DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,403,029

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 12)

Tuesday, September 29, 20207:59 AM(View: 480)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp 12)
                                                 Tháng ngày "lính lác"

Trần Yên Hòa                                      
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)



12.
 

Khóa 2 SVSQ/CTCT/Đà lạt chia làm 2 đợt. Đợt 1 nhập khóa khoảng tháng 10/68 kêu đâu 200 người. Học Quang Trung theo khóa 8/68. Đợt 2 nhập khóa ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung khoảng tháng 12/68, theo tài nguyên khóa 9/68. Hai đợt cách nhau 2 tháng. Đợt 1 lên Đà Lạt trước, huấn nhục trước, đeo alfa trước, nên khi đợt 2 khi nhập khóa, đang bị huấn nhục te tua, thì đợt 1 đang ở trong doanh trại Tiểu Đoàn 1, nhìn ra, khi không có cán bộ huấn nhục, tụi nó chỉa miệng ra nói:
- Ô! Khóa đàn em. Nhớ chào đàn anh đi chứ!

Chúng tôi đang huấn nhục nên đành câm miệng, nhưng lòng cũng tức đầy bụng (tức vui thôi!). Sau đó, chúng tôi được gắn alfa, và được trở thành SVSQ, thì mọi chuyện đều được giải quyết, bình đẳng như nhau.

Đến năm thứ hai thì (hình như) Bộ Chỉ Huy nhà trường, thấy cần thay đổi chỗ ở cho anh em, nên đã "xào bài". Một số anh em từ TĐ 2 được đổi xuống TĐ 1. Và ngược lại. Tôi được đổi xuống TĐ 1 ở trung đội 1, Đại Đội A, Tiểu Đoàn 1. Tôi đành chia tay với người bạn thân là Trần Thanh Ng. mà tôi đã kết từ ngày vào Trung Tâm 1/ Tuyển Mộ Nhập Ngũ, cho đến bây giờ. Tuy ở 2 TĐ, nhưng khi đi phép chúng tôi vẫn cặp kè nhau đi chung. Và trong mọi sinh hoạt chúng tôi đều có nhau.

Nói thì nói vậy, nhưng xa mặt thì cách lòng, ở 2 tiểu đoàn riêng lẻ nên mỗi người đều có sinh hoạt riêng, và có những người bạn mới riêng. Xuống TĐ 1, tôi có những người bạn mới như Lê Văn N, Trần Phát Đ. Lại cặp kè đi phép chung, đi ăn chung và có những "phi vụ" tán gái.

Như khi đi chơi với Trần Phát Đ. (Đ. người nam, đô con, đẹp trai) nên ra đường mấy em nữ sinh Đà Lạt "rất mê". Tôi đi theo Trần Phát Đ. nên cũng làm quen được với một em tên Niệm, học sinh Couvent Des Oiseaux. Thật ra hai em còn rất nhỏ, nên chúng tôi chỉ đưa nhau lên đồi Cù chơi, ngồi trên bãi cỏ mịn màng, ngắm trời trăng mây nước...hoặc đưa đi ăn kem ở bên bờ hồ Xuân Hương. Ngồi trên những chiếc ghế ở các quán kem Thủy Tạ, nghe em Niệm nói những lời "con nít" (em mới mười sáu tuổi), ngây thơ, trong trắng cũng vui vui. Chuyện chỉ đến đó, chưa hôn em một lần cho hoa lá cành.

Rồi tôi lại đi chơi với Lê Văn N. (N. gồ ghề). Hai đứa trong một buổi trực Câu Lạc Bộ SVSQ, nói chung là trực gác ở cổng Anh Đào, có 2 người con gái Đà Lạt vào cổng thăm bạn (SVSQ). Hai cô nói thăm bạn mà không biết tên, sao lạ vậy cà? Nên N. lại la cà làm quen, mời vào Câu Lạc Bộ SVSQ uống nước. Hai cô đồng ý.

