DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,377,516

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác (tiếp 7)

Thursday, August 27, 20206:59 AM(View: 510)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác (tiếp 7)
                    Tháng ngày "lính lác"

Trần Yên Hòa                                      
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)



7.
 

Trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị tọa lạc trên đường Võ Tánh, số 78. Thị xã Đà Lạt. Nhưng khi chúng tôi viết thư về thăm nhà, được các sĩ quan cán bộ hướng dẫn ghi là, Khu Bưu Chính (KBC) 4648. Có bạn muốn thi vị hóa trong các thư gởi về gia đình, về "người yêu bé nhỏ" ở quê, là từ đồi 4648. Thật ra, khu này có trồng nhiều cây thông, nhưng thế đất không cao, nên gọi là đồi thì cũng hơi cường điệu. Nhưng là cái cường điệu vui, không làm hại ai cả.

Nơi đây chính là trung tâm huấn luyện Hiến Binh của quân đội Pháp ngày cũ. Sau khi bàn giao cho chính phủ VNCH, quân đội VNCH cũng giữ tên là Trung Tâm Huấn Luyện Hiến Binh Quốc Gia. Rồi sau đó, lực lượng Hiến Binh cũng bị dẹp, quân đội không dùng Hiến Binh nữa, tất cả quân nhân trong lực lượng hiến binh đổi qua Quân Cảnh. Đến năm 1966, theo sắc lệnh số 48/SL/QP ngày 18/3/1966, thành lập trường Đại Học/Chiến Tranh Chính Trị. Theo tài liệu, người ký Sắc lệnh thành lập này thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó đang là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương.

Nói thật, tôi không phải chê sự tồi tàn quá mức về một nơi chốn mình được đào tạo, được học hỏi, được rèn luyện, nhưng phải thú thực, quân đội đã không chuẩn bị cho một nơi đàng hoàng, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, cho đám SVSQ thụ huấn, mà đám SVSQ này đã được đề cao, tâng bốc, sẽ là những kỹ sư tâm hồn sau này.

Chung quanh doanh trại là những con đường lồi lõm, đầy đá và đất, nên khi chúng tôi về đây và đang huấn nhục, thì đá ba lát, đất, bùn, trộn lẫn nhau, đồng hành với những hình phạt của các niên trưởng như, chạy 5 vòng sân, nhảy xổm 100 cái, đi vịt đẹt 20 vòng suốt ngày từ 5 giờ sáng đến 9 giờ tối. Con đường này, đúng là con đường đau khổ, theo nghĩa đen. Không kể nhưng đêm cả tiểu đoàn bị phạt tập thể đến 10, 11 giờ đêm, thì thôi, tả tơi như cái mền rách.

Có một điều đau khổ nhất là có khi một người bị phạt ôm tấm nệm giường chạy 5 vòng sân, mà tấm nệm giường, cũ, rách nát, đầy bụi bặm. Thế mà một con người tân khóa sinh, phải bằng mọi cách, như vát, ôm...để chạy, trong lúc đó, bụi do tấm nệm cũ bay, tỏa ra, người bị phạt phải hít đầy hai cái lỗ mũi, hít đầy buồng phổi. Kiểu này, nếu bây giờ, với sự vệ sinh toàn cầu, đây là một sự vi phạm nghiêm trọng.

Tôi đã bị hình phạt này rồi, nên rất thấm đòn, vì phải hít đầy bụi vào buồng phổi.

Toán đầu lên trước, đã được huấn nhục xong và được gắn Alfa. Gồm có 2 đại đội, (A, B), với 6 trung đội (trung đội 1 đến trung đội 6) gọi là tiểu đoàn I SVSQ.

Và chúng tôi, toán lên sau, cũng 2 đại đội, C và D, với 6 trung đội (từ trung đội 7 đến trung đội 12), gọi là Tiểu Đoàn II tân khóa sinh.

Rồi cũng đến ngày hết thời kỳ huấn nhục, tức là sau 9 tuần. Chúng tôi được gắn Alfa. Đêm gắn Alfa cũng là đêm đáng nhớ. Đáng nhớ nhất là câu: Qùy xuống các tân khóa sinh, đứng dậy các sinh viên sĩ quan".

