xe cần trục khác tới thì chiếc trước được đi.
Một người lính biệt động quân ngồi nhờ trên xe trục công binh cho là đã bị Hạp xử ức, nên khi có xe khác thay thế gã đã nổ súng bắn Hạp. Anh chết tức khắc.
Bây giờ sức mạnh trong tay không phải là những người cầm súng. Ở đây có quá nhiều súng. Lẽ phải ở trong tay những kẻ dám giết người.

*

Ngày N + 3, 4 giờ chiều

Bây giờ chúng tôi lết từng chặng, từng chặng. Địa thế ngày càng tệ hại, nhiều lúc đoàn xe phải băng ngang cánh rừng chồi, vòng qua những khu vực lầy lội, tránh những tảng đá to, vượt qua những khe suối nhỏ. Hôm nay lác đác đã có những người đi bộ, chắc hẳn đã có nhiều xe cộ bỏ lại dọc đường. Hôm nay mặt trời thật gắt. Mấy đứa trẻ sau xe tôi đã phơi nắng vài ngày, da chúng đỏ như những con tôm luộc. Nhiều đứa xọp hẳn đi, chúng khóc bây giờ không còn ra tiếng, toàn thân rung lên, bờ môi tái ngắt. Có đứa như kiệt lực. Mấy tấm vải căng tạm đã không đủ che cái nắng quái ác này, càng không đủ với khí lạnh ban đêm. Tôi nhường ca bin xe cho hai em tương đối yếu nhất. Cũng không giải quyết được gì, các em đòi mẹ xem chừng còn khóc to hơn. Tôi quay về chỗ cũ, một em bậy ra xe, người tài xế cằn nhằn.

Trời chạng vạng tối, đoàn xe phải băng ngang một con suối lớn. Công binh chiến đấu phải ủi tạm một con đường. Rút kinh nghiệm về cái chết của Hạp, hôm nay không hiểu lệnh từ đâu, những người linh công binh mang băng đỏ ở tay phải, đề hở phù hiệu công binh nơi tay trái, họ điều hòa lưu thông khá hữu hiệu. Từng chiếc một bò nặng nhọc trên con đường vừa ủi xong, cây cối ngổn ngang bên đường. Những chiếc xe nặng, bánh lún sâu xuống lòng đất xốp, tạo những đường rãnh giữa mặt đường. Thỉnh thoảng xe ủi công binh lại phải cào lại mặt đường. Bây giờ không một ai còn nghỉ đêm. Dư âm của trận phục kích bọc hậu đoàn thiết giáp vô hình trung là động cơ thúc đẩy người ta tiến tới trước, bất kể ngày đêm. Đoàn xe như co mình lại chờ đợi.

Qua khỏi cái vực khốn nạn này, chỉ còn vài cây số nữa là tới quận lỵ Củng Sơn, một quận lỵ của tỉnh Phú Yên, từ đây vượt mười cây số nữa sẽ tới sông Ba, con sông hiền hòa, mở ra bát ngát ở cửa bể Tuy Hoà. Qua sông Ba, con đường trên bản đồ lại trở thành một đường vẽ liền lạc, không còn những gạch đứt quãng. Tôi tính thầm trong bụng, nhiều lắm hai ngày nữa đoàn xe sẽ tới Tuy Hoà, bởi lẽ qua khỏi sông Ba, chúng tôi sẽ hiện diện trên thượng nguồn của đập Đồng Cam. Từ đó về quận lỵ Hiếu Xương hơn hai mươi cây số, con đường xe cộ vẫn sử dụng trong bao nhiêu năm nay, sẽ không còn những chướng ngại vật thiên nhiên như khi rời Phú Túc.

Bây giờ là tám giờ tối của ngày N + 3, xe tôi bắt đầu đổ dốc. Con dốc làm mọi người phải chóng mặt, không một ai ngồi lại trên xe, tất cả đều xuống đi bộ ngay sau xe mình. Tôi vẫn ngồi yên trên ghế trưởng xa, người tài xế già cắn chặt môi, anh để hết số phụ, đạp như gần lút thắng, mỗi lần nhấc chân phải lên, chiếc xe như chuyển mình lao xuống, anh lại gò người xuống, như trì cả sức nặng của toàn thân anh trên bàn thắng.