Hỏi ra thì biết, hai cô là chị em ruột với nhau, cô chị là Liên, cô em là Lạc. Một cô nói có quen với một chàng SVSQ Khóa 2 tuần trước, nhưng chưa kịp hỏi tên. Nay cô vào tìm, thì gặp chúng tôi. Thôi cũng là chuyện vui. Tôi và N. làm quen và phân định, Ninh sẽ là bạn của cô Liên và tôi sẽ là bạn của cô Lạc. Chúng tôi bỏ nhỏ, đồng ý trên nguyên tắc như thế.

Quen nhau cũng được vài tuần, sau khi đã đi phố Đà Lạt, uống cà phê, ăn phở Bằng...Chúng tôi chia tay thì hai cô ngỏ ý là tuần tới, nếu chúng tôi có ra phép, hai cô mời đến nhà cô chơi. Nhà hai cô ở Ấp Đa Thiện, ngoại ô thành phố Đà Lạt. Hai cô chỉ vẻ đường đi đến. Tôi và N. đồng ý đến "thăm dân cho biết sự tình".

Chủ nhật tuần tiếp đến, chúng tôi ba đứa, tôi, Lê Văn N. và thêm Nguyễn Văn Kh. nữa, cùng nhau đến thăm hai cô Liên và Lạc. Tôi đã ngỏ ý muốn rủ Kh. đi theo, vì tôi đã có "người yêu bé nhỏ" ở quê nhà. Làm quen chỉ vui thôi mà, không có ý bồ bịch gì nên tôi muốn "bán cái" một cô qua cho Kh. Kh. người bạn vui tính và đang cần người tâm sự.

Một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, "chúng mình 3 đứa". Tôi, Kh. và N. xuất trại đi phép ngày cuối tuần, đã hẹn nhau, cùng lên xe đò từ bến xe  Hòa Bình đi xuống khu ấp Đa Thiện. Ba chúng tôi áo quần Wordted dạo phố mùa hè, nhìn chàng nào cũng đẹp trai ra phếch. Khi đến ranh giới ấp Đa Thiện, chúng tôi xuống xe, đi bộ theo lời hướng dẫn của 2 em "liên lạc". Nên nhớ ấp Đa Thiện là một nơi ngoại ô của thành phố Đà Lạt. Ở đây dân chúng trồng su su với những rẫy dài, hàng tiếp hàng, trông ngút mắt.

Đi khoảng 20 phút, chúng tôi còn băng bộ đi theo một đường bờ ruộng, cũng mười lăm phút nữa, mới tới một xóm nhà dân chúng. Đến nơi thì có 2 em "liên lạc" ra đón. Khu này coi như xóm nhà của dân lao động, và 2 em "liên lạc", nói cha mẹ 2 em là nông dân, từ Quảng Ngãi di cư vào đây cả mấy chục năm, và nhờ cần cù nhẫn nại làm rẫy, nên nay đã có một số rẫy trồng su su. Hàng mùa, bán cho thương lái chở về Sài Gòn bán, cũng kiếm một số tiền khá khá cho gia đình.

Gia đình 2 cô "liên lạc" tiếp đón chúng tôi vui vẻ, có làm gà, vịt, đãi chúng tôi, có bia Larue cho chúng tôi uống lai rai. Trong thời gian chờ đợi làm thức ăn (làm gà, vịt, gỏi, xé phay), tôi đi qua căn nhà kế bên, cũng của một người dân, thì được ông này cho biết, gia đình 2 cô "liên lạc" này có một người anh theo "giải phóng", hoạt động nằm vùng, hiện bị bắt và giam ở Côn Đảo. Tôi nghe nói cũng "dợn xương sống", nên sau lần đó, tôi không ghé nhà "liên lạc" nữa.

Chỉ có Kh. và N. tiếp tục "quan hệ", không biết mối giao hảo đi đến đâu? Nhưng cũng khoảng 4, 5 tháng sau, An Ninh Quân Đội nhà trường có kêu N. lên làm việc. Có lẽ do vụ "liên lạc", nên N. bị an ninh chú ý. Sau vụ này, chúng tôi không giám léo hánh xuống ấp Đa Thiện. Và mối tình của các bạn tôi cũng kết thúc tại đây.
 
