DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,481,995

Dòng đời và dòng lịch sử - Hoàng Ngọc Hiến

Sunday, March 18, 201212:00 AM(View: 14036)
Dòng đời và dòng lịch sử - Hoàng Ngọc Hiến

Dòng đời và dòng lịch sử


hoang_ngoc_hien_0

 GS Hoàng Ngọc Hiến


(nhân đọc bộ ba tiểu thuyết lịch sử “Ba nhà cải cách” của Vũ Ngọc Tiến)

Từ hình ảnh con sông Thương “nước chảy đôi dòng”, tác giả nói đến dòng đời và dòng lịch sử trong tác phẩm của mình “Bên dòng đời với bao nụ cười và nước mắt, yêu thương và giận oán, tranh đoạt và hợp tác, giả trá và chân tình…cuộn réo trong nhau làm ngầu lên đục lờ” (tr.397). Mưu mô, giả trá được vạch trần ngay trong hành vi và hành tung của nhân vật anh hùng Trần Thủ Độ (cả ba nhà cải cách trong tác phẩm đều đáng mặt anh hùng). Từ sự gian hùng của nhân vật này (tính gian hùng ở người anh hùng không phải là điều hiếm thấy) tác giả nói đến “sự thật muôn thuở nghiệt ngã trên chính trường”: “mập mờ”, “ngờ vực” phải chăng là “quy luật muôn thuở” trong môi trường này? Trong chính trị cần phải “có máu lạnh”, đôi khi phải “tàn nhẫn”, “ bước vào chính trừơng là ngồi lên lưng cọp, không giết ngừời thì người sẽ giết ta, có khi còn tàn ác hơn” (xem tr. 277)…Trong tác phẩm cũng có những trang thắm thiết “yêu thương và chân tình” của những người bạn cùng chí hướng, những con người tình nghĩa, cảm động hơn cả vẫn là “ nước mắt” và đau thương của những người đàn bà: Khúc Huyền, Trần Thị Dung, Chiêu Thánh, Thục Nga, Cao Thị Vân…Cuối cùng thì “nụ cười” và “nước mắt”, “yêu thương” và “giận oán”, “giả trá” và “chân tình”…,tất cả đều có trong chủ đề ái tình được tác giả gọi là “ túy hương trong toàn bộ thế giới tinh thấn sâu thẳm của một con người” (tr.255). Có cả sex mà khí lực mạnh mẽ vẫn thấm trào lụa là của lời văn mộc mạc, tao nhã: “Họ hòa vào nhau như cơn mưa rào tuôn tràn vại nước thô sơ từ thuở hồng hoang của lịch sừ loài người” (tr. 419)


 Tìm hiểu “ dòng lịch sử” trong tác phẩm, có thể nói đến những khâu nối tiếp nhau trong quá trình của những thời kỳ lịch sử, cũng có thể nói đến những khâu móc nối nhau trong quá trình hình thành nhân cách của những nhân vật lịch sử ( trong đó có ba nhân vật cải cách). Quá trình hình thành nhân cách của Đào Duy Từ đặt ra vấn đề: “ Một nhân vật kiệt xuất như Duy Từ ắt phải có thầy dạy kiệt xuất trong giới thức giả dân gian . Không những thế, vị này còn bao chứa tài năng ở nhiều lĩnh vực Nho-Phật-Lão, binh pháp, văn thơ, nghệ thuật…” (tr. 702) Vì thiếu cứ liệu, “nhằm lấp chỗ trống thời gian 8 năm đi học ở tuổi thiếu thời của Duy Từ” (1584-1592) tác giả đã tưởng tượng ra nhân vật Đại sư Duy Giác “để Ngài vừa dạy Duy Từ kiến thức Nho, Phật, Lão, vừa dạy võ thuật, binh thư nữa” trong 8 năm ở chùa Đàn Xuyên (cũng là một địa điểm hư cấu). Duy Giác được hư cấu như là hậu duệ của Trần Hưng Đạo vì giữa binh thư “ Hổ trướng khu cơ” của Đào Duy Từ, đệ tử của ông và “ Binh thư yếu lược” của Trần Hưng Đạo, bậc tiền bối của ông “có sự lẫn lộn” (xem tr.703). Thời kỳ vua Trần Thái Tông trước tác “Khóa Hư Lục” và vua Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử khai sáng ra Thiền phái Trúc Lâm là một thời kỳ rạng rỡ trong lịch sử phát triển của Phật giáo ở nước ta. “Khóa Hư Lục” cũng như Thiền phái Trúc Lâm  không thể ra đời từ trống không, vậy thời kỳ này đã được chuẩn bị như thế nào ? Tác giả đưa ra giả thiết trước đó phải là “500 năm” (từ thế kỷ VII – thế kỷ XII) phát triển rực rỡ của Phật giáo thiền tông ở Việt Nam” (xem tr.453) và thế là nhân vật Minh Luân đại sư đã được hư cấu như là hiện thân sự khai hoa kết quả của “500 năm” ấy, ngòi bút của tác giả hết sức tinh tế miêu tả nhân vật này “vừa như có lại vừa như không có thật”, “ từ trong cõi giới vô hình Ngài bứơc ra…rồi lại lặng lẽ trở về cõi giới vô hình vô tướng (tr.451). Sử sách có nói đến quốc sư chùa Phù Vân – Yên Tử thời đó, nhưng vị này “ bị mô tả rất mờ nhạt, lai lịch cũng chưa rõ ràng” chưa đủ tầm lãnh sứ mạng này.(xem tr.451,452) Như vậy, đại sư Duy giác cũng như Minh Luân đại sư là những giả thiết để lấp những khâu còn trống trong những quá trinh. Cũng như khoa học, văn học đưa ra những giả thiết, nhưng đây là những “giả thiết bằng hình tượng văn học” (Aragon).


