DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,526,750

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (dẫn 2)

Saturday, July 25, 20207:28 AM(View: 2091)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (dẫn 2)
Tháng Ngày "lính lác"

Sach TYH


Dẫn 2.

 

Đó cũng là những ngày Tết Mậu Thân, 1968. Tết Mậu Thân, tôi về Tam Kỳ ăn Tết với cha mẹ. Lúc này cha mẹ tôi đã tản cư từ Quán Rường xuống Tam Kỳ. Cha mẹ xin dượng Liệu, một người bà con xa với mẹ tôi, một khoảnh đất nhỏ sau vườn nhà dượng, cùng cậu Tiến (em trai mẹ) làm cái nhà tranh nhỏ để có chỗ tạm trú cho gia đình. Cái nhà nhỏ làm chung, nhưng ngăn hai, bằng tấm vách là tấm cót tre. Cậu Tiến tôi lúc này đang làm xã trưởng xã Kỳ Mỹ, nên buổi sáng cậu về quê làm việc, buổi tối, cậu và các con trai cậu về đây ngủ.


Tết Mậu Thân, tôi về ở đây ăn Tết cùng cha mẹ. Và trong đêm mùng một, nghe đạn bắn tứ tung, từ tiểu khu Quảng Tín, từ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 6 BB, không biết địch tấn công ở đâu, mà từ nhà cha mẹ tôi, đạn bắn gần như sát sạt. Mẹ tôi hoảng quá, ra ngoài chạy lung tung, khiến tôi rất sợ bị lạc đạn, phải ra dẫn mẹ tôi vô nhà.

Cũng nửa tháng sau, tôi vào lại Quảng Ngãi định để thăm trường cũ. Tôi chưa vào Mộ Đức, vì tình hình trong đó nghe nói còn lộn xộn. Tôi ghé thăm nhà trọ cũ của thầy hiệu trưởng Lê Hữu Quả, thì nghe tin, thầy Quả chết. Tôi thật sự bàng hoàng. Thì ra, trong dịp Tết này, thầy Quả về Huế ăn Tết, đã bị bắt và vì là công chức (dù là giáo chức) thầy Quả cũng đã bị giết với một số đông đồng nghiệp công chức. Tôi nghe mà thương cảm cho thầy. Thiệt tình thầy Quả tốt với tôi, đã giúp đỡ tôi tận tình những ngày đầu tiên tôi về dạy học ở Mộ Đức. Thầy lại mới cưới vợ đâu được ba, bốn tháng gì đó.

Nghe tin thầy Quả mất, tôi buồn vô cùng. Thấy mình không có duyên với xứ Quảng Ngãi, nên tôi quyết định nghỉ dạy luôn ở Mộ Đức, chỉ dạy ở trường Lý Tín thôi.

Lý Tín là quận lỵ mới mở sau này. Tỉnh Quảng Nam được cắt từ quận Thăng Bình trở vào trong, là tỉnh Quảng Tín. Các cấp chính quyền thấy quận Tam Kỳ quá rộng, nên cũng cắt đôi ra, từ xã Kỳ Hưng trở vô trong là quận Lý Tín.

Quận Lý Tín có quận đường và Bộ Chỉ Huy Chi Khu đóng ở xã Kỳ Khương. Phía trong quận đường là trường trung học công lập Lý Tín. Khi tôi về dạy, trường cũng mới mở đến lớp đệ ngũ.

Ngôi trường mới thành lập được hai, ba năm gì đó. Ngôi trường ngói đỏ nằm sát bên những hàng dương liễu, và bãi cát trắng phía sau trông rất thơ mộng. Hiệu trưởng là thầy Tôn Thất Khởi. Thầy tốt nghiệp Sư Phạm Quy Nhơn (hay Huế?). Sau, vì thầy Khởi có bằng tú tài 2, nên được đưa lên dạy trung học. Và thầy được đề cử giữ chức vụ hiệu trường.

