DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,531,254

Vương Trùng Dương - Kỷ Niệm Với Song Ngọc, Hà Nội Ngày Tháng Cũ

Tuesday, April 6, 20215:52 PM(View: 716)
Vương Trùng Dương - Kỷ Niệm Với Song Ngọc, Hà Nội Ngày Tháng Cũ

                                                             Kỷ Niệm Với Song Ngọc,
                                    Hà Nội Ngày Tháng Cũ


       
Kỷ Niệm Với Song Ngọc, Hà Nội Ngày Tháng Cũ - Văn Nghệ - Việt Báo Văn Học  Nghệ ThuậtPhoto - Category: Song Ngọc - Hình: Tuyển Tập Tình Ca Song Ngọc - Âm Nhạc  Online         

 


Bài viết Song Ngọc, Dòng Nhạc Của Một Thời Để Nhớ của tôi vào Hè 2018. Khi viết bài nầy, chúng tôi đã gọi điện thoại trò chuyện và email cho nhau. Tôi nhận được những tuyển tập ca khúc của anh để dẫn chứng chính xác. Khi viết về nhạc sỉ, ca sĩ, tôi vào YouTube để thưởng ngoạn dòng nhạc và lời ca để tạo thêm nguồn cảm hứng. Với nhiều ca khúc của anh trước năm 1975 viết về lính khá quen thuộc, và ca khúc sau nầy ở hải ngoại, tôi đã nghe nhiều lần, rất thích “Hà Nội Ngày Tháng Cũ”.

Đoạn kết viết về ca khúc nầy:
“Viết về Hà Nội của thuở “ba mươi sáu phố phường, ngàn năm văn vật” qua các ca khúc thời tiền chiến vẫn tuyệt vời đã in sâu trong lòng người thưởng ngoạn. Song Ngọc của dòng An Giang đã sáng tác hai ca khúc nói về Hà Nội, ca khúc Nhớ Em Hà Nội:

“Một người con gái Hà Nội
Bên bờ Hồ Tây, se sắt tim buồn
Chiều vào thu, heo may hắt hiu
Mắt em lạnh đầy, mắt em lạnh đầy
… Hà Nội mùa thu, sương lam giăng mắc
Liễu buồn mong chờ, mù bóng thu sang
Trời đã vào thu, ai đi viễn khơi
Có nhớ thu xưa, nhớ em Hà Nội”.

Ca khúc nầy không được nổi tiếng bằng ca khúc Hà Nội Ngày Tháng Cũ khi sống ở hải ngoại, rất hay từ lời ca cùng giai điệu.

“Hà Nội ngày tháng cũ
Có bóng trăng thơ in trên mặt hồ
Hà Nội ngày tháng cũ
Có tiếng oanh ca bên bờ tường vi
... Mùa Thu ngày ấy ta bên nhau
Ai ra đi mà không nhớ về
Hồ Gươm mù tối gương xưa
Nhớ hàng Bạc, nhớ qua hàng Đào
Nhớ cơn mưa phùn chạy ngang thành phố
Bên em cùng đội mưa mà đi
Đội mưa mà đi... mà đi
… Hà Nội còn sống mãi
Chiếc ao xanh lam áo trắng nghiêng nghiêng mặt hồ
Chiếc lá cô đơn lang thang trôi trên vỉa hè
Giờ đâu xa vắng... mây chiều”.

Tôi mê ca khúc nầy, lần đầu với tiếng hát Sĩ Phú rồi đến nhiều ca sĩ khác, nghe không biết bao nhiêu lần nhưng vẫn thấy hay. Có lẽ giữa anh và tôi cảm nhận giống nhau nơi chốn xa lắc xa lơ nầy.

Qua lời kể của bố vợ, năm 1973 ở Đà Lạt tôi viết bài Hà Nội, Giấc Mơ Mịt Mù để tặng đứa con trai đầu lòng nhớ về quê ngoại. Bài viết đăng trên đặc san Ức Trai của trường Đại Học CTCT Đà Lạt. Nhà thơ Tô Kiều Ngân (Thiếu Tá Lê Mộng Ngân, Chủ Bút đặc san) cảm nhận và chọn những ca khúc viết về Hà Nội cho chương trình văn nghệ (2 kỳ) trên đài phát thanh Đà Lạt.