Dưới ánh đèn pha của xe sau rọi tới, bụi đỏ bốc lên mù mịt, xe như đi trên mây, đôi lúc tròng trành như thuyền lướt trên sóng. Giữa con dốc, một chiếc xe nằm nghiêng ở đáy vực, dấu vết của tai nạn ngổn ngang chung quanh. Người lính công binh trên đầu dốc cho biết có vài người chết, vì chiếc xe đứt thắng giữa chừng. Phần lớn là mấy người già quá, không muốn xuống xe. Tôi nhìn về phía đằng sau, qua một con dốc cao, công binh lại phải làm tạm con đường theo địa thế, nên giữa chừng con dốc, con đường quẹo về phía trái một góc hầu như chín mươi độ. Qua khúc quẹo này, ánh đèn pha của những chiếc xe sau bị khuất lấp, đêm nay trăng mười hai đã ở xế đỉnh đầu, tôi thấy những người lội bộ sau xe.

Dưới ánh trăng tỏ, và trong đám bụi mờ bỏ lại đằng sau, trung úy Lộc già, vợ con ông ta, vợ con binh sĩ, bước thất thểu như những bóng ma kỳ lạ. Điều làm tôi đau lòng nhất, là hình như tôi cũng chịu hoàn cảnh với họ, chia sẻ với họ từng quãng đường, từng tiếng súng. Rõ ràng là tôi đã chung với họ không thiếu một thứ gì, thế mà giữa tôi với họ hình như vẫn có một khoảng cách. Tại sao lại có khoảng cách này? Chỉ trong một thoáng ngắn của bóng trăng đêm nay, cái hình ảnh lếch thếch của vài em nhỏ chạy lúp xúp cho kịp người lớn, những mái tóc rũ rượi của phụ nữ, tôi hiểu tại sao lại có sự cách biệt này, sự cách biệt không thể nào khỏa lấp nổi, khiến tôi không thể nào khổ đau như họ. Nó thật giản dị: vợ con tôi không có đây, vợ con tôi đang ở một vùng an bình tạm nào đó.

Qua khỏi con suối, chờ mọi người lên đủ, người tài xế nhấn ga, chiếc xe lồng lên, nuốt khoảng trống để bắt kịp đoàn xe trước. Chỉ còn 5 cây số đường rừng để tới quận Củng Sơn. Tôi thấy quá nhiều người đi bộ, từng nhóm một, chạy dạt qua hai bên lề đường mỗi khi thấy ánh đèn xe. Tôi hiểu họ không có một chọn lựa nào khác hơn là bỏ xe xuống đi bộ, do con dốc thì ít, nhưng họ sợ hãi nhiều hơn. Họ không muốn kẹt lại đằng sau, ở đó mạng người bấp bênh vô cùng. Bấp bênh tới từ cả hai phía.

Đường trống phía trước mặt, tôi hạ lệnh ngừng xe, kêu gọi mọi người đằng sau thu gọn hành lý. Anh tài xế, tôi và một người lính dọn lại cái móc hậu đằng sau, toàn là quân trang quân dụng của tiểu đoàn. Tôi ra lệnh cho họ vứt bớt những thứ nặng không cần thiết. Bây giờ phải tiết kiệm mạng người, những máy đánh chữ, máy phóng thanh xách tay đó có ích gì đâu trong hoàn cảnh này. Bây giờ tôi không còn chọn lựa, bất cứ ai ở gần xe tôi, xin mời lên đi nốt đoạn đường.

*

Ngày N + 3, 11 giờ tối

Đoàn xe ngừng lại giữa một cánh rừng chồi. Trăng bị che khuất, nền trời như đặc lại, tất cả đoàn xe tắt máy, tắt đèn. Có tiếng nhắc chừng đừng hút thuốc. Thật tình tôi buồn cười cho cái kiến thức quân sự này. Nó xứng tài làm tướng ở nước tôi, nếu người đó có may mắn. Đoàn xe dài như thế, ồn như thế, con đường không có chọn lựa nào hơn, nếu địch quân có ở đây, đủ để đánh thì chúng đã đánh mấy ngày nay. Có thể chúng đã có mặt, hoặc là quá ít, hoặc là chưa đủ điều kiện để ra tay. Tôi vẫn nghe những tiếng rì rầm, tiếng những cành khô gẫy. Dĩ nhiên không phải là do thú rừng. Thú rừng nào mà không bạt vía, mà không chạy xa đoàn xe kỳ lạ và náo nhiệt này. Tiếng động đó tạo bởi những người đi bộ, họ gánh gồng, bồng bế, đầu đội, tay xách, lặng lẽ tiến tới trước. Họ không thể dừng lại.

