DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,526,745

Trần Yên Hòa - Tháng ngày "lính lác" (dẫn 1)

Wednesday, July 22, 20206:35 AM(View: 2288)
Trần Yên Hòa - Tháng ngày "lính lác" (dẫn 1)
Tháng ngày
"lính lác"
 

TYH trang den


Hồi Ức


Dẫn 1.


Không biết chữ "lính lác" có từ bao giờ? Có lẽ sau ngày 30 tháng tư bảy lăm. Thời gian đi qua lâu quá, tôi cũng không còn nhớ nổi. Chữ "lính lác" - lính là người gia nhập trong quân đội, lính bắc việt gọi là bộ đội. "Lác" theo tiếng bắc là bệnh hắc lào, theo tiếng miền nam, miền trung, là bị bịnh ngứa nổi lên như đồng tiền. Từ này dùng chỉ những anh lính lội rừng, lội núi, qua truông, qua khe, tháng này qua tháng khác, có lúc không có nước tắm rửa nên bị bịnh "lác". Từ này cũng nói lên với tính cách vui cười là, lính nghèo, lính cực khổ trăm bề, nên lính bị "lác".

Tôi dùng từ này với tính cách vui cười, không chê bai hay làm xấu người lính. Chuyện lính thì trăm hình vạn trạng (lính miền nam hay bộ đội miền bắc...). Ý của tôi trong hồi ức này là muốn nói đến lính miền Nam, nơi tôi đã tham gia quân đội gần bảy năm, từ ngày trình diện nhập ngũ (23-10-1968) đến ngày miền nam tan hàng, quân đội cũng tan theo (30-4-1975). Những điều tôi viết ra đây chỉ là những điều thực, rất thực, tôi đã gặp, đã trải, trong suốt trong "đoạn đường chiến bình" gần bảy năm. Và tôi xin nói thêm, chỉ có những người lính (hay sĩ quan) ở đơn vị tác chiến, cấp tiểu đội bộ bình trở lên... mới thấm được. Những người lính ở tuyến đầu, muốn gì, sống và chiến đấu ra sao! Các cấp chỉ huy, trực tiếp hoặc gián tiếp, đã "chiếm đoạt" những quyền lợi ít ỏi, nhỏ bé của người lính, mà đáng lẽ họ được nhận.

Tôi đi lính ngày 23 tháng 10 năm 1968. Một buổi chiều từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng, vào Bộ Tư Lệnh QĐI và QK1 để trình diện nhập ngũ. Lòng tôi rất vui vì tôi đã thi đậu vào trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, một quân trường mới mở đâu được khoảng 2 năm. Đã có Khóa 1 đang theo học, sắp ra trường...Tôi thi đậu vào Khóa 2, mà trong các lời quảng cáo trên báo chí, trên các poster dán khắp nơi, là trường sẽ đào tạo những sĩ quan văn võ song toàn, sẽ là những kỹ sư tâm hồn sau này... Tôi thích chí, làm đơn thi vào và đã trúng tuyển. Theo suy nghĩ, tôi sẽ vào đây học trong hai năm...Hai năm là một thời gian tạm cho là dài, để có thể thay đổi tình hình chính trị, quân sự, trong ván bài Việt Nam. Biết đâu hai năm sẽ hết chiến tranh, hai năm ra trường tôi sẽ về một đơn vị không tác chiến, như làm ở các văn phòng, các đơn vị CTCT. Đầu óc tôi đã trải qua những đêm dài không ngủ vì chuyện "đi lính" này. Bây giờ thì tạm ổn trong 2 năm.

Trước đó, tôi đã loay hoay tính toán cho cuộc đời mình. Nghĩa là sau khi đậu tú tài 2, được cha mẹ cho vào Sài Gòn học Đại Học, tôi luôn luôn suy nghĩ đến tương lai mình.

Ai không muốn tương lai mình, với tuổi trẻ mình, đạt được hoài bảo, như thi đậu vào một trường Đại Học Sư Phạm, ra trường sẽ đi dạy ở một trường trung học nào đó. Chuyện đứng trên bục để giảng cho học sinh nghe về những điều mình học được, về văn chương, chữ nghĩa, về văn học sử, các tác giả văn học mà mình yêu thích, thì  thú vị biết bao. Tôi cũng từng mơ thi vào một trường Y khoa, Nha khoa, để ra trường, trở thành một bác sĩ, nha sĩ. Nếu có đi lính thì cũng được làm ở hậu phương, ở các bịnh viện quân đội.