Tôi về dạy ở trường trung học Lý Tin cũng rất vui. Có thầy Tú, dạy Anh Văn. Với thầy Tú, cũng quen biết nhau khi học ở Tam Kỳ. Thầy Trương Văn Hào, cùng học lớp với tôi, khi học ở Trần Cao Vân. Có thêm thầy Nguyễn Viên, quê ở Chiên Đàn, Kỳ Lý, học sinh Nguyễn Dục, Tam Kỳ. Thầy Nguyễn Viên không học chung với tôi, nhưng nhà thầy Viên ở trên đường tôi đi học, nên tôi biết thầy. Về đây, thầy Trương Văn Hào đã có vợ, thầy làm nhà ở riêng, còn lại, tôi, Đặng Hữu Tú, Nguyễn Viên, ở nhà trọ nhà của một phụ huynh học sinh, ăn cơm tháng.

Lý Tín là một quận mới, trước đây, tôi chưa một lần vào nơi nầy. Học trung học Trần Cao Vân 7 năm, tôi cũng chỉ đi loanh trong thành phố Tam Kỳ, ngày hai buổi đi học từ Quán Rường - Tam Kỳ rồi Tam Kỳ - Quán Rường. Chỉ có một lần tôi và Trịnh Tộ, bạn cùng quê, cùng lớp, hồi học tiểu học, rủ nhau đạp xe đạp ra Hà Lam, quận lỵ Thăng Bình chơi. Nhưng, đi như vậy chỉ đến Hà Lam, vào quán cơm ăn trưa, quanh quất, loanh quanh, khoảng 1 tiếng đồng hồ, rồi hai đứa đạp xe về. Chẳng biết gì hơn là những hàng quán bán cơm, bán mì Quảng, bán phở mà thôi.

Bây giờ về dạy trường Lý Tín, tôi biết thêm phía dưới biển là căn cứ Chu Lai (lúc đó mới có tên). Tôi không hiểu Chu Lai có nghĩa là gì. Dĩ nhiên là danh từ riêng. Mỹ đóng quân ở căn cứ Chu Lai rất đông. Thêm trên các ngọn núi phía Tây, lính Mỹ cũng có đóng đồn. Phía ngoài cầu ông Bộ, có một nơi gọi là quán bà Miết, trên đồi có một đồn lính Mỹ đóng, nên dẫn dắt theo một đám "chị em ta" ăn theo. Họ làm các dãy nhà tranh dọc theo quốc lộ một, là nơi ăn chơi của lính Mỹ.

Ở trường trung học Lý Tín, thầy Khởi làm hiệu trưởng, thầy Tú dạy Anh văn. Thầy Khởi có mời một số lính Mỹ đến dạy cho học sinh tiếng Mỹ. Những người lính Mỹ này rất dễ thương, họ đối xử ôn hòa với giáo sư và học sinh. Thường thường mỗi tháng, những người lính Mỹ này đem đến nhiều thùng Ration C, (thực phẩm), cho các giáo sư. Tôi cũng thực buồn lòng và (hơi) xấu hổ khi thấy các giáo sư tranh dành nhau lấy thực phẩm. 

Phía trong trường trung học, qua một cây cầu gọi là cầu An Tân, là thuộc xã Kỳ Liên. Đây cũng gọi là An Tân. An Tân là một khu phố ăn chơi của lính Mỹ. Dãy nhà từ ngoài vào, 2 bên, là những nơi gọi là "động", chứa "chị em ta". Chứa công khai, mời gọi công khai. Với thể diện của một người giáo sư, tôi ít giám vào đây, vì đi đâu cũng có thể gặp học sinh hoặc phụ huynh học sinh. Một quận lỵ nhỏ, làm giáo sư trung học, tôi nghĩ, chắc ai cũng biết mình, nên không giám léo hánh đến những nơi đó.