Sau đó, tôi trở về chơi (lại) với Trần Thanh Ng. Lúc này, Ng. Cũng có một, vài người bạn mới, như Nguyễn Văn Th. và Lê Văn Ch. Hai bạn này rất dể thương, tính tình hiền hòa, vui vẻ. Nhưng lần đi phép ra phố, tụi tôi thường vào quán Phở, quán cà phê Tùng nghe nhạc tiền chiến, thế thôi.

Sau này tôi và Ng. có những dịp đi chơi riêng và cũng tình cờ, chúng tôi có quen hai cô gái học trường Franciscaine, đó là trường cao đẳng Thương Mại. Thật ra đây những cô này cũng chỉ là "bạn" thôi.

Trước khi ra trường, tôi với Ng. lại còn quen với hai cô gái lai Pháp, đó là cô Louisette và cô Mariane (cũng là hai chị em gái). Hai cô này rất dễ thương, hiền hòa. Dù là lai, hai giòng máu Pháp, Việt, nhưng hai cô tâm hồn rất Á Đông.

Khi ra trường, tôi có mời cô Mariane vào dự lễ mản khóa. Thật ra đây chỉ là "chuyện vắt vai" thôi, chứ tôi không có ý nghĩ gì xa xôi hơn, nên tôi cố giữ khoảng cách, bạn chỉ là bạn, không có chuyện "táy máy" tay chân gì cả.

Thật là tuổi thanh xuân phơi phới và chúng tôi tôn trọng những người bạn của mình, "chỉ đứng xa mà nhìn".

Trong thời gian (từ tháng 10/68 - 2/1971) thụ huấn tại trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị/ĐàLạt, tôi đã có những ngày thơ mộng, được hưởng khi hậu ấm áp của Đà Lạt. Cho tôi một thời coi như (dù cực khổ) nhưng đã là một dấu ấn êm đềm trong tâm hồn tôi.

Điều đó khiến tôi yêu Đà Lạt, yêu bạn bè, yêu thơ, yêu nhạc, về Đà Lạt.

Cho nên tôi rất yêu bài thơ "Còn Lại" của Hoàng Anh Tuấn:


Còn Lại



Bước rất nhẹ như mây mềm dưới gót
E nắng buồn làm rối tóc mưa ngâu
Em tìm anh nước uốn nhịp ven cầu
Năm tháng cũ rợn tình xưa tỉnh thức

Em vẫn bé, anh vẫn còn ngây ngất
Màu áo hường còn gợn sóng âm thanh
Mắt thuyền qua nên nón vẫn nghiêng vành
Chân cuống quýt nên guốc giòn gõ cửa

Anh mở vội cả nghìn lần hớn hở
Cho hồn nhiên, mắc cỡ với hoài nghi
Em cúi đầu và lặng lẽ bước đi
Từ hôm ấy cửa nhà anh bỏ ngỏ

Bước rất nhẹ như hường qua sắc đỏ
Như màu trời len lén bước vào xanh
Như thời gian vò nát lá thư tình
Bước rất nhẹ như vẫn còn đứng lại

Bước rất nhẹ như mùa Thu con gái
Như bàn tay khẽ hái tiếng đàn tranh
Như chưa lần nào em nói: yêu anh
Như mãi mãi anh còn nguyên thương nhớ

Bước nhè nhẹ như bóp mềm hơi thở
Như ngập ngừng chưa nỡ xé chiêm bao
Em có về ăn cưới những vì sao
Để chân bước trên giòng sông loáng bạc

Ở một chỗ tưởng chừng như đi lạc
Yêu một người mà cảm thấy mênh mông
Em đi ngang nhịp bước có lạnh lùng
Mà sao vẫn y nguyên bài thơ cũ?

Vẫn lặng lẽ để anh nghe vừa đủ
Vẫn thờ ơ cho rủ hết màn the
Vẫn mỉm cười rồi vẫn lấy tay che
Cho cặp mắt bỗng nhiên mười sáu tuổi

Tay vụng quá nên thư không viết nổi
Mực trong bình như cẩm thạch ngẩn ngơ
Giấy trắng tinh đem bóc nhẹ từng tờ
Tầu bay giấy ngượng ngùng bay ra cửa!