Đột nhiên có tiếng động cơ vẳng lại, có tiếng xích lớn nghiến trên mặt đường. Ai nấy đều đinh ninh là tiếng chiến xa. Rõ ràng tiếng động cơ đó có lúc tiến lại gần, rồi lại ra xa, tôi vốn nhạy cảm, nên có thể phân định phương hướng tốt, chắc chắn số chiến xa không nhiều. Nó tiến lại gần, gần đến độ nếu trăng không bị che lấp, chắc tôi đã nhìn thấy nó thấp thoáng sau những chồi cây thưa. Cho tới giờ chưa ai có thể biết đó là chiến xa của phe nào. Tiếng động cơ vẫn ầm ì, kéo dài cả tiếng đồng hồ. Có tiếng súng vẳng lại. Tiếng nổ súng lớn. Trận đánh chắc ở xa, bởi lẽ những lằn lửa đạn liên thanh xé màn đêm, hẳn là phải hàng chục cây số, phía trước mặt đoàn xe. Tôi biết chắc bây giờ địch đã chặn phía trước mặt. Trận đánh vẫn tiếp tục, tiếng xích chiến xa ngừng lại, bây giờ tiếng động cơ máy bay vọng lại, những đốm sáng nhấp nháy trên trời đêm.
Hai chiếc hỏa long xuất hiện trên vùng giao tranh.

Đây là những chiếc phi cơ vận tải C47, C119, C123 biến cải, trang bị những khẩu đại liên sáu nòng. Tốc độ bắn hàng ngàn viên trong một phút. Khi khai hỏa nó rống lên như một con bò thần. Hai chiếc hỏa long bay vòng tròn trên vùng giao tranh, những lằn đạn lửa của chúng vẽ thành hai hình nón lật ngược. Cảnh thật đẹp, thật hùng vĩ, trong khi những lằn đạn từ dưới đất tạo thành những đường tiếp tuyến, cát tuyến cho hình nón.
Bây giờ tôi thấy tận mắt hình vẽ của những bài toán không gian, những bài toán về phép quay của năm đệ nhất. Trước kia tôi vẽ trên mặt phẳng của tờ giấy, để tưởng tượng ra cảnh này. Bây giờ bài toán nghiệm chứng trước mặt, nhưng cái đáp số của nó thì quả là ghê hồn. Hôm nay, quả tình tôi không muốn thấy cái nghiệm chứng của bài toán.

*

Ngày N + 4, 5 giờ sáng

Tôi thiếp đi một giấc dài trong lòng xe. Khi tôi thiếp đi hai chiếc máy bay vẫn vẽ những hình nón của chúng. Thỉnh thoảng chúng đổi chóp, có nghĩa là đổi mục tiêu tác xạ, kỳ lạ thay những lằn tiếp tuyến hình như cũng toa rập theo phép tịnh tiến này. Hỏa châu thỉnh thoảng vụt nổ giữa trời cao, soi sáng một vùng trận địa. Tôi thiếp đi, tôi lại mơ vọng về quá khứ, xa hơn mười năm, mười lăm năm, bắt gặp các ông thầy toán rải rác trong mấy năm trung học, từ thầy Hà Đạo Hạnh gầy gò với chiếc Lambretta trắng, thầy Quán đầy trách nhiệm lương sư với chiếc Mobylette vàng, thầy Nguyễn Xuân Nghiên bên chiếc Taunus 17, thầy Nguyễn Văn Kỷ Cương với chiếc Volkswagen xanh. Một điều lạ là các thầy không dạy học. Trong tay không có cục phấn, các thầy bỗng trở thành những xạ thủ đại liên tuyệt vời, đã bắn những lằn đạn lửa tượng hình cho các bài toán của các thầy.

Khi tôi tỉnh dậy, trời vẫn tối lờ mờ, tiếng xích chiến xa lại vang lên. Tôi muốn bỏ xe tiến lên xem chuyện gì phía trước. Chẳng lẽ lại là chiến xa địch, nếu có hẳn là đã có giao tranh bởi lẽ trước tôi cả đoàn xe vài trăm chiếc, ít nhất đoàn xe cũng kéo dài hàng cây số trước mặt, nhất định những chiếc chạy đầu phải tiếp giáp với những chiếc thiết giáp này, tại sao không có tiếng súng nổ. Có những tràng M16 nổ chát chúa phía sau. Trời đã lờ mờ sáng, một đoàn độ hơn mười chiếc GMC, những người nổ súng đứng ở bên hông xe dẫn đầu, anh ta mặc đồ bông ngụy trang. Đoàn xe tách vào trong rừng chồi chạy cách lề đường trăm thước. Khoảng một cây số sau, lại có tiếng súng, trong khi những chiếc xe tuần tự lấn vào đường. Thì ra người anh em biệt động quân mở đường lấn. Chưa có máu lúc này. Phải đợi cả tuần lễ sau đoàn xe mới mở đường máu. Bây giờ hãy lấn cái đã. Tôi vững bụng tiến về phía trước.

