DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,380,162

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 10)

Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 734)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 10)
                 Tháng ngày "lính lác"

Trần Yên Hòa                                      
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)



10.

 
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay sau các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường, chúng tôi được tập họp, sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách).

Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em "huấn nhục viên" cùng nghe. Có khi đi đến những điều riêng tư quá đà, khiến người nhận thư phải cắn răng trả lời, cố "cười ra nước mắt".

Nhưng huấn nhục là vậy. Khi nào được tha mới thôi. Rồi những trò ăn uống, bắt các "huấn nhục viên" phải cầm đũa vuông góc, ăn nhanh, ăn mấy giây phải hết chén cơm...Thôi thì đủ trò. Dù những ngày huấn nhục đã qua, nhưng dư hương vẫn còn đó. Bây giờ chúng tôi vào phòng ăn không còn bị phạt nữa, nhưng trước khi ăn phải nghe đọc thực đơn. Thực đơn chả có gì ngoài cơm gạo đỏ, cá hay thịt và canh. Cuối thực đơn có chuối bala và nước trà. Nhưng khi người SVSQ trực phạn xá hô: Mời các SVSQ ăn ngon. Chúng tôi hô lại: Ăn ngon. Thì mới được phép ngồi xuống để ăn.

Khoảng đầu tháng 5/1969, Khóa 1 tổ chức lễ ra trường. Lễ Ra Trường được tổ chức ở trước sân cờ Bộ Chỉ Huy. Anh em SVSQ Khóa 1 bận bộ đại lễ quỳ xuống trước các sĩ quan cán bộ, nhận lon thiếu úy, sau khi tiếng hô của một sĩ quan quân lễ ra lệnh:

- Quỳ xuống các sinh viên sĩ quan.

Các SVSQ Khóa 1 đồng loạt quỳ xuống.

Các sĩ quan cán bộ trong đó có một số sĩ quan ở các phòng, ban trên Bộ Chỉ Huy, nếu không đủ, thì một sĩ quan cán bộ gắn lon cho nhiều người. Sau khi gắn lon xong, vị sĩ quan quân lễ hô to:

- Đứng dậy các tân sĩ quan.

Tất cả đồng loạt đứng dậy. Thế là các anh đã trở thành một tân thiếu úy, thực thụ, hiện dịch.

Tôi không còn nhớ Lễ Ra Trường Khóa 1 có Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tham dự, chủ tọa hay không? Nhưng (hình như) có trung tướng Trần Văn Trung Tổng Cục Trưởng Tổng Cục CTCT. Và (cũng hình như) có đại tướng Cao Văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng chủ tọa nữa.

Buổi sáng Lễ Ra Trường Khóa 1 diễn ra khá long trọng. Sau đó là đêm liên hoan văn nghệ tại Đại Giảng Đường, có mời thân nhân các anh Khóa 1 đến tham dự. Tôi không còn nhớ rõ là anh em SVSQ Khóa 2 có được dự "ké" không? Nay tôi không còn chút trí nhớ nào về ngày ra trường của anh em SVSQ Khóa 1. Chỉ nhớ mơ hồ vậy thôi.

Tổng số tân sĩ quan tốt nghiệp Khóa 1 là 168.

Theo tin đồn râm rang trong anh em, thủ khoa  Khóa 1 là anh Huỳnh Bé Em. Anh Em đã chọn đơn vị cho mình đơn vị là Tiểu Đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị. Như đã biết, Tiểu Đoàn 50 CTCT là đơn vị CTCT, hoạt động yểm trợ công tác CTCT cho các đơn vị thuộc Biệt khu Thủ Đô Sài Gòn và Quân Khu 3. Bộ Chỉ Huy TĐ 50 CTCT đóng ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần Sở Thú, Sài Gòn. Cho nên Niên trưởng Huỳnh Bé Em đã nhìn xa trông rộng, là chọn đơn vị đúng ngành Chiến Tranh Chính Trị, rất an toàn và không bị ai chê cười cả.
Dĩ nhiên cũng có những cái nhìn khác, là Thủ Khoa một trường mang danh là Đại Học CTCT mà khi ra trường chọn một nơi an lành để yên thân, làm "mất mặt bầu cua" danh tiếng của trường. Đây chỉ là những tiếng nói, hay ý nghĩ thầm lặng thôi.

(Trong lúc đó, các thủ khoa của Trường Võ Bị Đà Lạt ra trường thường chọn các đơn vị sừng sỏ như Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân là những đơn vị tác chiến. Nhưng các vị thủ khoa này về đơn vị thường bị tử thương trong những ngày đầu. Nên ai cũng ngán).

Với 168 SVSQ/Khóa 1, với một số nhỏ không biết bao nhiêu, các tân sĩ quan được về các đơn vị Chiến Tranh Chính Trị, còn thì bị tung ra tác chiến, làm đại đội phó CTCT. Lúc này, được "trên" truyền xuống, đây là "những hòn đá lót đường" cho các đàn em sau này, và cho ngành CTCT nữa. Thật ra, như tôi đã nói là "cơ chế". Nó đã ăn sâu trong việc tổ chức một đơn vị, chỉ có cấp trưởng mới là người chỉ huy duy nhất trong đơn vị, thì dù là đại đội phó CTCT, cũng chỉ "mang ba lô đi theo đại đội trưởng để có dịp đạp mìn thay cho đại đội trưởng mà thôi".