Em nguyên vẹn là bài thơ bé nhỏ
Anh còn nguyên là một kẻ yêu em

Em đi ngang xin ráng bước cho êm
Đừng đánh thức thời gian đang ngủ kỹ

Đừng đẹp quá để anh đừng rối chỉ
Lấy gì đây khâu vá lại tình xưa?
Có đi ngang xin chọn lúc bất ngờ
Đừng nói trước để anh buồn vơ vẩn

Có đi ngang xin em đừng đánh phấn
Tóc buông rèm lứa tuổi thích ô mai
Mắt vương tơ của những phút học bài
Tay kheo khéo khi đánh chuyền với bạn

Em giấu đi những nỗi lòng vỡ rạn
Anh cũng thề giấu hết gió mưa đi
Bao nhiêu ánh đèn rũ rượi tái tê
Những ngõ vắng, tối tăm anh giấu hết.



Hoàng Anh Tuấn


 
 
 
                                                                            Trần Yên Hòa
                                                                                    (còn tiếp)

                                  *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, October 28, 20209:45 AM(View: 143)
Ngay từ thời kháng chiến, với đôi dép lốp và gậy tầm vông, những anh bộ đội hăng hái đi tòng quân đã hát vang như thế mỗi khi đi qua làng. Giờ giấc mộng trong câu hát đã thành sự thực. Nhưng quân thù đâu đã đầu hàng. Nó chỉ nhường cho ta nửa nước như bẻ đôi một cây mía để cho ta một khúc ngọn nhạt phèo. Ngọt sao được khi bốn tỉnh Nam Ngãi Bình Phú này phải giao cho nó! Những người đứng xem bàn tán. Một người nói: vậy là mình chỉ có nước húp mắm! Sao vậy, người khác hỏi. Còn sao gì nữa, ai đâu ngoài bắc mừng chớ mình mừng gì nổi. Tây nó tới đây ở đó mà mừng! Ờ há, một người khác kêu lên. Bọn họ chừng năm người, áo bà ba quần đùi xăn tới háng, để lộ những cặp chân không phải tươi mướt như cô đầm lai dạo nọ mà đen đúa lỏng khỏng như những khúc thù đâu phơi khô. Trong số họ có thủ ngữ Đực, nó nói, Tây tới đây thì đánh nữa chớ sợ gì. Nó lại hét toáng lên, giặc thua rồi không thấy à? Hoan hô lên chớ, hoan hô! Nhưng chẳng ai hô theo. Chỉ có vài đứa trẻ từ trong xóm chạy ra hô: muôn năm thủ
Saturday, October 24, 20208:41 AM(View: 172)
Đêm thứ nhất, sau khi trét xong cái vách đất biến ngôi nhà thành một cái hang lộ thiên khổng lồ, ông không thể nào chợp mắt được. Cái mùi xăng vẫn còn nồng nặc, rồi mùi của đất ướt ngai ngái, mùi của bóng tối đậm đặc, mùi của cây gỗ bị rang nóng… làm ông ngạt thở. Đã mấy lần ông chui ra ngoài hiên, ngồi đốt thuốc nhìn trời. Ngân hà giống con sông chảy qua làng trong mùa lũ, trông mênh mang cả một trời sao trắng đục. Ông thấy sao con công vẫn còn kéo cái đuôi óng ánh dài lê thê, sao con vịt xấu xí hếch cái mỏ lên trời và ông nghe thấy tiếng con chim heo kêu ụt ụt. Không có tiếng vạc kêu, cũng không có tiếng chim cú ném vào đêm tối những tiếng kêu dài ma quái. Đất trời vẫn yên hàn thanh tịnh, chỉ có lòng người vẫn không ngớt dậy lên những trận phong ba kinh hồn, lúc nào cũng để lại những tiếng dội âm ỉ như tiếng sấm rền trong mây. Cớ làm sao chỉ một bước mà mình đã lên địa chủ? Rồi một bước nữa là phản động. Đâu phải mình muốn bước mà mình bị đẩy lên, bị nắm tóc kéo lên chỉ sau một
Tuesday, October 20, 20209:29 PM(View: 216)