Tiếng chiến xa đêm rồi chỉ là hai chiếc máy ủi của công binh. Những người lính công binh chiến đấu đã công tác cả tuần lễ trước dọc theo con đường. Họ đã san bằng những chướng ngại. Và chướng ngại sau cùng của họ là sông Ba. Họ làm việc suốt đêm, ủi bãi để lập đầu cầu, song không thể nào lập nổi cây cầu, sông không sâu nhưng bây giờ là mùa nước lũ. Nước từ rừng, từ các triền núi đổ về, chỗ sâu nhất chỉ tới đầu gối, nhưng nước chảy xiết vô cùng. Lòng sông toàn cát và sỏi, thượng sĩ Quán công binh điều hành ở đây, trong lúc chờ vật liệu là những tấm PSB được gởi tới, ông đốc suất binh sĩ dưới quyền sử dụng hai chiếc máy ủi kéo xe qua sông. Họ làm việc suốt đêm, mỗi lần kéo độ ba xe lớn, hay năm xe nhỏ. Tất cả các xe đều nổ máy sử dụng hết số phụ, xe ủi chỉ kéo phụ lực. Nhiều chiếc Jeep bị ngập nước chết máy giữa dòng, phải nằm lại chờ kéo riêng.

Bây giờ là bảy giờ sáng, xe tôi sắp sửa xuống bờ sông hai lần, hai lần đều bị dội ngược lại bởi tiếng súng của người anh em biệt động quân. Người tài xế già nhìn tôi, người lính đi theo cũng nhìn tôi. Thật tình tôi không sợ phải đụng. Nhưng đụng làm gì khi qua con sông Ba này chúng tôi vẫn kẹt lại. Thượng sĩ Quán cho hay mấy ngày nay, Tiểu khu Phú Yên mở đường lên không được, hai tiểu đoàn địa phương quân không thể nhúc nhích nổi vì những cái chốt kinh hồn đóng dọc hai mươi cây số đường. Ít ra phải là vài chục cái chốt. Ông ta cũng chờ bắt tay với địa phương quân cả tuần nay.

Tôi bỏ xe lội bộ lên phía trước. Đã mấy ngày nay không tắm. Mồ hôi và bụi đường phủ một lớp như bồ hóng trên người. Chỗ xe đậu xuống bến sông khoảng chừng 300 thước. Tôi nghe tiếng trẻ cười đùa vang vọng một khúc sông. Mãi tới hôm nay tôi mới nghe loáng thoáng được tiếng cười. Ôi tiếng cười hồn nhiên của bầy trẻ thơ, như những tiếng chim líu lo chào nắng mới.

Năm nay ba hai tuổi, tôi vẫn chưa biết bơi, mặc dù hồi nhỏ nhà tôi ở ngay đầu phố Kho bạc Hải Dương, chỉ băng ngang một con đường là sang đền Kiếp Bạc, chỗ người ta lập đền thờ danh tướng Trần Hưng Đạo, ngay bên bờ sông. Trẻ con khắp phố đứa nào cũng bơi bì bõm từ hồi còn nhỏ, tôi cũng vẫn đi tắm sông mỗi chiều với chúng nó, vẫn bơi y hệt như một con chó quào quào trên mặt nước, không tiến, không lùi, rồi cứ chìm dần. Rồi lớn lên làm việc ở Vũng Tàu, ở Phú Quốc, ở Quy Nhơn, ở Nha Trang, chiều nào tôi cũng đi tắm biển, vẫn không biết bơi. Đôi lúc tôi cũng thèm biết bơi, nhưng cứ hễ ra biển tôi giỡn sóng một hồi rồi lên, ngồi phơi mình trên bãi, rồi về. Các anh tôi bơi cả chục vòng ao lớn, chị tôi bơi ngang sông Hải Dương như chơi. Tôi vẫn ì ạch một chỗ giữa dòng. Tôi tự an ủi sẽ cho con trai tôi tập bơi, nó sẽ là một tay bơi có hạng.