Quản đốc đài phát thanh Đà Lạt là nhà thơ Hoàng Anh Tuấn, với nhà thơ nầy

“Hà Nội yêu, anh vẫn yêu muốn khóc. Mấy chục năm, xa đến mấy nghìn năm... Hà Nội yêu, áo lụa ngà óng ả. Thoáng khăn san nũng nịu với heo may... Hà Nội yêu, đẹp Trưng Vương mái tóc. Chiếc kẹp nghiêng, ba lá nép vào nhung”.

Và, sau nầy được nhiều người gọi là nhà thơ của Hà Nội như tập thơ Yêu Em, Hà Nội của ông.

Nếu lúc đó có ca khúc nầy thì hình ảnh xa xưa của thuở “vang bóng một thời” mà Song Ngọc gợi nhớ “Hà Nội người có nhớ. Tháp Bút chơ vơ liễu xanh vật vờ. Hà Nội người có nhớ. Hương lan vương vương bên hồ Thuyền Quang…”. Với một thời đáng yêu qua ngòi bút Thạch Lam (Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường), Nguyễn Tuân (Vang Bóng Một Thời), Vũ Bằng (Thương Nhớ Mười Hai), với “Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm” (Quang Dũng), Hà Nội cổ kính với thiên nhiên hữu tình của thời xa xưa rất nên thơ. Nhạc sĩ miền Nam chưa ra Hà Nội nhưng “gợi” lại ngày tháng cũ với niềm tiếc nhớ vì hình ảnh thơ mộng đó đã tan theo thời gian!

Khi tôi nói với anh, ca khúc Hà Nội Ngày Tháng Cũ quá tuyệt. Anh nói, vì có vợ Hà Nội chứ gì. Tôi hỏi, còn anh?. Anh cười ha hả… bọn mình, thằng nào không lãng mạn nhưng vẫn chung tình cho đến cuối đời”.
Từ thời học sinh nơi phố cổ Hội An, bài thơ về 36 phố phường trong Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của GS Dương Quảng Hàm mô tả phố cổ Hà Nội:

“Rủ nhau đi chơi khắp long thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn
Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Than
Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng
Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông
Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà
Quanh đi đến phố Hàng Da
Trải xem phường phố thật là cũng xinh
Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền”.

Từ đó, 36 phố phường Hà Nội…, câu thơ dân gian ấy trở thành quen thuộc. Và, lịch sử nơi chốn đó vào thời kỳ vua Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô về Đại La (1010) đặt tên Kinh đô là Thăng Long, thủ đô chia làm 2 khu vực: Khu vua ở và thiết triều gọi là Thăng Long Thành và khu dân cư nơi làm ăn buôn bán của mọi tầng lớp sĩ nông công thương, dân quê gọi là phố Kẻ Chợ vì mỗi phố sản xuất và bán một thứ sản vật nổi tiếng. Khu dân cư này cũng có thành bao quanh gọi là Thăng Long ngoại thành.

Đến năm 1014 đổi là Nam Kinh. Sang đời Trần đổi là Trung Kinh, có 61 phường. Đến đời Lê, tổ chức lại thành 36 phường... Theo dòng thời gian đến thế kỷ thứ 18, thương nhân các nước đến nơi đây làm ăn buôn bán nên 36 phố phường sầm uất.
Hà Nội xa xưa của xứ “ngàn năm văn vật” được ghi vào thơ văn trang trải với tha nhân khá nhiều từ đầu thế kỷ XX. Trong thi tập Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính (Hương Sơn, 1940)

“Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng có để một tơ vương.
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,
Góp lại đường đi: vạn dặm đường.
Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
Lòng chàng đã dứt một tơ vương,
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,
Có một người đi giữa đám tang”!