Lúc này, tin về việc, chính phủ ban hành luật Tổng Động Viên, sau Tết Mậu Thân, rất là gắt gao. Thanh niên đến tuổi, có tú tài 1 trở lên, là phải bị động viên đi lính hết. Nên tôi rất lo lắng cho số phận của mình. Vào dạy ở trường, có tin là các giáo sư trung học, có thể được động viên tại chỗ, chỉ đi thụ huấn quân sự 9 tuần, ở trung tâm huấn luyện Quang Trung, rồi sẽ được trả về dạy học lại. Tin đó thì vui, nhưng tôi không vui tí nào vì tôi chỉ là giáo sư tư nhân dạy giờ, không có tốt nghiệp trường sư phạm nào, không biết có được về dạy lại hay không? Tôi hoang mang quá. Thật sự lúc này tình hình rất xao động, thanh niên cở tuổi tôi, đi đến đâu cũng đều nói đến luật Tổng Động Viên, đi lính.

Vì sự hoang mang và tính toán đó, nên tôi nghĩ, nếu động viên theo giáo chức, đi học quân sự 9 tuần ở Quang Trung, mà mình không được xét, về đi dạy lại, mà phải qua quân trường Thủ Đức, thì eo ơi! Ra tác chiến như chơi. Với thân cô, thế cô, như tôi, thì chuyện ra tác chiến, với cái lon chuẩn úy (quai chảo) trên vai, nắm giữ chức trung đội trưởng, thì chết chắc. Những người bạn cùng quê tôi, như anh Đoàn Bán, đi sĩ quan địa phương quân, ra trường chuẩn úy, mấy tháng sau thì chết. Một anh nữa là Trần Ngọc Nam, bị động viên đi Thủ Đức trước tôi mấy khóa, ra trường mấy tháng cũng tử trận. Tin buồn diễn ra liên tiếp, sao mà không lo lắng cho được.

Như tôi đã nói trên, vì sự lo lắng, lo sợ, chuyện đi lính, nên tôi tính toán phải "nhảy". Những người có thân có thế, có tiền có bạc thì có thể "chạy" bằng cách đem sự thân thiết, quen biết với các cấp chỉ huy, rồi bỏ tiền bạc ra "chạy" cho được về đơn vị không tác chiến. Còn tôi không có gì cả, nên tôi có hai cách "nhảy". Cách nhảy thứ nhất, là thi vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, học 4 năm, lúc này cũng đang kêu gọi thi tuyển vào Khóa 25. Và cách nhảy thứ hai, là thi vào trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Khóa 2, học 2 năm.

Vào trường Võ Bị học 4 năm, thời gian 4 năm, ngon ơ, ở trong quân trường 4 năm, tình hình chiến tranh ở VN, có thể thay đổi. Nhưng tôi biết chắc, là học ở Võ Bị ra trường, 100% là đi tác chiến, là đi đánh nhau, chữ "thọ" cũng không chắc lắm, dù có được lên lon cao, lên chức cao, nhưng cũng trầy vi tróc vãy. Sống sót như hột gạo trên sàng. Dù biết vậy, nhưng tôi cũng "bắt cá hai tay", tôi nộp đơn thi vào  cả 2 trường.

"Nhảy" vào trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị, chỉ học hai năm, nhưng sơ qua danh xưng trường cũng hấp dẫn tôi hơn. Tôi lúc này chỉ hiểu biết sơ sài là trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, nôm na là trường sẽ đào tạo những sĩ quan thuộc về ngành chiến tranh chính trị, đánh giặc bằng mồm (nói) hay bằng viết lách (sách vở, lý thuyết). Tôi cũng nghĩ thêm, theo ý tôi, là tốt nghiệp trường này như là, văn trong võ. Lính là Võ, nhưng Chiến Tranh Chính Trị là Văn. Tôi thích văn chương, thích văn học, nghệ thuật, đam mê sách vở, nên tự nhủ lòng, biết đâu nơi đây sẽ tạo cho mình có môi trường viết lách, thực hiệc hoài bảo, mơ ước, sau này. Cũng có thêm những ý kiến, ngành Chiến Tranh Chính Trị trong quân đội sẽ được tổ chức như quân đội Trung Hoa Dân Quốc, là người sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị sẽ như là Chính Trị Viên của đơn vị. Sẽ có thật nhiều quyền hành, chi phối tổ chức quân đội, những thi hành của đơn vị, sẽ do Chính Trị Viên quyết định theo hàng dọc.