Những ngày đầu Khóa 1 ra trường, chúng tôi có cảm giác buồn buồn, vì sự sinh hoạt vắng đi một số người. Nhưng dần dà, thời gian qua, cũng quen đi, và chúng tôi tự nhiên thấy thoải mái, vì sinh hoạt được tự do hơn, khỏi đi ra một bước, gặp niên trưởng là chào tay mệt nghỉ. Bây giờ thì bình đẳng, vì cùng một Khóa, nên cứ mày, tau, mi, tớ...lia chia.

Mỗi trưa, mỗi chiều chúng tôi vẫn sắp hàng đến Phạn Xá ăn cơm.

Khoảng 1 hay (2) tháng sau, một buổi chiều, chúng tôi nghe tin niên trưởng Lê Minh Châu Khóa 1, mới ra trường đã bị tử thương trong chiến trận. Trong bữa ăn hôm đó, ai cũng buồn khi vị sĩ quan cán bộ, thay mặt Bộ Chỉ Huy nhà trường thông báo Tin Buồn trên. Chúng tôi đứng lặng người trong 3 phút để truy điệu.

Niên trưởng Khóa 1 Lê Minh Châu đã từng làm tiểu đoàn trưởng huấn nhục chúng tôi. Anh người tầm thước, bận cặp đồ kaki vàng, phu la xanh, bê rê xanh đậm, giày map bóng loáng, thường đứng trên sân tiểu đoàn quan sát chúng tôi tập họp, so hàng, điểm danh, báo cáo. Anh ăn nói chững chạc, nghiêm túc. Phê bình chúng tôi những điểm chúng tôi còn lề mề, đi đứng chưa thẳng hàng. Anh chưa bao giờ phạt chúng tôi quá đáng và có những lời nói quá lố. Tôi rất mến phục niên trưởng Châu và rất thích anh. Sau huấn nhục, anh vẫn đi sát chúng tôi để chỉ bảo những điều chúng tôi chưa hoàn chỉnh. Không ngờ anh đã là người đầu tiên "nằm xuống" ở chiến trường. Tôi thấy thương anh và lo cho thân phận mình.

Rồi cứ tiếp tục, một hai tuần sau, cứ mỗi buổi chiều tập họp sắp hàng đi ăn cơm ở Phạn Xá, là chúng tôi (lại) nghe tin một niên trưởng tử trận. Chúng tôi lại có ba phút tưởng niệm trước bữa ăn. Chúng tôi biết thêm theo lời nói của sĩ quan cán bộ, là Khóa 1 coi như là khóa đàn anh lót đường cho các khóa đàn em sau này vững bước tiến lên. Nên sự "nằm xuống" của các anh là những viên đá lót đường chăng? Chúng tôi đâu có mong sự lót đường như vậy!

Nhưng nói gì thì nói, sự hy sinh đó là những hy sinh quá lớn. Thà như các SVSQ xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia ra trường (hay ít ra như trường Thủ Đức, Đồng Đế), khi ra đơn vị bộ binh, thì được đề bạt ngay làm cấp trưởng, như trung đội trưởng, đại đội trưởng. Còn số phận chúng tôi, ra trường chỉ được làm cấp phó, không cầm quân chỉ huy được, thì chuyện bị tử thương như NT1 Lê Minh Châu hay các niên trưởng tiếp theo sau đó, là một điều bất công và buồn đau. Điều chúng tôi  đau buồn là không cầm quân chỉ huy được, nếu muốn làm cấp trưởng, phải làm đơn xin xuất ngành, sau khi được Bộ Tổng Tham Mưu quyết định chấp thuận thì chúng tôi mới được cầm quân (chỉ huy).

Tôi biết Khóa 1 ra trường, có một số anh em rất ít về đơn vị CTCT. Còn thì tất cả về các sư đòan bộ binh. Mỗi sư đoàn 13 người. Như sư đoàn 2 bộ binh, 13 anh em về làm Đại đội Phó/CTCT tại các đại đội lẻ tác chiến thử nghiệm. Thời gian đầu, anh em Khóa 1 chỉ về trung đoàn 4 Bộ Binh. Nên anh Lý Công Văn sau hơn 2 năm "lội" rạc rài ở đơn vị tác chiến, đã tuyên bố một câu để đời:

- Đại đội Phó CTCT là người chỉ mang ba lô đi theo đại đội trưởng và chờ đạp mìn thế cho Đại Đội trưởng.

Cho nên chính tôi, trong những buổi chiều, đi học hay đi về từ các bãi tập, sắp hàng đi ăn ở Phạn xá, tôi vẫn cảm thấy lạnh lạnh người, khi nghĩ không biết hôm nay có niên trưởng nào được lên dàn giáo "3 phút tưởng niệm" không? Nếu không có, thật là có nhiều tiếng thở phào nhẹ nhõm từ anh em Khóa 2 chúng tôi.