Nhà thơ Nhất Tuấn bày tỏ Những Vần Thơ Nhớ Nhung Hà Nội sau thời gian di cư vào Nam:

“Bao năm qua tôi vẫn cứ mong chờ
Ngày trở lại nẻo đường thành phố cũ
Ở miền Nam có nhiều đêm không ngủ
Nhớ vô cùng Hà Nội của ngày xưa
Đường Cổ Ngư còn những cảnh nên thơ
Hồ Tháp bút nước xanh hay ngả đục   
Những nẻo phố xưa có còn tấp nập
Trường Trưng Vương còn vạt áo lam bay…”

Vào thập niên 60, với các ca khúc viết về Hà Nội, thấp thoáng tên gọi hay hình bóng người tình nhưng cũng hình dung cả khung trời,điển hình như:
Hướng về Hà Nội của nhạc sĩ Hoàng Dương

“… Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi
Ánh đèn giăng mắc muôn nơi, áo màu tung gió chơi vơi
Hà Nội ơi, phố phường dài ánh trăng mơ
Liễu mềm nhủ gió ngây thơ, thấu chăng lòng khách bơ vơ…”
Ca khúc nổi tiếng nhất là Giấc Mơ Hồi Hương của nhạc sĩ Vũ Thành
“Lìa xa thành đô yêu dấu, một sớm khi heo may về
Lòng khách tha hương vương sầu thương
Nhìn "em" mờ trong mây khói, bước đi nhưng chưa nỡ rời
Lệ sầu tràn mi, đượm men cay đắng biệt ly!
… Nghẹn ngào thương nhớ em Hà Nội ơi!”

Tình khúc Gửi Người Em Gái của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (lời Từ Linh)

“… Hà Nội chờ đón Tết, vắng bóng người đi, liễu rủ mà chi
… Em tôi đi, màu son lên đôi môi
Khăn san baу lả lơi bên vai ai
Trời thắm gió trăng hiền
Hà Ɲội thêm bóng dáng nàng tiên”

Khi định cư ở hải ngoại, tôi đã nghe nhiều ca khúc về Hà Nội nhưng không thích bằng những ca khúc xa xưa… cho đến khi nghe ca khúc Hà Nội Ngày Tháng Cũ của Song Ngọc. Khi chia sẻ với anh điều nầy, anh cũng cho biết có vài thân hữu di cư từ năm 1954, xa Hà Nội, nhớ Hà Nội nên thích nghe các ca khúc về Hà Nội nhưng mang “màu sắc chính trị” nên không phù hợp.
Trong mùa dịch Covid-19, không được đi nơi nầy nơi nọ, không có dịp gặp gỡ bạn bè, không ngồi chung ở quá cà phê để tấn gẫu với nhau. Ở nhà, xem tin tức cũng nhức đầu, lôi các quyển sách làm tài liệu ra đọc cũng chán, chỉ còn thú tiêu khiển với âm nhạc.

Song Ngọc đã ra người thiên cổ, mỗi lần nghe đến các ca khúc của anh, nhất là Hà Nội Ngày Tháng Cũ, nhớ lại vài kỷ niệm nên viết đôi dòng.


