DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,150,136

Chuyện VN: Nhọc nhằn mưu sinh ở làng chài Thạnh An - Cô dâu Việt ở Đài Loan

Thursday, December 22, 201112:00 AM(View: 8105)
Chuyện VN: Nhọc nhằn mưu sinh ở làng chài Thạnh An - Cô dâu Việt ở Đài Loan

Chuyện mưu sinh ở làng chài Thạnh An



Cuộc sống của người dân ven biển thường bấp bênh, sóng to gió lớn thì nhịn đói với nỗi lo nhà cửa bị cuốn trôi. Hàng ngày, cứ 5 giờ sáng là dân làng chài ở xã đảo Thạnh An (Cần Giờ - TP. SG) lại tất tả thả câu, thả lưới. Vất vả quanh năm nhưng hầu hết họ đều thuộc diện nghèo.



Con thuyền này ngày xưa “chinh chiến“ các vùng biển cùng bác Đặng Văn Du, nay là nơi trú ngụ của người con thứ 3 của bác Du.
Con thuyền này ngày xưa “chinh chiến“ các vùng biển cùng bác Đặng Văn Du, nay là nơi trú ngụ của người con thứ 3 của bác Du.



Nhọc nhằn mưu sinh

Sau gần một giờ đồng hồ lênh đênh trên biển, tôi cũng tới được xã đảo Thạnh An. Căn nhà đầu tiên tôi đặt chân thuộc ấp Thạnh Bình, nó nhỏ xíu, không có cửa, vách lợp bằng lá dừa. Từ ngoài nhìn vào, căn nhà trống hoác, chiếc ti vi cũ là tài sản quý giá nhất của gia đình, mua trả góp từ hơn 3 năm trước. Anh Nguyễn Ngọc Minh, chủ nhân ngôi nhà mới 35 tuổi nhưng trông già sọm, nước da đen cháy vì nắng biển. Anh Minh tâm sự: "Dân ở xã này chủ yếu sống phụ thuộc vào con nước, cực lắm anh ơi. Lúc trời yên biển lặng thì còn có cái ăn, trời mà đổ giông bão thì chỉ có nhịn đói hoặc đi vay mượn để mua gạo sống qua ngày".

"Ngày nào vợ chồng tôi cũng dậy sớm dầm sương dãi nắng, ấy thế mà vẫn nghèo. Bốn năm trước, vợ chồng tôi vay ngân hàng 10 triệu đồng theo diện xóa đói giảm nghèo để phát triển kinh tế nhưng làm ăn thua lỗ, đến nay vẫn chưa trả được. Lãi mẹ đẻ lãi con, hiện số tiền vay đã lên đến 14 triệu đồng, ngoài ra, tôi còn vay nóng bên ngoài, tổng nợ đến giờ đã hơn 30 triệu đồng. Nợ chồng nợ, chắc tới đời con tui cũng không trả nổi nữa", anh Minh buồn rầu nói.

Gắn bó với hòn đảo này đã 75 năm, ông Đặng Văn Du thuộc từng dòng nước, con rạch và xem biển là nhà, ghe xuồng là người thân. Cả đời chắt chiu "thắt lưng buộc bụng", hai vợ chồng xây được căn nhà cấp 4, giờ đó là nơi trú ngụ của đại gia đình gồm ba thế hệ. Với khuôn mặt đen nám hằn vết chân chim, đôi bàn tay chai sạn với những vết sẹo ngang dọc vì kéo lưới, lão ngư bộc bạch: "Gia đình tui làm nghề câu này tới nay đã 3 đời, 4 đứa con hiện cũng theo nghề câu, nhưng chưa đứa nào cất nổi một căn nhà. Hễ biển động thì bọn nó tập trung về đây ở với tui, còn bình thường thì ở dưới ghe. Làm nghề biển, bạc lắm chú ạ…".