Đề thi hai bên, trường Võ Bị và Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, tôi đều làm được cả, nghĩa là theo suy đoán của tôi là trên 70%. Dù sĩ số lấy vào mỗi bên khoảng 200, nhưng tôi rất hy vọng. Khi kết quả bên trường Võ Bị tôi chưa có, thì tôi được thông báo là đậu vào Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, nên tôi "hồ hởi, phấn khởi" đi trình diện nhập ngũ như đã kể trên.

"Hồ hởi, phấn khởi", nói thì nói cho vui thế thôi, chứ tôi không phải là người thanh niên hào hùng, như trong các bản nhạc của các nhạc sĩ mà sau này, tôi biết, chỉ là người ở hậu phương an lành, viết ra những bản nhạc xúi thanh niên đi lính, như "người ơi quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai, tôi đã ra đi rồi..." Rồi mong chiến thắng "Giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu"...hay rẻ tiền hơn là "đi quân dịch là thương nòi giống."

Tôi cũng xin cá cược là có những ai, khi bước chân vào đời, học giỏi, có thể thi đậu vào những trường "danh giá" như Y, Nha, Dược, hay các ngành Kỹ sư Phú Thọ, hay Quốc gia Hành Chánh, Đại Học Sư Phạm, mà bỏ những nơi đó, để vào trường Bộ Binh Thủ Đức, để làm người hùng "trong đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu" thì tôi phải phục là "thánh".

Trong lúc đó, tôi biết, có một số anh em, bạn bè, dù có bằng Tú tài 1 hay Tú Tài hai, cũng xin vào nghĩa quân thị xã, để được an thân (lính kiểng). Một số vào Xây dựng Nông Thôn để được ở gần nhà và ít tác chiến hơn. Những bạn cùng lớp với tôi, học giỏi, xuất sắc, đều đứng ngoài cuộc chiến, khi thi đậu vào trường Kỹ thuật Phú Thọ, xin hoản dịch vì lý do học vấn từng năm...thoát qua vòng quân đội.


                                                                                Trần Yên Hòa
                                                                                       (còn tiếp)

