DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,526,773

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" - Vào chuyện (1)

Thursday, July 30, 20203:33 PM(View: 2010)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" - Vào chuyện (1)
                                                  Tháng ngày "lính lác"


Sach TYH

                                                                                      Hồi Ức


1.


Thi vào...trường đại học lính


Nói đến lính là nói đến sự cơ cực, nhọc nhằn, luôn luôn chạm mặt với cái chết, hoặc đỡ hơn thì bị thương, bỏ một phần thân xác nơi chiến trường...như bản nhạc "Ngày trở về" của Phạm Duy: "Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre nắng vàng hoe...""Ngày trở về, có anh thương binh chống nạng cày bừa...".

Lứa tuổi của chúng tôi trong khoảng thời gian thập niên 60, 70...thì miền nam không còn bình yên nữa, mà đúng là thời đại chiến tranh, nhất là dịp sau Tết Mậu Thân, 1968.

Tôi nhớ, khoảng tháng 5/68, tôi đã nộp đơn thi vào cả 2 nơi: Trường Võ Bị Quốc Gia, khóa 25. Và trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Khóa 2. Tất cả 2 trường đều tổ chức thi (hình như) tại trường Kỹ Thuật, Đà Nẵng.

Đà Nẵng, nơi tôi đến chỉ có 2 lần. Lần thi tú tài 1 và lần thi tú tài 2.

Tôi không có bà con thân thiết ở Đà Nẵng. Hai lần thi tú tài 1 và 2, tôi đi (ăn) theo một người bạn học cùng lớp. Bạn tôi dẫn tôi ra cùng ở trọ  nhà một người bà con của bạn ấy, ở đâu khoảng khu đường rầy xe lửa. Ở đây toàn là động "chị em ta". Các cô gái mặt hoa da phấn đứng giữa đường mời gọi, níu kéo khách qua đường. Mới đầu, tôi ngu ngơ không biết là gì, sau đó, nghe người bạn giải thích, "động đĩ đó mi" tôi mới vỡ lẽ, cho nên sau đó, khi đi ngang qua khu đường rầy xe lửa này, tôi phải cắm đầu, cắm cổ đi thật mau.

Ở đây một tuần, chỉ lo chuyện thi cử, thi xong là ra bến xe về Tam Kỳ liền. Nên tôi vẫn không biết Đà Nẵng đường ngang ngõ dọc thế nào?

Lần thi này cũng vậy. Tôi không có ai thân thiết ở Đà Nẵng. Thì phải làm sao đây?

Tôi chợt nhớ hồi ở quê, nghe nói, các anh như Phan Đắc Lộc, Nguyễn Văn Lục ở Cẩm Khê, Kỳ An, Tam Kỳ... hiện nay đang sinh sống tại Đà Nẵng.

Hai anh Lộc và Lục (sau này anh Lục đổi tên Lâm) là bạn của anh tôi, anh G. Khoảng những năm 62, 63, tình hình an ninh ở Kỳ An không yên ổn, nên gia đình các anh đã dọn về Đà Nẵng.

Tôi chỉ biết hai anh Lộc, Lục qua anh tôi, nhưng "cùng tắc biến", tôi phải đi tìm. Khi được biết gia đình anh Lộc, Lục..., nhà ở khu chợ Cồn, nên tôi cố tìm cho ra. (tôi chỉ có mẫu tin nhỏ, anh Lục có người cha (cũng tên Lục) đang bán thuốc Tây tại khu chợ Cồn, khoảng ngã tư đường Khải Định & Hùng Vương.)

 Tôi đi xe đò ra Đà Nẵng và "ngơ ngác" đi tìm.

May mắn thay, tôi tìm ra ngay được bác Lục. Gặp bác, tôi trình bày hoàn cảnh của mình, và được bác vui vẻ đón tiếp, rồi chỉ đường về nhà bác. Tôi còn được bác cho biết, là hai gia đình anh Lộc, anh Lục cùng mua một ngôi nhà, ở chung nhau. Nhà có căn gác nên nhiều người bạn ở quê ra Đà Nẵng vẫn đến đây ở nhờ.
Bác nói với vẻ rất hào hứng:
- Ô, mấy thằng Thái, thằng Tân, thằng Giảng ra ở đây, đi dạy kèm. Bây giờ nghe nói tụi nó cũng đi lính hết rồi. Mình ở quê với nhau nên giúp đỡ nhau là chuyện nên làm mà mi.

