DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,377,509

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 6)

Saturday, August 22, 20207:56 PM(View: 587)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 6)
                    Tháng ngày "lính lác"

Trần Yên Hòa                                      
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)



6.

Lúc nào có sự di chuyển là cán bộ ra lệnh "gọn gàng". Lần này chúng tôi di chuyển từ Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung về Đà Lạt cũng được Đại úy Trần Thế Phong (lúc này ông đã lên đại úy dù khi chúng tôi tới đại đội 92, ông mới trung úy) ra lệnh cho chúng tôi gọn gàng. Trung úy Nguyễn Tâm Miên cũng đã xuất hiện, và trong buổi tập họp di chuyển ra phi trường Tân Sơn Nhất, trung úy Miên tiếp nhận chúng tôi và cùng lên xe ra phi trường.

Tôi bỏ tất cả quân trang quân dụng vào trong cái xắc marin. Cái xắc nặng trịch vì có thêm những dụng cụ linh tinh của một người lính. Về cây súng Garant và đạn, tôi đã theo lệnh lên kho trả lại cho kho vũ khí. Còn lại, tôi dồn hết vào túi xắc marin. Nên hành trang khi đi nhẹ hèo, bây giờ bắt đầu phồng lên nặng chịch.

Trung úy Miên theo chiếc xe GMC chở chúng tôi lên phi trường. Đã 9 tuần ở chung nhau trong cùng một đại đội, nên chúng tôi đã quen mặt nhau, và có chút tình có thể gọi là "tình chiến hữu".

Đà Lạt đối với tôi lúc này chỉ là trong mơ, trong sách vở. Có thể một Đà Lạt mộng mơ, thơ mộng, qua những người quen, hay qua trong những quyển sách tôi đọc được, đã là một nguyên nhân phụ, cho tôi thi vào trường Đại Học CTCT.

Tôi đã một lần thuở ấy mê thơ Nhất Tuấn với tập thơ "Chuyện chúng mình". Tập thơ nầy tôi nhớ hình như tôi và các bạn tôi thuở ấy, đều đã đọc qua và rất thích, với những chuyện tình học trò thơ mộng, như "Chúa nhật này trẫm nhớ ái khanh không?":
 
Chỉ tại anh, nên hôm qua về trễ
Cứ “phim hay, tài tử trứ danh” hoài
Anh quảng cáo và tô mầu giỏi thế
Hỏi ai còn đành khất hẹn ngày mai

Chỉ tại anh nên trời thu đổi gió
Mimosa phủ kín mặt đường khuya
Vương đầy tóc em bắt đền anh đó
Gỡ dùm đi đứng cười mãi ô kìa!

Bài thơ có tên hoa mimosa, mà mimosa chỉ có trồng ở Đà Lạt, nên trong những ước mơ thời trung học, tôi vẫn mong đến Đà Lạt một lần. Bây giờ thì tôi đang sắp hàng ngồi bên cái xắc marin, ở phi trường Tân Sơn Nhất, đợi lên đến thị xã Đà Lạt mộng mơ, trong ước vọng của tôi.
 
Hoặc chúng tôi từng thích bài thơ này:

Sau cùng anh chọn màu rêu đá
Vì thấy em hay mặc áo này
Hai đứa lại tranh nhau mặc cả
Đẹp sao hình ảnh buổi thơ ngây        
(Nhất Tuấn, Chuyện Chúng Mình)


Cũng chỉ đoạn thơ này thôi mà thuở đó, thuở học trò đệ nhất cấp, tôi thấy các bạn của anh tôi, cũng mua vải ka tê màu rêu đá, để mặc cùng "em", những cô bạn gái học trò của các anh ấy. Tôi thì chưa vì còn nhỏ nhít, chưa yêu ai. Nhưng cũng cảm thấy mình đã hòa mình vào những câu thơ học trò dễ thương này.

(Dĩ nhiên khi lớn lên, tôi có những cảm nhận về thơ khác hơn hồi nhỏ)

                                                                                  *

Trong lúc tôi đang nằm bên chiếc xắc marin tại phi trường Tân Sơn Nhất, để đợi máy bay quân sự chở lên Đà Lạt, với bao nhiêu mộng mơ như của một người du khách viếng thăm thành phố sương mù, nơi dãy đất hoàng triều cương thổ, nơi mà vua Bảo Đại đã có cung điện, các hoàng tử, công chúa của vua đã về sống ở đây, khi nhà vua bị phế truất. Tôi thật sự chưa biết con đường trước mặt của mình ra sao?