Hay thi vào trường Quốc gia Hành Chánh để học khóa Đốc sự, ra phục vụ trong chính quyền, tệ nhất là phó quận hay trưởng ty...Tất cả những mơ ước đó đã vượt khỏi tầm tay tôi. Lý do chính là thi vào các trường đó, ngành nghề đó, thí sinh thi vào rất đông và tiêu chuẩn lấy vào rất ít.

Hình như Y khoa chỉ thâu vào khoảng 20, 30 ngươi cho một năm. Đại Học Sư Phạm cũng vậy. Quốc Gia Hành Chánh ban Đốc sự 4 năm, cũng chỉ lấy vào 25 hay 30 thí sinh/năm. Niên khóa 1966, tôi thi vào Nha khoa, với hy vọng mơ hồ...Vì trình độ ngoại ngữ yếu nên tôi rớt là chuyện bình thường. Quốc gia hành chánh và Đại Học Sư phạm, tôi không thi, nhưng tôi nghĩ, có thi vào cũng khó mà đậu, vì sĩ số thí sinh lấy vào quá ít, với lại tình trạng con ông cháu cha, thí sinh có thân có thế, con nhà giàu có lắm tiền nhiều bạc, có thể "chạy" cho con cái họ vào các trường ấy, cũng chiếm một số, nên bản thân tôi, một học sinh nhà quê, mới bước chân vào đại học, học lực chỉ vào hạng khá thôi, thì chắc chắn là không chen chân vào những trường "danh giá" đó được.

Học đại học ở Sài Gòn, tôi vừa đi học vừa đi dạy kèm cho các gia đình có con em cần học thêm ở nhà. Trước tiên tôi ghi danh ở Đại học khoa học, khoa MPC (Toán Lý Hóa). Học đâu được khoảng 3 tháng, tôi thấy tôi không thể tiếp tục theo học được, vì quá khó, dù tôi đậu tú tài 2 ban B (Toán). Tự lượng sức mình, tôi bỏ. Tôi nhảy qua ghi danh bên trường Luật.

Học ở trường Luật, trên đường Duy Tân (sau này mới có bản nhạc Trả Lại Em Yêu của Phạm Duy, "con đường Duy Tân cây dài bóng mát", coi như là một con đường tình sử của những cặp trai gái yêu nhau). Khi tôi học niên khóa 1966, trường luật bị khuấy động bởi những cuộc biểu tình, bãi trường, bãi khóa, và cuộc tranh dành trong cuộc bầu cử Ban Đại Diện Đại Học Luật Khoa. Tôi là một sinh viên mới, từ quê vào, chỉ lo cho đời sống của mình, với chiếc xe đạp cọc cạch, đạp xe từ Hòa Hưng đến giảng đường trường Luật, trong những buổi chiều các giáo sư dạy  từ 4 - 6 giờ.

Sau khi bãi lớp, tôi phải đạp xe từ trường Luật về ngã ba ông Tạ, chạy xe vào đường Thánh Mẫu, dạy kèm cho 2 cô con gái một vị giáo sư...(mà tôi không biết tên.) Hai cô gái khoảng 11, 12, 13 tuổi. Cô chị lớn hơn cô em chút. Cô chị thì tính tình hiền lành, dễ thương. Còn cô em thì giọng nói gắt gõng, chát chúa, mất đi tính ngây thơ của một cô bé học trò trung học đệ nhất cấp (khoảng đệ thất hay đệ lục).

Thêm một thời gian nữa, hình như khoảng đâu 6 hay 9 tháng, tôi nhận ra sống và đi học ở Sài gòn thấy linh đinh quá, nhiều lúc phải đi dạy kèm đến 8, 9 giờ tối mới về, cho nên có người bạn mách nước là Bộ Giáo Dục đang tuyển giáo sư dạy giờ ở các tỉnh miền trung, tôi bèn nộp đơn xin đi dạy.

Khoảng 3 tháng sau, tôi nhận được Sự Vụ Lệnh của Bộ Quốc Gia Giáo dục bổ về dạy tại trường Mộ Đức, Quảng Ngãi. Tôi bèn mua vé máy bay về Quảng Ngãi, và đây là bước đầu tôi làm một thầy giáo quận lỵ. Mộ Đức là một quận nằm phía trong thị xã Quảng Ngãi khoảng 20 cây số...Một quận "nửa nạc nửa mỡ", có nhiều xã ban ngày quốc gia ban đêm cộng sản.