Chúng tôi đã sống như thế, những ngày sau 9 tuần huấn nhục vẫn còn âm ỉ, nghĩa là các niên trưởng Khóa 1 vẫn giữ chúng tôi trong trường hợp "hậu huấn nhục". Vẫn đi, đứng, ăn, uống trong sự kiểm soát, chỉ huy của các niên trưởng. Không phải từ Ban Chỉ Huy chỉ thị xuống, mà vì những người  tại vị, muốn kiểm soát chúng tôi...Dĩ nhiên chỉ là "chém gió", có đàn anh muốn dợt le, phạt hành xác đàn em để chứng tỏ ta có uy quyền. Cũng có đàn anh thật sự rất có tâm, muốn huấn luyện đàn em thành người SVSQ biết lễ nghi quân cách...

Nhưng các anh cũng đứng giữa "gọng kìm của lịch sử".

Khi chúng tôi trong những tháng ngày huấn nhục, đã được các sĩ quan ở Khối Khóa sinh cho tập ca bản "Chiến Tranh Chính Trị Hành Khúc." Bản nhạc là một bài hành ca, thường sau khi hội họp, hoặc xong một công tác gì đó, thì chúng tôi được bắt giọng để ca bài này.

Lời bài hát như sau:

Cán bộ chiến tranh chính trị là ta
Thề tiền phong đi chiến đấu cho tương lai
Yêu nước quyết hy sinh
Vì dân ta trung thành
Đồng lòng
Đồng lòng dựng xây đời mới
 
Không biết ai là tác giả bản hát này, mà mỗi khi hát lên, tôi thấy là bài ca rất dỡ, đúng chỉ là những lời tuyên truyền, không kích thích được người nghe lên tinh thần chút nào cả.
 
Buổi sáng thường thường theo sự phân chia, khi nào có lệnh trực chào cờ thì chúng tôi có một tiểu đội ra ngoài sân kéo lá cờ lên. Có một anh lính kèn đi theo thổi kèn khi thượng kỳ. Một cột cờ cao được dựng lên nền xi măng kiên cố. Phía bên trên cột cờ là cái mõ neo của hải quân. Thì đây là ý của ông đại tá hải quân chỉ huy trưởng, vì ông ở binh chủng hải quân qua làm chỉ huy trưởng, nên ông muốn có cái mõ neo.

Hải quân đại tá Lâm Ngươn Tánh thường bận đồ hải quân trắng hay vàng, đi thị sát việc huấn luyện của chúng tôi. Áo quần ông lúc nào cũng láng cóng, cầu vai mang lon đại tá hải quân, caskette hải quân. Khi ông cùng đoàn tùy tùng đến phòng nào, thì người trưởng phòng hô lớn:

- Vào hàng. Phắc.

Chúng tôi, tất cả những bạn có trong phòng đều đồng lọat đứng dậy trong tư thế nghiêm, và người trưởng phòng hô tiếp: Chào tay, chào. Tất cả đồng loạt chào tay, và đợi đến khi vị chỉ huy trưởng cho phép nghỉ, thì người trưởng phòng, nghỉ, thì chúng tôi mới nghỉ chào tay, và đứng nghiêm, đợi vị đại tá khám súng, khám giường từng cá nhân.

Kết quả cuộc khám xét quân trang ít nhất cũng có 5, 10 anh em, bị phạt dã chiến tơi bời hoa lá.

Súng ống chúng tôi khi trình khám luôn luôn phải sạch sẽ, láng bóng không còn một hạt bụi. Giày bốt cũng như vậy, nên chúng tôi phải mua xira về đánh bóng giày cho thật bóng, theo lời vui đùa của một số bạn là "con ruồi bu lên đôi giày, cũng sẽ bị té chết ngay". Nếu mà ngài đại tá rờ vào thấy còn chút vết đen dính trên tay, thì sĩ quan cán bộ đi theo ghi danh và người SVSQ có súng dơ, bị phạt dã chiến là lẽ đương nhiên. Sẽ bị "quần thảo" suốt đêm ngoài sân tiểu đoàn.