Sáng nay, nghe tiếng trẻ cười vang vọng lòng sông, tiếng xôn xao của người lớn, bỗng nhiên tôi thấy thèm biết bơi vô tận. Từ cao tôi nhìn được bao vùng, con sông chảy mạnh, quanh co len lỏi giữa những cao độ trập trùng. Nó rộng cũng nửa cây số. Ở bờ bên kia là một bãi cát vàng mênh mông. Giá không có đoàn xe nhà binh trên đường triệt thoái, tôi tưởng chừng đây như là một ngày hội của phiên chợ bên sông nào đó.
Khi tắm xong trở về, tôi thấy xe tôi đã tiến sát tới bến, người lính đi theo tôi bây giờ cũng mặc đồ bông. Nó nhoẻn miệng cười tinh quái với tôi, bên cạnh nó có thêm một vài khuôn mặt mới cũng áo bông, vẻ mặt thật cô hồn.

*

Ngày N + 4, 12 giờ trưa

Bãi cát bên kia sông Ba đầy xe, những tài xế mở nắp ca-bô, tháo các bu-gi ướt nước, lục đục cúi lau và kiểm soát lại các bộ phận thấm nước. Bãi cát dài mênh mông, trước khi con đường mở ra từ phía bìa rừng.


                                                                            Hoàng Khởi Phong
                                                                                         (còn tiếp)
                                                                                                                                                                               (từ: VV)