Tôi được thầy hiệu trưởng trường này là anh Lê Hữu Quả, tốt nghiệp viện Hán học Huế, cho dạy khoảng 40 giờ một tuần, vì một trường quận, đang ở trong tình trạng chiến tranh, thiếu giáo sư nghiêm trọng, nên tôi bao thầu. Nhưng giáo sư dạy giờ, phải dạy khoảng 2, 3 tháng mới kê khai giờ dạy, rồi cũng khoảng một tháng nữa mới được lãnh lương, nghĩa là từ ngày bắt đầu dạy, đến lúc lãnh được lương cũng, 3, 4 tháng. Nhưng rồi cái gì cũng qua đi. Dạy ở đây thật là vui, trường mới mở đến lớp đệ ngũ, nhưng các em đà lớn sộ, vì học trò nhà quê đi học trễ. 

Dạy học ở trung học Mộ Đức, tôi buổi sáng vào trường dạy, và tối thì chạy xe về thị xã Quảng Ngãi ngủ. Tôi xin giáo sư Lê Hữu Quả, ở chung với anh, và chia sẻ với anh tiền thuê phòng. Cứ như vậy khoảng một năm trôi qua. Tôi biết được chiến tranh trong những buổi sáng đi vào trường dạy, phải đợi cho toán rà mìn của Mỹ rà mìn xong mới cho xe các loại lưu thông, những lúc ấy tôi thấy chiến tranh gần kề mình quá, như khi đi trên đường, thấy những chiếc xe nhà binh, hay xe đò, bị mìn nổ hất tung lên, xe bị cháy đen, còn người thì không biết thế nào. Vì chứng kiến những chuyện như vậy nên tôi lo sợ về chuyện đi đi về về mỗi ngày, cho nên tôi cùng với một anh bạn giáo viên tiểu học tên là Lê Văn Thí, thuê một căn nhà tranh nhỏ của một phụ huynh, nhờ vị phụ huynh này nấu cơm luôn cho chúng tôi ăn. Đây là những ngày bình an nhất của tôi khi đi dạy ở trường trung học Mộ Đức.

Đến Tết năm đó, tôi chuẩn bị tổ chức một bữa tiệc cho các em học sinh lớp đệ ngũ do tôi làm cố vấn. Tôi cho tiền mua kẹo, bánh ngọt, nước ngọt cho các em "liên hoan". Nhưng ở một nơi toàn lính tráng, giữa buổi liên hoan, có một anh lính nghĩa quân say rượu, vào sân trường la lối, hăm dọa các giáo sư, và bắn súng chỉ thiên ngoài sân trường, nên tôi đành cho giải tán buổi liên hoan. Và vào dịp Tết ấy, tôi lại được thêm một Sự Vụ Lệnh nữa của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, cho tôi về trường trung học Lý Tín Quảng Tín dạy. Nên tôi suy nghĩ, và cũng có ý tham công tiếc việc, tôi liền chia dạy hai nơi, một trường Mộ Đức, (khoảng 35 giờ/tuần), dạy buổi sáng từ 7 giờ đến khoảng 12 giờ trưa, là tôi chạy xe ra Lý Tín dạy buổi chiều, từ khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều (khoảng 20 giờ/tuần). Như vậy tôi dạy hai nơi khoảng 55 giờ/tuần. Tổng cộng tôi dạy khoảng từ 55 đến 60 giờ một tuần. (Vì nhiều lúc hiệu trưởng nhờ dạy thêm). "Cày" như vậy khoảng 2 tháng, thì tôi đuối sức, chạy xe từ Mộ Đức ra Lý Tín khoảng 50 cây số, quá vất vã, nhất là lúc đó, hãng RMK đang thầu làm đường quốc lộ 1, nên đường sá bị đào lên, toàn đá, nên tôi nghỉ dạy ở Mộ Đức luôn.



                                                                                    Trần Yên Hòa
                                                                                           (còn tiếp)
 
                                        Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

 