Little Saigon 4/2021

Vương Trùng Dương
Khóa NT1/TĐH/CTCT/ĐL
(Tác giả gởi)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, July 30, 202112:23 PM(View: 32)
Phật dạy rằng có vô số lượng kiếp, và tôi đang sống đây là kiếp người, lẽ ra cũng đáng mừng, nhưng lại là người dưới thời “chưa bao giờ tốt đẹp như bây giờ”, nghe ra thật mỉa mai nếu không muốn nói là rất đắng cay. Sau 1975, các xe xích lô ở Nha Trang phải vào hợp tác xã, có ghi biển viết tắt XLNT. Hỏi bác xích lô nghĩa là gì, bác tỉnh bơ: Xin Làm Ngựa Trâu! Ôi chao, người miền Nam và tiếng Việt Nam! Hay thấm thía! Thì đúng là gần nửa thế kỷ rồi làm kiếp ngựa trâu, giờ sắp vào lò luyện ngục, quỷ sẽ dắt đưa đi đầu thai. Chẳng biết sẽ thành chó, mèo, heo, gà hay giun dế… Thành kiếp gì cũng không bằng kiếp người. Ngẫm ra, cái hay của kiếp người là giàu nghèo sang hèn đều có quyền ước mơ. Có anh mơ làm tổng thống, có chị mơ làm hoa hậu, mơ tột đỉnh dù chẳng bao giờ thành sự thực. Nhưng vẫn cứ mơ, vì chẳng có điều 5, điều 7 nào trong hiến pháp cấm kỵ công dân cho dù hạng bét được quyền ước mơ cả. Vậy thì, tôi cũng có quyền mơ viển vông như thế này: mơ làm Chử Đồng Tử, một
Saturday, July 24, 20218:33 PM(View: 239)
Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi : - Xếp có dính dáng đến Duy Dân không? Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói : - Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái. - Xếp là nhà báo. - Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân. Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi
Wednesday, July 21, 20214:14 PM(View: 153)
Nghe tôi nói đến "Hiếu nhà băng", thiếu tướng Thạc nhướng lông mày, ngạc nhiên: – "Hiếu nhà băng" ở Zurich? Ông quen hắn à? Tôi gật: – Quen. Chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy à? – Biết. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy chúng tôi đặt cho hắn biệt danh "Hiếu tồ". – Trái đất tròn thật. Hoá ra hai ông quen nhau – tôi nói – Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch Ai Cập. Lâu rồi, dễ đến ba hoặc bốn năm. Quen loáng thoáng thôi. Mãi đến năm ngoái gặp lại ở Genève mới có dịp tâm sự. – Ông thấy hắn ta thế nào? – Tính tình cởi mở, quả có hơi tồ một chút. – Nghe nói bây giờ hắn giàu. Giàu lắm ấy. Ông thiếu tướng liếm đôi môi khô. Trong giọng ông có một chút khó chịu, một chút ghen tị, hoặc cả hai. – Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi nói nhận xét của mình – Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang – một cái BMW đời cũ. Đại khái là làng nhàng, không có gì nổi bật. Trước khi về hưu ông ấy làm việc ở một ngân hàng. Phó giám đốc
Thursday, July 15, 202110:51 AM(View: 150)
rong tháng Tám vừa qua, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tại Paris, Pháp Quốc, đã đột ngột qua đời tại Quận Cam, Nam California, khi ông từ Pháp sang đây để lo việc ấn hành sách cho nhà xuất bản của ông. Ông là một người của sách vở, tuy không phải là một người sáng tác hay biên khảo nhưng những tác phẩm ông để lại cho đời thật là nhiều. Từ bốn mươi năm qua, ông chính là người phát hiện ra những giá trị của sáng tác và biên khảo của biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam, đưa chúng đến với người đọc với một tấm lòng trân trọng và trìu mến. Chính công việc và cung cách xuất bản sách của ông đã cho thấy ông là một người nghệ sĩ thứ thiệt, một nhà văn hóa nhiệt tình với đất nước. Có thể nói Thanh Tuệ là sách, sách là Thanh Tuệ, và chữ sách ở đây phải được hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất, thanh tao nhất mà từ xưa đến nay nhân loại đã dành cho thứ sản phẩm văn hóa này. Một người thích sách vở sống vào giữa thập niên 1960 tại Sài Gòn thì không thể không để ý đến một
Wednesday, July 7, 202112:00 PM(View: 230)
Cha tôi, nhà văn Nhất Linh, cho ra đời hơn mười tác phẩm. Mẹ tôi sinh đẻ hơn mười người con. Bà thường nói đùa với chúng tôi: “Cứ mỗi lần Mợ có mang thì Cậu lại thai nghén một quyển truyện”. Những đứa con của mẹ tôi khi chào đời thường song hành với một tác phẩm mới của cha tôi được xuất bản. Chẳng hạn như anh Thạch tôi sinh năm 1935 ứng với năm tác phẩm Đoạn Tuyệt ra đời. Nhưng khi cha tôi bắt đầu thai nghén và khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940, trong khi mẹ tôi cuối năm đó sinh đẻ ra tôi, thì tác phẩm này vẫn chưa chịu ra đời. Lần này khi khởi viết Xóm Cầu Mới Nhất Linh mang hoài bão quá lớn, “cái thai” quá to, nên tác phẩm không chịu xuất hiện trên đời cho mãi đến ba mươi ba năm sau. Kỳ diệu thay chính tôi lại là người “đỡ đẻ” cho tác phẩm ra đời khi tôi cho xuất bản cuốn Xóm Cầu Mới lần đầu tiên vào năm 1973. Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để