Hải quân đại tá Lâm Ngươn Tánh gốc thương thuyền của Pháp, sau khi Pháp trả độc lập cho Việt Nam, ông đổi qua hải quân và từ đó lên cấp đều đều. Không biết vì lý do gì, mà một ông hải quân đại tá, lại được bổ nhiệm chỉ huy trưởng một quân trường bộ binh, nghe đồn là do quen biết (đàn em của tông tông). Cho nên, với phong cách chỉ huy bên hải quân, mọi việc phòng thủ trường không được đánh giá đúng mức, nên trận Mậu Thân, địch đánh vô trường, khiến một số SVSQ Nguyễn Trãi 1, bị chết và bị thương.

Đến khi khóa tôi vô trường, khoảng nửa năm sau, lúc này có một khóa các tu sĩ tuyên úy về thụ huấn về Chiến Tranh Chính Trị. Vì sự phòng thủ không đúng chiến thuật, canh gác không kỹ lưỡng của nhà trường, lại bị nội tuyến, nên địch quân, một đêm tối đã tấn công vô trường, khiến một số đông các tu sĩ Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành bị tử thương, cùng một số anh em Sinh Viên Sĩ Quan cũng bị chết và bị thương nữa.

Lúc này Đại Giảng Đường vừa xây cất xong, tất cả trên 40 quan tài của các vị sĩ quan tuyên úy đem để đầy giảng đường. Thật không có cảnh nào thương tâm và đau buồn hơn cho những gia đình của những người vừa nằm xuống.

Đó tội của ai? Ai chịu trách nhiệm những tổn thất này. Không nghe nói, chỉ thấy một nổi buồn sâu kín đến với tất cả anh em chúng tôi. Có thể nói, đó là những ngày u ám nhất.

Độ khoảng nửa năm sau, hải quân đại tá Lâm Ngươn Tánh được thăng cấp bậc, là Phó Đề Đốc (chuẩn tướng) và đổi đi, nhận nhiệm vụ mới. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh về thay. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Ít ra đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá bộ binh, ông cũng hiểu biết hơn, kinh nghiệm hơn về việc chỉ huy một đơn vị bộ binh.

Sau này, chúng tôi có đọc một bài viết phê bình về những sai lạc của sự đào tạo, một thế hệ sĩ quan hiện dịch như chúng tôi. Tôi thấy đúng nên cũng xin trích ra đây:

(trích)

Bất lợi

Thiếu sự yểm trợ của Hoa Kỳ.

Vì không có cơ quan tương đương trong quân lực Hoa Kỳ, ngành CTCT Việt Nam đã không có đủ tài khoản để điều hành. Tổng cục phải dùng tiền viện trợ dành cho Cục Tâm lý chiến để trang trải hoạt động cho toàn Tổng cục. Đó cũng là lý do giải thích tại sao tổng cục CTCT sát nhập cục Quân tiếp vụ vào cơ cấu tổ chức của mình: để lấy thêm ngân sách. Sự khác biệt về văn hoá đã làm cho các cố vấn Hoa Kỳ không hiểu rõ thực trạng của cuộc chiến tranh nhân dân do Mao và Giáp đề xướng. Sự thiếu thốn tài chánh và yểm trợ từ phía Hoa Kỳ, làm cho ngành CTCT trở nên yếu kém so với các nghành khác, và cản trở họ thực thi những dự án quan trọng.

Trách nhiệm và quyền hạn

Người lính miền Nam Việt Nam, trong gần 50 năm đã chiến đấu liên tục, chống Pháp, chống Nhật, chống Việt Minh, rồi lại chống Việt Cộng và quân Bắc Việt. Dù trên nguyên tắc, họ phải thi hành nghĩa vụ quân dịch trong ba năm, họ đã chiến đấu lâu dài sau khi người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã ra về sau một năm phục vụ tại Việt Nam. Trong cuốn The Vietnam Experience, Tim Page đã miêu tả: ‘Điều kiện sống của họ rất kém. Họ ăn cơm với cá khô và ít canh rau. Để vui chơi, họ chỉ có chút rượu đế, đánh bài, và lâu lâu có xi nê.’ Người lính lãnh đồng lương nhỏ nhoi để nuôi cả gia đình hoàn toàn lệ thuộc vào họ.