Theo địa chỉ và sự hướng dẫn của bác Lục, tôi tìm ra nhà và gặp anh Lộc. Anh nồng nhiệt tiếp đón tôi. Anh Lộc rất vui khi biết tôi là em anh G. Anh ân cần lo chỗ ngủ, và nói:
- Ăn uống không bao nhiêu, mi cứ ở đây mấy ngày lo thi cử, còn gia đình có gì ăn nấy. Còn đi thi thì tau chở đi cho, mi đừng ngại gì hết.
Biết làm phiền như vậy, nhưng tôi cũng mừng là có chỗ ăn chỗ ở yên tâm lo ôn bài để thi. Xong, hôm về, tôi gởi tiền ăn, gia đình anh Lộc không lấy đồng nào.
 Tôi biết thêm, mấy năm trước đó, anh Lộc thi vào trường Sư Phạm Qui Nhơn, ra trường dạy tại Đà Nẵng, anh được hoản dịch vì lý do gia cảnh, vì là con trai độc nhất trong gia đình...
Hai lần thi như vậy. Tôi còn nhờ anh Lộc dò coi kết quả dùm nữa chứ.
 
*
 
Ngày tôi còn học trung học đệ nhất cấp, nhìn các anh và các chị ở Cẩm Khê đi học trung học ở Tam Kỳ, chạy xe đạp trên đường tỉnh lộ từ Cẩm Khê xuống Chiên Đàn (Ngã ba Kỳ Lý), rồi từ đó đạp xe vào Tam Kỳ. Các anh/chị ở Cẩm Khê, tuy ở xa thị xã Tam Kỳ hơn tôi, nhưng tôi vẫn thấy các anh chị này rất đẹp, rất tân thời, ăn diện mốt miết thời trang lắm, như các chị Lan, chị Nga, chị Kiều. Các anh Nguyễn Văn Đàm, Nguyễn Duy Anh, Phan Đắc Lộc, Nguyễn Văn Lục, Nguyễn Trung Vân, Lê Trung Dung...Bửu, Hạn...đều nổi trội hơn tụi tôi về hình thức.

Sau nay, qua mấy năm, tôi vào học ở Sài Gòn...thì các bạn, có người còn chưa qua ải tú tài 1. Rớt và Đậu. Cái bằng tú tài 1 tuy là nhỏ, nhưng rất quan trọng lúc này, là có thể thay đổi cuộc diện tương lai của một con người.

Đó là, nếu Rớt thì: "Rớt tú tài anh đi trung sĩ, em ở nhà lấy Mỹ nuôi con", câu ca dao (cạo) thời hiện đại, tuy có ý bông đùa, nhưng nghe cũng mỉa mai chua chát, đã nói lên một tình trạng bế tắc của xã hội đang thời kỳ chiến tranh.
Còn Đậu thì, tiếp tục học lên, hay cùng lắm, là vào trường bộ binh Thủ Đức, tốt nghiệp ra trường được đeo lon chuẩn úy, là sĩ quan, nếu không xanh cỏ thì ba, bốn năm sau cũng trung úy, đại úy.

Vì tình trạng rớt/đậu trên, nên để được hoản dịch, các bạn bị rớt, thường thay đổi khai sinh, thay tên đổi họ. Thường, sự thay tên đổi họ này, các anh tự khai sụt tuổi xuống, người thì sụt hai, ba tuổi, người thì sụt bốn, năm tuổi. Nghĩa là khai làm sao cũng vừa với tuổi thật, để nếu có đi ra đường, có bị cảnh sát hay quân cảnh chặn đường xét hỏi giấy tờ, thì nhìn cũng "vừa chạng". Những bạn, mới đầu mang cái tên lạ, khi gặp bạn mình, có người thật ngỡ ngàng, người quen thường gọi tên cũ, còn tên mới thì lạ hoắc...nhưng rồi thời gian qua, cái gì cũng êm, xuôi chài mát mái.

                                                                                              *

Chuyện kết quả đậu vào trường đại học Chiến Tranh Chính Trị, cũng làm tôi suy nghĩ đến số phận con người. Lúc ấy, tôi vẫn còn đang đi dạy ở trung học Lý Tín, thì được điện tín anh Lộc gởi vào báo tin tôi đậu. Tôi liền chạy xe ra Đà Nẵng, vào Bộ Tư Lệnh QĐI & QK1, Khối Chiến Tranh Chính Trị, coi xem sao. Có hai, ba tờ giấy niêm yết kết quả dán bên ngoài tường của Khối CTCT, thế mà tôi tìm tên tôi lòi tròng con mắt, vẫn không thấy. Tôi buồn bã đành lủi thủi chạy xe về...đi dạy lại. Lúc này thì tôi buồn thật sự, vì nghĩ mình học yếu nên bị rớt, nên tôi (tạm tính), vừa đi dạy lại, vừa làm hồ sơ xin đi thụ huấn 9 tuần theo giáo chức. Hồ sơ cũng đã được trường chuyển đi.