Giăng một mẻ chài với hơn 10 tấm lưới, con xuồng mỏng manh của cha con anh Lê Văn Nhơn chao đảo như sắp chìm bởi những con sóng dữ. Phải xoay xở mãi, mẻ lưới mới giăng xong. Lê Văn Tường, con trai lớn của anh Nhơn đang là học sinh lớp 9, Trường THCS Thạnh An, đi học một buổi, một buổi phụ cha đi câu, thả lưới. Nhìn đứa trẻ 15 tuổi gày gò, tóc cháy nắng, tôi cứ ngỡ em mới chỉ 11 - 12 tuổi. Trò chuyện với tôi, Tường kể: "Thấy cha làm một mình cực quá nên em xin đi theo để phụ. Cha giăng lưới thì em phụ cho nhanh để tránh mắc phải đá. Nếu làm rách lưới, về chỉ có nước bỏ đi. Nhiều hôm đi học về trễ thấy cha đã ra khơi ngâm lưới, em lại chèo xuồng tôn ra cạn câu cua".

Sau một ngày lao động cật lực, cha con anh Nhơn cũng chỉ bỏ túi 70.000 - 80.000 đồng. "Sau khi trừ tiền dầu, tiền mồi…, cũng chỉ còn 30.000 - 35.000 đồng, không đủ cho 6 miệng ăn, trong đó có 4 đứa đang ăn học. Thôi thì đành vậy, cố được tới đâu hay tới đó. Không có thì đi vay, chừng nào vay không được nữa thì có lẽ các con tôi sẽ phải nghỉ học…", chị Nga, vợ anh Nhơn thở dài.

 

blank

"Vua cua" Trần Quốc bảo đang tâm sự cùng PV.


Theo chỉ dẫn của người dân, chúng tôi tìm đến nhà anh Trần Quốc Bảo, người được xã đảo gọi là "vua cua". Gọi là "vua" vậy thôi, chứ nhà anh vẫn nghèo. Căn nhà tình thương được chính quyền hỗ trợ khởi công xây dựng từ tháng 9 đến nay vẫn chưa xong. Bên trong ngôi nhà dang dở là một đống lưới chài ngổn ngang, dính đá, hắt lên mùi mặn của muối biển. Mới 30 tuổi nhưng anh Bảo đã có 3 đứa con, đứa lớn nhất 13 tuổi, đứa thứ hai 11 tuổi, còn đứa nhỏ nhất gần 2 năm tuổi. Anh Bảo kể: "Hai đứa con lớn của tui đi học buổi sáng, chiều về thì gỡ đá lưới cua. Mỗi khi muộn con nước, chúng tôi không đi bằng ghe máy mà chuyển sang xuồng nhỏ để tiết kiệm nhiên liệu. Thế mà vẫn khó khăn lắm, từ nhà đến nơi thả câu chừng 20 - 30km, kiếm được ít tôm, cua thì đã bạc mặt rồi".

Những ước mơ xa vời

Bao bọc xung quanh làng chài là biển cả mênh mông. Nhìn những đứa trẻ hồn nhiên đang ngụp lặn bắt cá, câu cua để mưu sinh, tôi không khỏi chạnh lòng. Với những người dân nghèo xã đảo, ước mơ lớn nhất của họ là làm sao có đủ cái ăn, cái mặc, sau đó mới tới chuyện học hành của con cái.

Theo tìm hiểu, trẻ em ở đây đa phần chỉ học hết lớp 9. Còn học lên trung học phổ thông, các em phải đi đò qua mấy chục kilômét để đến trường huyện. Ngoài tiền ăn học, tiền phà, trong đầu những đứa trẻ ấy vẫn canh cánh câu hỏi ở nhà cha mẹ có kiếm được nhiều tôm, cá hay không?

"Điều duy nhất mà chúng tôi mong muốn là làm sao trời yên biển lặng, thả lưới đánh bắt được nhiều cua, cá thì mới có tiền trả hết nợ nần, con cái được học hành đàng hoàng để sau này không còn phải mò cua, bắt ốc, thả câu, kéo lưới nữa…", chị Nguyễn Thị Thu Thủy (tổ 8) chia sẻ.

Ông Võ Hoàng Kiệt, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã Thạnh An cho biết: "Là lãnh đạo, chúng tôi có một phần trách nhiệm với cuộc sống khó khăn, vất vả của người dân địa phương. Mặc dù đã được các cấp, ngành từ huyện đến thành phố quan tâm giúp đỡ, nhưng khó khăn vẫn chồng chất lên người dân nơi đây. Hiện, xã có 1.140 hộ dân sinh sống trên diện tích 1,3km2, trong đó có 693 hộ nghèo, chiếm 61%. Chúng tôi dự kiến di dời bớt một số hộ dân không làm nghề biển lên đất liền để họ không phải âu lo mỗi khi bão lũ tràn về, cũng như ổn định cuộc sống. Còn những người dân ở đây, chúng tôi sẽ cố gắng tạo điều kiện hỗ trợ vốn để họ phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, con cái được học hành".