                                        Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, July 24, 20218:33 PM(View: 24)
Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi : - Xếp có dính dáng đến Duy Dân không? Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói : - Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái. - Xếp là nhà báo. - Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân. Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi
Wednesday, July 21, 20214:14 PM(View: 63)
Nghe tôi nói đến "Hiếu nhà băng", thiếu tướng Thạc nhướng lông mày, ngạc nhiên: – "Hiếu nhà băng" ở Zurich? Ông quen hắn à? Tôi gật: – Quen. Chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy à? – Biết. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy chúng tôi đặt cho hắn biệt danh "Hiếu tồ". – Trái đất tròn thật. Hoá ra hai ông quen nhau – tôi nói – Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch Ai Cập. Lâu rồi, dễ đến ba hoặc bốn năm. Quen loáng thoáng thôi. Mãi đến năm ngoái gặp lại ở Genève mới có dịp tâm sự. – Ông thấy hắn ta thế nào? – Tính tình cởi mở, quả có hơi tồ một chút. – Nghe nói bây giờ hắn giàu. Giàu lắm ấy. Ông thiếu tướng liếm đôi môi khô. Trong giọng ông có một chút khó chịu, một chút ghen tị, hoặc cả hai. – Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi nói nhận xét của mình – Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang – một cái BMW đời cũ. Đại khái là làng nhàng, không có gì nổi bật. Trước khi về hưu ông ấy làm việc ở một ngân hàng. Phó giám đốc
Thursday, July 15, 202110:51 AM(View: 103)
rong tháng Tám vừa qua, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tại Paris, Pháp Quốc, đã đột ngột qua đời tại Quận Cam, Nam California, khi ông từ Pháp sang đây để lo việc ấn hành sách cho nhà xuất bản của ông. Ông là một người của sách vở, tuy không phải là một người sáng tác hay biên khảo nhưng những tác phẩm ông để lại cho đời thật là nhiều. Từ bốn mươi năm qua, ông chính là người phát hiện ra những giá trị của sáng tác và biên khảo của biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam, đưa chúng đến với người đọc với một tấm lòng trân trọng và trìu mến. Chính công việc và cung cách xuất bản sách của ông đã cho thấy ông là một người nghệ sĩ thứ thiệt, một nhà văn hóa nhiệt tình với đất nước. Có thể nói Thanh Tuệ là sách, sách là Thanh Tuệ, và chữ sách ở đây phải được hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất, thanh tao nhất mà từ xưa đến nay nhân loại đã dành cho thứ sản phẩm văn hóa này. Một người thích sách vở sống vào giữa thập niên 1960 tại Sài Gòn thì không thể không để ý đến một
Wednesday, July 7, 202112:00 PM(View: 173)
Cha tôi, nhà văn Nhất Linh, cho ra đời hơn mười tác phẩm. Mẹ tôi sinh đẻ hơn mười người con. Bà thường nói đùa với chúng tôi: “Cứ mỗi lần Mợ có mang thì Cậu lại thai nghén một quyển truyện”. Những đứa con của mẹ tôi khi chào đời thường song hành với một tác phẩm mới của cha tôi được xuất bản. Chẳng hạn như anh Thạch tôi sinh năm 1935 ứng với năm tác phẩm Đoạn Tuyệt ra đời. Nhưng khi cha tôi bắt đầu thai nghén và khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940, trong khi mẹ tôi cuối năm đó sinh đẻ ra tôi, thì tác phẩm này vẫn chưa chịu ra đời. Lần này khi khởi viết Xóm Cầu Mới Nhất Linh mang hoài bão quá lớn, “cái thai” quá to, nên tác phẩm không chịu xuất hiện trên đời cho mãi đến ba mươi ba năm sau. Kỳ diệu thay chính tôi lại là người “đỡ đẻ” cho tác phẩm ra đời khi tôi cho xuất bản cuốn Xóm Cầu Mới lần đầu tiên vào năm 1973. Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để
Tuesday, July 6, 20217:30 AM(View: 169)
Trong giới văn chương VN, nhà văn Nhất Linh là một tên tuổi lớn. Ông từng lập ra Tự lực văn đoàn và là một cây bút chính của nhóm nên khám phá Nhất Linh qua lời kể của con trai ông là điều khá thú vị. Nhà văn Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam, một tên tuổi lớn với bút danh Nhất Linh, Tam Linh, Bảo Sơn, Lãng du, Tân Việt, Đông Sơn (khi vẽ); và cũng là chính trị gia nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 20. Sau này, ông còn là người sáng lập Đại Việt Dân chính Đảng, từng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng (khi Đại Việt Dân chính Đảng hợp nhất với Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng), giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Các tác phẩm chính của nhà văn Nhất Linh đa phần phản ánh hiện thực xã hội và lãng mạn rất được yêu thích: Gánh hàng hoa, Đoạn tuyệt, Đôi bạn, Nho phong, Anh phải sống, Thương chồng... Sau 1975 tuyển tập hồi ký của Nguyễn Tường Thiết - Nhất Linh, cha tôi được công bố lần đầu năm 2006 nhân kỷ niệm 100 năm