 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, July 24, 20218:33 PM(View: 24)
Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi : - Xếp có dính dáng đến Duy Dân không? Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói : - Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái. - Xếp là nhà báo. - Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân. Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi
Wednesday, July 21, 20214:14 PM(View: 63)
Nghe tôi nói đến "Hiếu nhà băng", thiếu tướng Thạc nhướng lông mày, ngạc nhiên: – "Hiếu nhà băng" ở Zurich? Ông quen hắn à? Tôi gật: – Quen. Chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy à? – Biết. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy chúng tôi đặt cho hắn biệt danh "Hiếu tồ". – Trái đất tròn thật. Hoá ra hai ông quen nhau – tôi nói – Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch Ai Cập. Lâu rồi, dễ đến ba hoặc bốn năm. Quen loáng thoáng thôi. Mãi đến năm ngoái gặp lại ở Genève mới có dịp tâm sự. – Ông thấy hắn ta thế nào? – Tính tình cởi mở, quả có hơi tồ một chút. – Nghe nói bây giờ hắn giàu. Giàu lắm ấy. Ông thiếu tướng liếm đôi môi khô. Trong giọng ông có một chút khó chịu, một chút ghen tị, hoặc cả hai. – Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi nói nhận xét của mình – Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang – một cái BMW đời cũ. Đại khái là làng nhàng, không có gì nổi bật. Trước khi về hưu ông ấy làm việc ở một ngân hàng. Phó giám đốc
Thursday, July 15, 202110:51 AM(View: 103)
rong tháng Tám vừa qua, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tại Paris, Pháp Quốc, đã đột ngột qua đời tại Quận Cam, Nam California, khi ông từ Pháp sang đây để lo việc ấn hành sách cho nhà xuất bản của ông. Ông là một người của sách vở, tuy không phải là một người sáng tác hay biên khảo nhưng những tác phẩm ông để lại cho đời thật là nhiều. Từ bốn mươi năm qua, ông chính là người phát hiện ra những giá trị của sáng tác và biên khảo của biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam, đưa chúng đến với người đọc với một tấm lòng trân trọng và trìu mến. Chính công việc và cung cách xuất bản sách của ông đã cho thấy ông là một người nghệ sĩ thứ thiệt, một nhà văn hóa nhiệt tình với đất nước. Có thể nói Thanh Tuệ là sách, sách là Thanh Tuệ, và chữ sách ở đây phải được hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất, thanh tao nhất mà từ xưa đến nay nhân loại đã dành cho thứ sản phẩm văn hóa này. Một người thích sách vở sống vào giữa thập niên 1960 tại Sài Gòn thì không thể không để ý đến một
Wednesday, July 7, 202112:00 PM(View: 173)
Cha tôi, nhà văn Nhất Linh, cho ra đời hơn mười tác phẩm. Mẹ tôi sinh đẻ hơn mười người con. Bà thường nói đùa với chúng tôi: “Cứ mỗi lần Mợ có mang thì Cậu lại thai nghén một quyển truyện”. Những đứa con của mẹ tôi khi chào đời thường song hành với một tác phẩm mới của cha tôi được xuất bản. Chẳng hạn như anh Thạch tôi sinh năm 1935 ứng với năm tác phẩm Đoạn Tuyệt ra đời. Nhưng khi cha tôi bắt đầu thai nghén và khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940, trong khi mẹ tôi cuối năm đó sinh đẻ ra tôi, thì tác phẩm này vẫn chưa chịu ra đời. Lần này khi khởi viết Xóm Cầu Mới Nhất Linh mang hoài bão quá lớn, “cái thai” quá to, nên tác phẩm không chịu xuất hiện trên đời cho mãi đến ba mươi ba năm sau. Kỳ diệu thay chính tôi lại là người “đỡ đẻ” cho tác phẩm ra đời khi tôi cho xuất bản cuốn Xóm Cầu Mới lần đầu tiên vào năm 1973. Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để
Tuesday, July 6, 20217:30 AM(View: 169)
Trong giới văn chương VN, nhà văn Nhất Linh là một tên tuổi lớn. Ông từng lập ra Tự lực văn đoàn và là một cây bút chính của nhóm nên khám phá Nhất Linh qua lời kể của con trai ông là điều khá thú vị. Nhà văn Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam, một tên tuổi lớn với bút danh Nhất Linh, Tam Linh, Bảo Sơn, Lãng du, Tân Việt, Đông Sơn (khi vẽ); và cũng là chính trị gia nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 20. Sau này, ông còn là người sáng lập Đại Việt Dân chính Đảng, từng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng (khi Đại Việt Dân chính Đảng hợp nhất với Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng), giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Các tác phẩm chính của nhà văn Nhất Linh đa phần phản ánh hiện thực xã hội và lãng mạn rất được yêu thích: Gánh hàng hoa, Đoạn tuyệt, Đôi bạn, Nho phong, Anh phải sống, Thương chồng... Sau 1975 tuyển tập hồi ký của Nguyễn Tường Thiết - Nhất Linh, cha tôi được công bố lần đầu năm 2006 nhân kỷ niệm 100 năm