* 


Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D



Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, July 2, 202012:35 PM(View: 53)
Ngay từ thuở nhỏ ta được dạy nói cảm ơn khi ai đó giúp mình. Lời cảm ơn không phải để xã giao mà thật sự biểu lộ lòng biết ơn chân thành của mình đối với người đó. Thế nhưng có lẽ chưa bao giờ ta được dạy nói cảm ơn ta vì nhiều khi ta coi chuyện cảm ơn mình là một điều gì đó lố bịch, kỳ cục, không cần thiết! Trái lại nhiều khi ta còn có khuynh hướng nói xấu mình, bất mãn với mình, thậm chí… nguyền rủa mình. Nhiều người lớn tuổi nhìn vào gương mỗi ngày thấy mình già đi với những dấu chân chim ở đuôi mắt, vết hằn ở khóe miệng, nếp nhăn nhúm ở bàn tay… đã không thể chấp nhận được mình, đã âu sầu buồn bã, có người phải căng da mặt, bơm xóa vết nhăn hy vọng giữ mãi vẻ trẻ trung nhưng chỉ được một thời gian ngắn rồi cũng “hiện nguyên hình”, có khi tệ hơn! Xây dựng hình ảnh về chính mình (self image) rất quan trọng. Nếu đó là một hình ảnh tích cực, nó sẽ giúp cho mình tự tin hơn và từ đó ảnh hưởng đến “môi trường” xung quanh, còn nếu là một hình ảnh tiêu cực thì sẽ rất không hay.
Tuesday, June 30, 20208:37 AM(View: 56)
Năm 1993, Nhà xuất bản Tân Thư in tập truyện Thằng Bắt Quỷ, gồm các truyện của tôi đã đăng trên tạp chí Hợp Lưu cùng vài truyện viết trước 1975. Ngay sau đó xuất hiện bài viết của Dịch giả Phan Huy Đường, ký tên Trần Đạo, tựa đề Thằng Bắt Quỷ, Ba mươi năm nung nấu một ngọn lửa [bài đăng trên tạp chí Hợp Lưu, số đặc biệt về nhà văn Mai Thảo]. Gần một năm sau tôi mới nhận được một thư tay, từ Paris của ông. Sau thủ tục thăm hỏi, ông đề nghị, và đã dịch tác phẩm của tôi sang Pháp ngữ. Trải mấy mươi năm, rất mong được gặp mặt nhau, dzô một ly rượu, ông đã qua đời năm 2019 tại Paris. Tháng Ba năm 2008, tôi nhận được một thư của một Kẻ Xa Lạ, nhà văn Đặng Thơ Thơ. Cô thông báo với tôi là Ban Biên tập tuần báo mạng Văn chương Không biên giới Da Màu sẽ thực hiện một số Đặc biệt Văn chương Cung Tích Biền. Số đặc biệt này khá phong phú, từ 23 đến 28 tháng 8-2008. Cô là chủ biên, viết bài nhận định, có thêm một bài phỏng vấn 4 [bốn] triền miên phiêu bồng dài dặc. Hai năm sau, nhân dịp cô từ Mỹ
Saturday, June 27, 20206:01 PM(View: 90)
Bất cứ vì lý do gì, một nhà văn khi còn sức viết mạnh mẽ, mà không thể viết được nữa là một bất hạnh. Khi “Không còn được viết nữa”, vì những lý do áp bức, cường quyền, vì chữ-nghĩa-bị-gông-cùm, ta phải cố mà thoát khỏi cái bất hạnh ấy. Trong hoàn cảnh một Việt Nam Hôm nay, một nhà văn khi còn sức viết mà không được viết, chỉ là bất hạnh thứ nhất. Nếu anh buông xuôi, chữ nghĩa anh sẽ chết, anh đành phải sống, trong thảm cảnh chết dần. Nếu anh viết tiếp với lòng trung thành, nhân văn, với cái gan nói ra sự thật, bất hạnh sẽ được nhân đôi. Đó là sự trừng trị từ phía nhà đương quyền. Anh bảo rằng ngòi bút tôi sung mãn, sâu sắc, về sau? Chính một giai đoạn lịch sử cuồng nghịch, xã hội con người dần biến ra một nhung nhúc tử thi, xú uế tối tăm, chính đó, đã tạo ra cho mỗi con người một sức bật mạnh mẽ để thoát ly. Mỗi thoát ly một tính cách biểu hiện. Có người dương khẩu hiệu, cầm đao kiếm. Tôi là nhà văn, tôi trút vào chữ nghĩa. Chữ nghĩa, cũng là một loại thuốc nhuộm màu
Wednesday, June 24, 202010:29 AM(View: 202)
Tôi là giọt máu lai Việt- Pháp. Đứa trẻ lai nào sinh ra cũng kháu khỉnh dễ thương. Nghe cha nuôi kể, lúc tôi chào đời ở bệnh viện Xanh Pôn, các bà xơ làm hộ lý tranh nhau bế bồng, khen tôi xinh đẹp, quý tướng. Cha tôi là con một chủ đồn điền trồng nho giàu có ở miền Nam nước Pháp. Mẹ tôi là con gái họ Ngô ở làng La Khê, một trong tứ quý địa ở ven kinh thành Thăng Long xưa. Ông ngoại tôi đi lính sang Pháp đánh trận từ hồi thế chiến lần thứ nhất (1914- 1918). Sau khi giải ngũ, cụ được Chính phủ Pháp trợ cấp một khoản tiền về quê tậu ruộng, xây nhà mái ngói hiên tây, vườn sau ao trước, sống đời thanh sạch được dân làng nể trọng. Nhờ thế, mẹ tôi được ra Hà Nội học trường Tây rồi làm việc ở tòa Công sứ. Cha mẹ gặp và yêu nhau say đắm nên tôi là kết quả cuộc tình lãng mạn khác màu da ấy. Cuối năm 1953, khi tôi vừa đầy tháng thì cha nhận lệnh phải về Pháp, hẹn sẽ quay lại đón hai mẹ con sang đó. Thế rồi chiến tranh kết thúc. Hà Nội được giải phóng, mẹ tôi có nhà ở phố Sinh Từ bị tịch thu
Monday, June 22, 20207:50 AM(View: 181)
Hồi ký là một thể loại dễ viết nhất, mà cũng là khó viết nhất. Cả hai đều đúng bon cả. Dễ viết, là một người Việt Nam, sống qua một lịch sử khá kỳ lạ non thế kỷ nay, nếu muốn viết về cuộc đời từng trải của mình, thì bất cứ ai cũng có thể viết nên một quyển hồi ký. Một cô gái lớn lên vào thời chiến chinh, bỏ đồng quê làng mạc, chạy nạn vào thành phố, giàu có nói chi, tới bao nhiêu gian truân, có khi làm đĩ nuôi con; có khi lấy một lính Mỹ, theo chồng Mỹ qua Mỹ thời hậu chiến, bao nhiêu vật đổi sao dời. Một cô gái đẹp, phải nhà nghèo, đành lấy chồng người Hàn Quốc, cả người cà thọt, anh cà nhỏng; thu món tiền lo cho cha mẹ, già bệnh nợ nần; sống trên đất người, cho tới ngày luống tuổi, đêm hắt hiu, chiều tàn hương bên xứ người, thương cha nhớ mẹ, mái nhà bụi chuối, đám bèo trôi miền sông Tiền sông Hậu. Một người lính Cộng hòa, đẫm máu trận mạc, là một thương binh, nạn nhân của một kẻ thù cùng chung họ hàng huyết thống, nay chống nạng đi giữa Sàigòn bán vé số, con cái bị