Bao nhiêu kỷ niệm tuổi thơ dồn về trong tôi, nhớ những người cùng quê tôi đã lên sinh sống tại Đà Lạt, như gia đình ông trợ Thành, một người đã từng đi dạy, nên được dân chúng gọi là ông trợ, cũng đã về Đà Lạt sinh sống, rồi gia đình của đại úy công binh Nguyễn Nho P., gia đình đại úy Đ, những người có danh giá ở quê tôi đã về sống ở đây, nên tôi cũng hy vọng tôi sẽ được đón tiếp, dù là quân đội, là một cuộc sống thoải mái, nhẹ nhàng.

Nhưng không ngờ, trước đó, Khối khóa sinh của trường với khóa đàn anh, Khóa 1, đã có những buổi họp để lập ra hệ thống tự chỉ huy "huấn nhục"... với đầy đủ ban bệ, từ cấp trung đội lên đến cấp tiểu đoàn.

Các niên trưởng khóa 1, trong hệ thống huấn nhục, tôi nhớ có các niên trưởng như Nguyễn Minh Châu, Bùi Ngọc Bích, Nguyễn Công Chương...tất cả khoảng 20 người từ cấp tiểu đoàn trưởng xuống cấp trung đội trưởng. Chúng tôi khoảng gần 200 khóa sinh, cứ tưởng bở, cứ hy vọng, vui vẻ, sẽ tiếp nhận những ngày mới được học tập tại trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt 2 năm, như một trường đại học dân sự hay ít ra cũng tương đương, về doanh trại, ăn ở, sinh hoạt, học tập.

Khi tất cả được lệnh tập trung, có máy bay quân sự C123 đậu tại phi đạo, há mồm nuốt chững chúng tôi vào trong lồng máy báy, chúng tôi nằm ôm mộng "ai lên xứ hoa đào", nằm lê lếch trên sàn vì số anh em chúng tôi quá đông, cộng thêm mỗi người một cái xắc marin to bằng cả thân người. Tôi lên nằm xuống sàn thì cơn buồn ngủ và mệt mỏi kéo đến, khiến tôi ngủ một giấc ngon lành.

Khoảng 2 tiếng đồng hồ sau, khi máy bay đáp xuống phi trường Cam Ly, chúng tôi được đánh thức dậy, rồi lục tục xuống khỏi sàn máy bay. Bước ra, là thấy ngay khí trời Đà Lạt mát lạnh, chúng tôi lại được trung úy Nguyễn Tâm Miên ra lệnh tập họp ngay hàng thẳng lối. Tôi thấy những niên trưởng Khóa 1 bận đồ Wordted thấp thoáng ở phi trường. Hình như tôi nhớ có niên trưởng Phương, niên trưởng Bích...

Chúng tôi được đưa lên từng chiếc GMC, hướng về trường.

Và chúng tôi được đón ngay tại cổng bởi những niên trưởng cán bộ huấn nhục, đón ngay tại cổng Anh Đào. Các niên trưởng Khóa 1 trong toán huấn nhục, bận áo quần kaki vàng, nón nhựa sơn xám láng, phu la xanh, giày bốt đờ sô, đứng dàn hàng ngang, tiếp đón chúng tôi. Chúng tôi tập họp tại sân cờ và bắt đầu chạy. Chạy tả tơi hoa lá, chạy xỉu lên xỉu xuống, chạy bò lê bò càng...
 
Và như vậy suốt 9 tuần nặng nề trôi qua.

Tôi chỉ viết sơ qua chuyện "9 tuần huấn nhục" như vậy thôi. Dĩ nhiên đây cũng là một thời gian đáng nhớ trong những ngày mới vào lính. Sau này, các khóa đàn em, "9 tuần huấn nhục" được đổi lại là "9 tuần huấn nhẫn". Nhiều người có nhận xét là từ "huần nhẫn" đúng hơn và nhẹ nhàng hơn. Và theo chỗ tôi nghe các khóa sau kể lại, trong thời gian "huấn nhẫn", đã có tân khóa sinh bị chết, vì khóa đàn anh phạt quá mạnh tay, những hình phạt như là "đòn thù" hơn là huấn luyện. Các tân khóa sinh chịu không nổi nên đã bị "tử vong".

Một vết đen trong việc đào tạo sĩ quan của một quân trường hiện dịch.
 
 
 
                                                                               Trần Yên Hòa
                                                                                                                 (còn tiếp)


                                  * 


                                  *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 273)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 221)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 597)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 403)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 325)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,