Cung Tiến từ nhỏ được xem là nhạc sĩ tài hoa, học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ Thẩm Oánh và Chung Quân. Năm 1952 theo thân phụ vào Sài Gòn học tại hai trường trung học Nguyễn Trãi và Chu Văn An. Năm 1953, sáng tác hai nhạc phẩm bất hủ Thu Vàng và Hoài Cảm. Theo lời anh “Lúc đi, nhớ tất cả những gì mà ở Hà Nội ghi vào ký ức mình”. Ca khúc Thu Vàng, điệu valse, khi nghe tưởng chừng như những bước chân chim nhảy nhót trên lá thu, và Hoài Cảm nhưng tâm trạng của kẻ tình si “Lòng cuồng điên vì nhớ. Ôi đâu người, đâu ân tình cũ… Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa” thật tuyệt. Thật khó tưởng tượng cậu học sinh lớp Đệ Lục (lớp 7) mà viết lên lời ca hay như vậy. Nhạc sĩ Cung Tiến sáng tác hai ca khúc Hương Xưa và Nguyệt Cầm. Thể loại nầy từ lời ca và giai điệu mang chất classical nên thường gọi là dòng nhạc bán cổ điển (semi-classic, semi-classical). Ca khúc Hương Xưa (1956) đã một thời nổi tiếng qua tiếng hát điển hình như Lệ Thu, Hà Thanh, Sĩ Phú, Duy Trác (Mai Hương trình bày với
Sunday, October 18, 20204:22 PM(View: 238)
Tôi chỉ là một công dân hạng hai cầm bút chứ không phải là nhà văn. Lại càng không phải là nhà văn có thương hiệu cho dù là cấp xã hay cấp nhà nước. Tôi viết trước hết cho các con tôi vì chúng rất mù mờ không hiểu cha ông chúng đã sống và đã chết như thế nào trong suốt hơn nửa thế kỷ dông bão vừa qua. Tôi có người bạn bảo bây giờ viết như Kinh Kha buồn. Nghĩa là biết chẳng tới đâu mà vẫn phải cầm lấy bút như cây chủy thủ. Tôi nghĩ còn hơn Kinh Kha buồn vì sông Dịch bây giờ chẳng những lạnh mà hoang vắng đến rợn người. Chẳng có một tân khách nào dám tiễn đưa. Cái đất Tần ấy lúc này đang ngút trời gươm đao bất trắc. Từ lúc nạn đói năm Ất Dậu đến nay có bao nhiêu triệu công dân hạng hai Việt Nam đã chết? Hai triệu? Năm triệu? Hay mười triệu? Chết vì đói, vì thủ tiêu, vì đấu tố, vì tố cộng, vì Mậu Thân, vì cải tạo, vì vượt biên… Cho dù ở bên nào họ cũng chỉ là những nông dân nghèo, cả đời khát khao mảnh vườn thửa ruộng. Chính vì vậy mà họ bị lừa phỉnh, bị lợi dụng, bị sai khiến.
Wednesday, October 14, 20208:35 AM(View: 252)
Cách đây hơn bốn mươi năm, khi còn ngồi trên ghế nhà trường cấp III, có một lần, trong buổi ngoại khóa, chúng tôi được thầy H. B. N. bình bài “Tiếng hát sông Hương” của nhà thơ Tố Hữu. Thầy bị cụt một tay, người chỉ được một mẩu, đuôi mắt trái lại có mụn ruồi to đùng nhưng giảng văn thì cực hay. Dường như những khi đứng trên bục giảng, thầy đã hóa thân vào tác phẩm, để rồi, trong phút xuất thần, chuyển tải cái nhân sinh quan cộng sản của một ông râu xồm mãi bên trời Tây vào con tim ngu ngơ của đám học trò nông thôn, quần âm lịch, chân đất, vốn chưa biết gì về nạn mại dâm. Theo sự phân tích rất logic từ mỹ học Marx-Lenin, thầy khẳng định, cô gái sông Hương là nạn nhân của chế độ thực dân phong kiến, bị giày vò cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy nhiên, nỗi ô nhục ấy sẽ mất đi, người con gái vướng vào kiếp nạn ê chề sẽ được hoàn lương một khi Cách mạng vô sản thành công. Chân trời mới sắp mở ra. Những thân phận bọt bèo, lạc loài sẽ được sống trong một xã hội công bằng, hạnh phúc, đầy hoa