Người cán bộ Chiến tranh Chính trị chẳng thể làm gì nhiều để giúp đỡ họ.

Người lính được quy định 15 ngày phép hàng năm và phép đặc biệt cho các vấn đề hệ trọng của gia đình. Nhưng trên thực tế, do nhu cầu hành quân và sự ngăn ngừa nạn đào ngũ, việc đi phép bị hạn chế rất nhiều. Quân số một đại đội bộ binh khi cao nhất chỉ khoảng 100 người (160 theo cấp số), trong đó có cả chục người thuộc thành phần bất khiển dụng do bệnh tật hay các vết thương chưa lành hẳn. Tuy nhiên, họ phải thực hiện nhiệm vụ như một đơn vị đầy đủ quân số.

Trong khi các sĩ quan chính trị trong quân đội Bắc Việt là các đảng viên Cộng sản và có quyền vượt hẳn các đơn vị trưởng, sĩ quan CTCT trong quân đội miền Nam không theo một đảng nào. Vì thế họ không có quyền lực. Ở cấp đại đội, họ là đại đội phó Chiến Tranh Chính Trị, nên không có quyền hành gì trong đơn vị; nhưng càng lên cấp cao hơn, họ là người lép vế nhất trong các sĩ quan tham mưu.

Đại đa số các sĩ quan chỉ huy lại không thấy tầm quan trọng của hoạt động CTCT. Ngoài ra, các sĩ quan CTCT thế hệ cũ lại có ít kiến thức về CTCT và là một trở lực lớn cho những dự án sáng tạo và năng động. Những sĩ quan trẻ trong ngành CTCT thường ưu tư về sự thăng tiến so với các sĩ quan các nghành khác.


Bất ổn chính trị, nạn tham nhũng, và lãnh đạo bất năng.

Dù trong hoàn cảnh chiến tranh và phải đương đầu với kẻ thù nguy hiểm, các nhà lãnh đạo VNCH không có khả năng thiết lập một sự ổn định về chính trị nội bộ. Họ tranh chấp nhau vì quyền lực, bổ nhiệm vào vị trí then chốt những người họ sũng ái thay vì những người tài ba. Sau chiến thắng của quân lực VNCH muà hè năm 1972, Tổng thống Thiệu đã quay mũi dùi hướng về các thành phần đối lập. Ông thành lập đảng Dân chủ như một đảng cầm quyền dù rằng nó thiếu nền móng và không được ai ủng hộ. Nạn tham nhũng trở nên nghiêm trọng trong mọi cấp. Các chức vụ ngon lành phải mua bằng tiền. Hậu quả là những người này lạm dụng quyền hạn để lấy lại sở hụi, hay tệ hơn, làm giàu cho chính mình. Hiện tượng lính ma là phổ biến trong các đơn vị bộ binh và địa phương quân.

Trong hoàn cảnh tham nhũng và tranh chấp quyền lực như thế, khó lòng mà thuyết phục quân lính rằng họ đang chiến đãu cho quê hương và dân tộc.

Nạn tham nhũng trở nên nghiêm trọng trong mọi cấp. Các chức vụ ngon lành phải mua bằng tiền. Hậu quả là những người này lạm dụng quyền hạn để lấy lại sở hụi, hay tệ hơn, làm giàu cho chính mình. Hiện tượng lính ma là phổ biến trong các đơn vị bộ binh và địa phương quân.

....


Kết Luận

Nếu so với hệ thống chính trị đầy kinh nghiệm của quân đội Bắc Việt, ngành CTCT trong Quân lực VNCH là một tổ chức lỏng lẻo và ít hiệu năng. Các cán bộ CTCT không có quyền hành và không được sự hỗ trợ của chỉ huy.

(hết trích)

từ link:
https://linhvnch.wordpress.com/truong-dhctct/



                                                                        Trần Yên Hòa
                                                                                                       (còn tiếp)

                                               Giới Thiệu Sách Mới: Bi Kịch Bản - Truyện dài Trần Yên Hòa

                                  *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 273)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 221)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 597)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 404)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 325)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,