Chúng tôi thương cho thân phận những niên trưởng Khóa 1 hay thương cho chính thân phận chính mình!

Các niên trưởng Khóa 1 đổi về trung đoàn 4 bộ binh, có niên trưởng Huỳnh Bửu Hoa cũng rất xuất sắc trong chỉ huy. Anh Huỳnh Bửu Hoa không biết có xin xuất ngành CTCT hay không, nhưng anh đã tình nguyện nhận lãnh chức vụ đại đội trưởng đại đội lẻ, chỉ huy xuất sắc đại đội ở trung đoàn 4 bộ binh. Và đến những ngày trước 30-4-75, anh Huỳnh Bửu Hoa đã lên làm tiểu đoàn phó tác chiến một tiểu đoàn, tại đơn vi này.

Còn những niên trưởng Khóa 1 khác, ra tác chiến ở những đơn vị khác, có lên làm cấp trưởng chỉ huy đơn vị hay không, tôi không biết thêm có ai.

 Đọc trên trang Web: 

https://linhvnch.wordpress.com/truong-dhctct/

Khóa 1 sau gần 6 năm ra trường, tính đến ngày 30-4-1975, đã có 40 sĩ quan tử trận. Đó cũng là một đau buồn chung cho toàn quân đội. 40 sĩ quan trên tổng số sĩ quan tốt nghiệp là 168 người, gần 1/4 sĩ số. Cũng là một sự hy sinh quá lớn.

 
 
blank                                                  Hình kỷ niêm khi mới vào trại nguyễn tri phương, cùng anh em Khóa 2 CTCT Vùng 1 (từ: Fb trần ngọc)

blank                            Hình 4 anh em K2 làm bích báo tiểu đoàn 2 SVSQ. (nguyễn ngọc mạnh, trần thanh ngọc, thái phát tài, trần yên hòa) (từ: Fb trần ngọc)

 
                                                                        Trần Yên Hòa
                                                                                (còn tiếp)

                                 *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, September 26, 202012:41 PM(View: 20)
Chỉ cần nói “West Point”, ai cũng biết đó là chi rồi. West Point là cái tên…dân gian, nói ra ai cũng hiểu. Tên chính thức của ngôi trường này là United States Military Academy (Học Viện Quân Sự Hoa Kỳ). Nhưng nếu lười biếng, chỉ cần nói The Academy hay The Point thì cũng biết liền chính là hắn! Được Tổng Thống Thomas Jefferson thành lập vào năm 1802, đây là học viện quân sự đầu tiên của Hoa Kỳ. Ngày nay mỗi năm trường thâu nhận khoảng 1300 sinh viên nhập học. Thời gian huấn luyện là 4 năm. Như vậy trong trường luôn luôn có 4 khóa tổng cộng khoảng trên 4 ngàn sinh viên. Chính ra con số này phải hơn nhưng vì mỗi khóa có khoảng 2% sinh viên bị loại mỗi năm, nên vào thì nhiều, ra thì ít, khoảng trên dưới một ngàn tân khoa mỗi khóa. Đây là một quân trường nhưng muốn vào học còn khó hơn vào những đại học danh tiếng. Tỷ lệ được chọn chỉ khoảng 9%, có nghĩa là trong 100 lá đơn xin học, chỉ có 9 thí sinh được nhận. Sở dĩ khó như vậy vì West Point chọn lựa sinh viên không chỉ dựa vào thành
Thursday, September 24, 20207:11 AM(View: 83)
Tôi qua Mỹ năm 11 tuổi tức là thuộc thế hệ Việt – Mỹ, sinh ở Việt Nam nhưng trưởng thành ở Mỹ. Trước năm 75 tôi sống ở trong khu nhà dành cho sĩ quan trong Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau 75, nhà của tôi bị tịch thâu, bố tôi đi tù cải tạo, mẹ tôi dẫn ba đứa con còn thơ dại lên trên Sài Gòn ở nhờ nhà người anh ruột. Đứa lớn nhất là tôi lúc đó được năm tuổi và cô em út của tôi lúc đó mới được một tuổi. Năm tôi lên bảy tuổi đã biết đọc thành thạo và đọc ké sách mà các anh chị họ con của bác tôi họ mượn của bạn bè. Tôi luôn luôn là đứa được đọc sau cùng mà phải đọc cho lẹ để mấy anh chị mang đi trả. Thủa ấy mấy anh chị của tôi cũng còn đang học dưới trung học nên toàn thích coi truyện kiếm hiệp và sách Tuổi Hoa. Phần tôi, vớ được cuốn truyện nào là tôi đọc và mê hết không kể thể loại. Từ năm tám tuổi tôi đã được đọc “Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa”, “Liêu Trai Chí Dị” luôn cả truyện tình cảm của Dung Sài Gòn và Võ Hà Anh. Nghĩ lại tôi thấy buồn cười vì mẹ tôi không cấm mà chỉ cười khi tôi
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 319)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 242)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 436)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.