BVN-TH

Cô dâu Việt ở Đài Loan - Rẻ rúng tận cùng


Phần lớn bất hạnh của các cô dâu Việt đều bởi hôn nhân không tình yêu. Chính việc môi giới gả bán này khiến cuộc đời họ như bị đặt vào một canh bạc đầy rủi ro.


 blank
Biển môi giới hôn nhân với cô dâu Việt tràn lan ở Đài Loan


Tân Hoa xã ngày 24.6.2011 đã công bố rất nhiều bức hình chụp về đề tài cô dâu Việt lấy chồng Đài Loan qua môi giới hôn nhân của nhiếp ảnh gia Mỹ gốc Đài Loan Trương Càn Kì.

Trong suốt 4 năm (2004-2008), ông Kì bỏ công chụp hình cưới từng cặp đôi và bám theo một số nhân vật chụp hình qua nhiều giai đoạn: từ chọn cô dâu, đăng ký kết hôn, giao tiền, đặt vé máy bay khứ hồi, đám cưới tập thể, tới khi vợ chồng sinh sống ở Đài Loan, vợ mang bầu, sinh con… Ngoài chụp hình, ông Kì còn dành nhiều thời gian phỏng vấn và nghiên cứu về cuộc sống sau hôn nhân của một số cặp đôi. Từ đó, ông nhận thấy phần lớn cô dâu Việt nhận lời lấy đàn ông Đài Loan nhằm tìm kiếm một cuộc sống tốt hơn và có khả năng tài chính giúp đỡ lại bố mẹ và người thân ở quê. Tuy nhiên, phần lớn cuộc sống hôn nhân của các cô dâu này đều không được như ý, chủ yếu do bất đồng ngôn ngữ, sự khác biệt về thói quen sinh hoạt và tình cảm quá mỏng manh. Từ số liệu thống kê của ông Kì cho thấy khi kinh tế Việt Nam khởi sắc, số lượng các cô dâu Việt lấy chồng Đài Loan đã giảm đáng kể, từ 12.000 cặp đôi trong năm 2004 đã tụt xuống chỉ còn hơn 2.400 cặp đôi trong năm 2008.

Quảng cáo xúc phạm

Việc quảng bá môi giới kết hôn với cô dâu Việt tại Đài Loan không chỉ còn giới hạn trong các trung tâm môi giới hôn nhân hoặc các công ty du lịch, mà được phát triển tới mức như một sản phẩm chào bán rộng rãi trên kênh truyền hình mua sắm ở Đài Loan. Kênh này đã phát sóng rộng rãi hình ảnh các cô gái Việt e lệ trong bộ áo dài truyền thống khi đang học tiếng Hoa, học nấu đồ ăn Đài Loan và học cách ứng xử trong một gia đình Đài Loan kèm theo những lời giới thiệu: “Da trắng, thân thế gia đình trong sạch, không mắc bệnh phụ khoa, tính nết dịu dàng…”.

Nhiều người dân Đài Loan cho biết họ không lạ lẫm gì về việc môi giới hôn nhân với cô dâu Việt. Bởi ngoài quảng cáo trên kênh mua sắm, các bảng hiệu giới thiệu về cô dâu Việt đầy rẫy khắp nơi với những lời quảng cáo coi thường nhân phẩm như: “Lấy cô dâu Việt chỉ cần từ 18.000-20.000 Đài tệ (129-144 triệu đồng), cam kết 4 điều: bảo đảm còn trinh; bảo đảm 3 tháng cưới được về nhà; bảo đảm không tăng giá; trong một năm nếu cô dâu bỏ chạy, bảo đảm đền một cô khác”. Chính những lời lẽ quảng cáo này đã khiến người dân Đài Loan có cái nhìn khinh miệt và rẻ rúng cô dâu Việt.