Cũng nửa tháng sau, lại có một tin nhắn bằng miệng của anh Phan Lý Long, từ Đà Nẵng nhắn vô. Anh Long cũng chỗ quen biết, hiện là trung úy, sĩ quan truyền tin ở QĐI. Anh Long nhắn vào Lý Tín cho K.Y, là tôi đã đậu...Và (lại được) thêm một cái điện tín nữa (lần thứ 2) của anh Lộc, nói, chắc chắn là tôi đã đậu. Cho nên, từ chỗ Rớt, qua chỗ Đậu, tôi không còn lý trí nữa, để xét cái nào tốt hơn cái nào? Biết mình đậu nên tôi rất vui mừng, quyết định đi trình diện ngay.

Sau này, khi ra trường, đi hành quân tác chiến khổ như con..., nhìn thấy các bạn tôi như Tú, Hào, Viên, chạy Honda đi dạy tà tà, tôi lại tự chữi tôi ngu, số mình là số con rệp.

(Xin mở ngoặc, sau 1975. Tôi được tin anh Lộc chết, một cái chết rất thương tâm, là một buổi chiều tại nhà, anh đứng trên chiếc ghế cao, để sửa điện, chiếc ghế bị ngã, làm anh té, bị chấn thương sọ não, nên chết ngay tại chỗ. Nghe tin mà tôi cảm thương anh quá! Một người anh hiền lành, tốt bụng, mà số phận không may.)
 
*
 
Lần này, vào trình diện Khối Chiến Tranh Chính Trị, sau khi trình thẻ căn cước cho một vị sĩ quan, thì được sĩ quan này, sau khi dò bản kết quả, nói với tôi:
- Anh đã đậu vào Khóa 2/CTCT. Trước đây đã có một toán trình diện và đang thụ huấn ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Anh vào lần này theo đợt thứ 2, đợt này đang ở Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ. Bây giờ chúng tôi cấp Sự Vụ Lệnh, anh qua trình diện ở Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, nhé.

Tôi cầm tờ giấy trình diện Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, mà lòng nhẹ tênh. Không biết vui hay buồn. Lúc này vào trường sĩ quan, tôi cũng chưa phân biệt được hai chữ Trừ Bị và Hiện Dịch là như thế nào? Cảm giác tôi thật mơ hồ. Khi chiếc lưới hiện dịch đang bủa vây tôi, đó là theo nguyên nghĩa, hiện dịch là tình nguyện, xung phong, ký tên đồng thuận, chấp nhận gia nhập suốt đời vào nghề lính.

Dù khù khờ, thật thà, nhưng tôi vẫn biết là khi đã trình vào trại nhập ngũ rồi, thì đường lui ra cũng rất khó, nên buổi chiều và đêm hôm đó, tôi ở lại nhà anh Tôn chơi. Buổi tối, anh Tôn, một người anh làm việc ở điện lực, đã cho tôi uống một chầu bia say mềm môi...say đến đổ gục xuống bàn, không biết trời trăng gì nữa cả.

Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, anh Tôn chở tôi đi ăn sáng và sau đó chở vào trại nhập ngũ số 1. Hành trang tôi đem theo chỉ hai bộ đồ dân sự, đôi giày dân sự, bàn chải và kem đánh răng...thế thôi, vì ai cũng nói, vào lính, sẽ được phát ăn, uống và áo quần, giày giép...Nói chung là quân trang quân dụng đầy đủ, nên tôi đem theo chỉ bấy nhiêu.
 


Trần Yên Hòa
(còn tiếp)

* 



*

Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks!