Ngay cả báo Văn Hối (Hồng Kông) ngày 26.12.2006 cũng viết một bài cám cảnh cho các cô dâu Việt với nhan đề Vì cuộc sống, cô dâu Việt tại Đài Loan đánh bạc cả tính mạng. Theo bài báo, phong trào lấy cô dâu nước ngoài bắt đầu rộ lên ở Đài Loan từ năm 1994 và vẫn phát triển liên tục cho tới nay, tuy từng bị phản đối mấy năm vừa qua bởi sự lo ngại về một thế hệ tương lai Đài Loan có dân trí thấp và hôn nhân không bền vững.

Theo một số phóng sự truyền hình, chỉ riêng năm 2003, số cô dâu Việt được gả sang Đài Loan lên tới 10.000 người và phần lớn gặp cảnh ngộ không may. Tháng 6 vừa qua, chỉ vì tranh chấp nuôi con sau khi ly dị vợ Việt, một ông chồng Đài Loan đã đâm trọng thương vợ ngay trên phố và một ông chồng khác đã tẩm xăng hỏa thiêu đứa con gái 2 tuổi ngay tại nhà. Ông Ngô Triệu Quân - một nhà tâm lý học ở Đài Loan - thừa nhận thực chất của việc môi giới hôn nhân chính là sự mua bán.



 


Cũng có một số trường hợp cá biệt cô dâu Việt lừa tiền gia đình chồng, được cấp chứng minh thư xong là lấy cớ đòi ly dị, lấy tiền của chồng già đi bao bồ trẻ, đánh bạc, lén lút làm gái bao… Một số cô dâu tham gia các hoạt động xã hội tự nguyện để giúp các cô dâu nước ngoài khỏi bạo lực gia đình cho biết trong vài năm qua, họ từng chứng kiến một số cô dâu Việt “kêu cứu”, vu cáo chồng đánh mình để đòi ly dị, nhưng thực chất là họ đã gặp được những người đàn ông khác ở bên ngoài, tình nguyện chu cấp cho họ sung túc hơn. Một cuộc hôn nhân có xuất phát điểm là sự đánh đổi về vật chất đương nhiên dễ lung lay khi nó được so sánh về vật chất và có điều kiện được đổi chác.

Sau khi vượt qua rào cản ngôn ngữ, sinh sống tại Đài Loan nhiều năm, được đi làm và cọ xát với xã hội, nhiều cô dâu đã không cưỡng lại được cám dỗ, và kết quả là ôm con bỏ trốn hoặc ly dị chồng. Đó là một trong những nguyên nhân chính khiến các ông chồng xứ Đài không hề muốn vợ Việt đi làm. “Em từng nhận được không ít lời đề nghị làm nghề mát xa với mức lương ít nhất trên 100.000 Đài tệ/tháng, nhưng em không làm, vì không thể biết thực chất công việc đó làm gì. Tại sao người ta dám trả cao vậy đâu phải vô cớ”, cô dâu Đào Duyên Hải nói. Cô cũng tâm sự một vài người bạn Đài Loan là nam giới cảm thông với hoàn cảnh của cô, từng đưa tiền đề nghị giúp đỡ và chăm sóc cô, nhưng cô đều từ chối. “Em không muốn họ có cái nhìn xấu về tất cả cô dâu Việt là đều ham tiền. Em muốn kiếm sống bằng chính những đồng tiền lương thiện do mình làm ra, dẫu cả tháng lương chỉ hơn 30.000 Đài tệ”, cô nói.




BVN-TH



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, March 26, 201412:00 AM(View: 6905)
Điều này tôi đã có lời thưa với bạn đọc ở đầu sách
Wednesday, February 19, 201412:00 AM(View: 8414)
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam
Monday, November 25, 201312:00 AM(View: 11140)
Giờ đây các quý bà đã không còn phải tị nạnh với cánh mày râu khi đã có dịch vụ massage yoni chỉ phục vụ riêng chị em.
Sunday, November 17, 201312:00 AM(View: 14170)
Hồi ở tuổi 15, tôi có đọc được một số thơ của tác giả Huy Phương đăng trên tuần báo “Đời Mới” ấn hành tại Sài Gòn từ 1951 đến 1955, trong đó có bài thơ nhan đề “Cát Lạnh”
Monday, November 4, 201312:00 AM(View: 7590)
những người công nhân (CN) tại các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Hà Nội rất khó khăn và bấp bênh