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, July 24, 20218:33 PM(View: 24)
Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi : - Xếp có dính dáng đến Duy Dân không? Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói : - Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái. - Xếp là nhà báo. - Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân. Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi
Wednesday, July 21, 20214:14 PM(View: 63)
Nghe tôi nói đến "Hiếu nhà băng", thiếu tướng Thạc nhướng lông mày, ngạc nhiên: – "Hiếu nhà băng" ở Zurich? Ông quen hắn à? Tôi gật: – Quen. Chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy à? – Biết. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy chúng tôi đặt cho hắn biệt danh "Hiếu tồ". – Trái đất tròn thật. Hoá ra hai ông quen nhau – tôi nói – Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch Ai Cập. Lâu rồi, dễ đến ba hoặc bốn năm. Quen loáng thoáng thôi. Mãi đến năm ngoái gặp lại ở Genève mới có dịp tâm sự. – Ông thấy hắn ta thế nào? – Tính tình cởi mở, quả có hơi tồ một chút. – Nghe nói bây giờ hắn giàu. Giàu lắm ấy. Ông thiếu tướng liếm đôi môi khô. Trong giọng ông có một chút khó chịu, một chút ghen tị, hoặc cả hai. – Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi nói nhận xét của mình – Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang – một cái BMW đời cũ. Đại khái là làng nhàng, không có gì nổi bật. Trước khi về hưu ông ấy làm việc ở một ngân hàng. Phó giám đốc
Thursday, July 15, 202110:51 AM(View: 103)
rong tháng Tám vừa qua, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tại Paris, Pháp Quốc, đã đột ngột qua đời tại Quận Cam, Nam California, khi ông từ Pháp sang đây để lo việc ấn hành sách cho nhà xuất bản của ông. Ông là một người của sách vở, tuy không phải là một người sáng tác hay biên khảo nhưng những tác phẩm ông để lại cho đời thật là nhiều. Từ bốn mươi năm qua, ông chính là người phát hiện ra những giá trị của sáng tác và biên khảo của biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam, đưa chúng đến với người đọc với một tấm lòng trân trọng và trìu mến. Chính công việc và cung cách xuất bản sách của ông đã cho thấy ông là một người nghệ sĩ thứ thiệt, một nhà văn hóa nhiệt tình với đất nước. Có thể nói Thanh Tuệ là sách, sách là Thanh Tuệ, và chữ sách ở đây phải được hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất, thanh tao nhất mà từ xưa đến nay nhân loại đã dành cho thứ sản phẩm văn hóa này. Một người thích sách vở sống vào giữa thập niên 1960 tại Sài Gòn thì không thể không để ý đến một
Wednesday, July 7, 202112:00 PM(View: 173)
Cha tôi, nhà văn Nhất Linh, cho ra đời hơn mười tác phẩm. Mẹ tôi sinh đẻ hơn mười người con. Bà thường nói đùa với chúng tôi: “Cứ mỗi lần Mợ có mang thì Cậu lại thai nghén một quyển truyện”. Những đứa con của mẹ tôi khi chào đời thường song hành với một tác phẩm mới của cha tôi được xuất bản. Chẳng hạn như anh Thạch tôi sinh năm 1935 ứng với năm tác phẩm Đoạn Tuyệt ra đời. Nhưng khi cha tôi bắt đầu thai nghén và khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940, trong khi mẹ tôi cuối năm đó sinh đẻ ra tôi, thì tác phẩm này vẫn chưa chịu ra đời. Lần này khi khởi viết Xóm Cầu Mới Nhất Linh mang hoài bão quá lớn, “cái thai” quá to, nên tác phẩm không chịu xuất hiện trên đời cho mãi đến ba mươi ba năm sau. Kỳ diệu thay chính tôi lại là người “đỡ đẻ” cho tác phẩm ra đời khi tôi cho xuất bản cuốn Xóm Cầu Mới lần đầu tiên vào năm 1973. Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để
Tuesday, July 6, 20217:30 AM(View: 169)
Trong giới văn chương VN, nhà văn Nhất Linh là một tên tuổi lớn. Ông từng lập ra Tự lực văn đoàn và là một cây bút chính của nhóm nên khám phá Nhất Linh qua lời kể của con trai ông là điều khá thú vị. Nhà văn Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam, một tên tuổi lớn với bút danh Nhất Linh, Tam Linh, Bảo Sơn, Lãng du, Tân Việt, Đông Sơn (khi vẽ); và cũng là chính trị gia nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ 20. Sau này, ông còn là người sáng lập Đại Việt Dân chính Đảng, từng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng (khi Đại Việt Dân chính Đảng hợp nhất với Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng), giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Các tác phẩm chính của nhà văn Nhất Linh đa phần phản ánh hiện thực xã hội và lãng mạn rất được yêu thích: Gánh hàng hoa, Đoạn tuyệt, Đôi bạn, Nho phong, Anh phải sống, Thương chồng... Sau 1975 tuyển tập hồi ký của Nguyễn Tường Thiết - Nhất Linh, cha tôi được công bố lần đầu năm 2006 nhân kỷ niệm 100 năm