 Tác giả tâm đắc với quan niệm viết tiểu thuyết lịch sử của một tác giả phương Tây rất nổi tiếng chuyên viết kịch bản phim truyện lịch sử: “ Lịch sử bản thân nó đã là cuốn tiểu thuyết trong quá khứ, còn tiểu thuyết lịch sử lại là lịch sử được viết lại theo minh triết và óc tưởng tượng của nhà văn…” (tr.700). Minh triết của tác giả trước hết là tư tưởng tam giáo đồng nguyên . Và cái lý của tư tưởng này đã được trình bày qua sự suy nghĩ của Trần Thủ Độ: “…Các thánh nhân đặt ra học thuyết của mình, xét đến cùng đếu nhằm… sao cho hợp với mệnh trời để thiên hạ thái bình, vũ trụ điều hòa…Mỗi học thuyết đều có cái hay, nét độc đáo riêng. Nếu chỉ tôn thờ một đạo này, xem nhẹ đạo kia thì làm sao có được tâm hồn khoáng đạt, trí giác thông tuệ để hòa nhập vào cõi nhân sinh, tan hòa vào vũ trụ và thay trời hành đạo. Phải để cho các học thuyết tự do đan xen vào nhau, cọ xát và tranh biện trong tâm thức mỗi người…mới có thể gần với chân lý…” (tr.295) Xét đến cùng tư tưởng tam giáo đồng nguyên là một tấm khiên để ngăn cản sự lấn át của chủ nghĩa giáo điều và những tư tưởng độc tôn giáo lý hoặc học thuyết. Những nhân vật cải cách của Vũ Ngọc Tiến đều có tư tưởng chống giáo điều. Trần Thủ Độ: “ Giáo điều ôm lấy một học thuyết độc tôn là biểu hiện sự ngu tối, mê muội sẽ chỉ dẫn người đời đến chỗ hợm mình, kiêu ngạo xa rời chân lý mà thôi.” (tr.296). Đào Duy Từ: “ Đạo học của thần chuộng sự thực hành, ưa lời dân dã, không quen thói hễ mở mồm là thánh phán thế này, Phật dạy thế kia để lấp đi sự nông cạn, che dấu cái tâm bất định , cái tính hiểm độc, cái khí bạc nhược. Ngay cả những chữ thần vừa hiến kế cũng phải tùy thời mà biến đổi, tùy nghi hành sự…” (tr.636). Hay như Khúc Hạo, vừa đề xuất triết lý trị nước theo Nho giáo qua 4 chữ “Khoan- Giản- An- Lạc”, lại vừa tôn trọng và hứng thú triết lý sống theo Lão giáo của đạo sĩ Đào Tú. Tư tưởng tam giáo đồng nguyên là sự chắt lọc tinh hoa của tam giáo: “quảng bác của Nho giáo, vi huyền của Lão giáo, vi diệu của Phật giáo” (tr.500), ba phẩm chất này của trí tuệ con người hoàn toàn có thể thống nhất với nhau. Cũng qua sự chiêm nghiệm của Trần Thủ Độ, tác giả nêu lên mặt gần gũi giữa Nho giáo và Phật giáo: “ Xét trong đạo lý Trung dung cũng có nét giống đạo lý nhà Phật ở chỗ có vô ngã rồi mới có thể vị tha, tinh tấn, mới có thể tự giác – giác tha…”(tr.220). Cũng như mặt cộng hưởng giữa tinh thần của Phật giáo Thiền và triết lý của Lão tử: “ Khóa hư lục bàn về Thiền phái Phật giáo mà sao phảng phất nhiều triết lý của Lão tử về cái bản thể của vũ trụ, của con người. Thủ Độ tự ngẫm và hiểu ra nguyên nhân của mọi sai lầm ông mắc phải, thầm nghĩ: “Có lẽ tất cả chỉ tại ta chưa nghiên cứu kỹ cái bản thể trong những lời bàn của Lão tử chăng? Có lẽ lúc này tuổi già và khí thiêng Yên tử đã giúp ta có cái nhìn riêng về cái bản thể. Nó là cái đại toàn, nó là cái chí nhất đồng thời lại là cái chí đa. Nó là cái chí tĩnh, nhưng đồng thời là là chí động…Cái mặt chí nhất là cái thể của bản thể,còn cái mặt chí đa là cái dụng của nó. Phải chăng vì thế mà Lão Tử gọi thểđạo, dụng là đức? Chí đa chí nhất tương ứng với chí động chí tĩnh.Bản thể biến hóa thành ra vạn vật …,cho nên nó là chí động. Bản thể là cái nòng cốt duy nhất của vạn vật hữu sinh hữu diệt, cho nên nó là bất di, bất dịch, vô thủy vô chung…là hằng thường, vĩnh cửu,trường tồn và vì vậy là chí tĩnh…Vì bản thể vừa là chí nhất – chí đa, vừa là chí động – chí tĩnh, cho nên vũ trụ là toàn thể…ngựợc lại, trong vũ trụ mọi cái đơn lẻ đều là toàn thể, mọi cá thể nhỏ nhoi đều là tiểu vũ trụ. Vậy nên mỗi một cá thể là một khối hài hòa và luôn biến hóa. Một thế thăng bằng nào đó cũng sẽ dẫn đến chuyển sang một thế mất thăng bằng để sau lại lập lại thành thế thăng bằng mới. Có lẽ đây là cái dụng của bản thể Lão tử đưa vào triết lý nhân sinh mà lúc còn trẻ ta chưa lĩnh hội đựơc hết…” (tr.428 – tr.429). Điều mà về già, trong khí thiêng Yên Tử Thủ Độ ngộ ra được là một bằng chứng hùng hồn “Phật giáo, Lão giáo bất phân”. Cơ sở của “tam giáo bất phân” ? Trong cuốn sách “Hy vọng mới về sự thay đổi thế giới” (1951), Bertrand Roussel , nhà khoa học và nhà triết học lừng danh thế kỷ XX nêu lên 3 xung đột căn bản ở con người (không ngừng làm cho nhân loại nhức nhối)”: “ một là đối với thiên nhiên, hai là đối với người xung quanh, ba là đối với chính mình”. Trên đại thể, ba vấn đề này được B.Roussel quy về: “con người thiên nhiên, con người xã hội và con người tâm linh”(xem tr.447). Giải quyết những xung đột cơ bản này như thế nào? Từ thế kỷ XIII, chắt lọc tinh hoa Tam giáo (Nho, Phật, Lão), vua Trần Thái Tông đã phân biệt cái “lý” của mỗi đạo: “Lão giáo bàn sâu về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, Nho giáo bàn sâu về mối quan hệ giữa người và người trong toàn cõi nhân sinh, Phật giáo bàn sâu vể mối quan hệ đa phức trong tâm thức mỗi người” (tr.447). Triết lý của Thiền phái Trúc lâm đã thâu tóm những cái “lý” của tam giáo vào 2 câu:


Vi minh nhân vong phân Tam giáo

Liễu đắc để ngộ nhất tâm

Đặt chữ tâm lên trên mọi cái “lý”, phải chăng có thể hiểu là nhà vua coi trọng việc hoàn thiện “mối quan hệ phức tạp nhưng rất huyền diệu” ở ngay chính trong tâm thức mỗi người? Phải chăng cũng có thể hiểu đây là khâu quyết định để giải quyết 3 xung đột căn bản mà Bertrand Roussel nêu lên? Phải chăng tác giả có lý khi trong tác phẩm luôn đề cao chữ “Xỉ” (biết tự xấu hổ) trong phép trị nước? Vua không có chữ “Xỉ” thì quan hèn, dân khổ và ngược lại dân khổ đến mức không biết tự xấu hổ (toàn AQ, Chí Phèo) thì trật tự sẽ rối như canh hẹ, họa diệt vong của vương triều khó tránh!… Tư tưởng của Thiền phái Trúc lâm có lẽ là nguồn cảm hứng chủ đạo của tác giả “Ba nhà cải cách”. Qua lời của Trần Nhân Tông, tác giả đã tóm lược tư tưởng này như sau: “ Đạo Phật Thiền phái Trúc Lâm của ta quan niệm vô ngã rồi phải tự giác – giác tha, đem đạo vào đời để hóa cải thiên hạ đau phải vì công danh…”(tr.502). Ý niệm tư giác – giác tha là một ý niệm then chốt của tư tưởng này. Với ý niệm này, tự giác không có “mục đích tự nó”,tự giác là để giác tha, là để vào đời (nhập thế) cứu đời, cải hóa thiên hạ. Hơn nữa, chính trong việc giác ngộ người khác (giác tha), chính trong việc cứu đời, quá trình tự giác được tiếp tục, sâu sắc hơn, mạnh mẽ hơn. “Tự giác – giác tha” bao hàm sự chuyển “đạo làm người” thành “đạo trị nước”. Qua lời của Minh Luân đại sư nội dung của ý niệm này đã được triển khai như sau: “…Phật giáo của bần tăng hướng theo Thiền phái nên quan niệm rằng kẻ tu hành không thể chỉ tu cho riêng mình mà có lúc phải hòa vào cõi nhân sinh đê mà tự giác – giác tha. Kẻ tu hành có hạnh vô ngã, hạnh tinh tấn chưa đủ mà phải đem những hạnh ấy giáo dục cho chúng sinh đang còn có nhiều người chìm đắm u mê trong sắc dục và lòng tham. Mặt khác, bần tăng cũng là con dân của nứơc Đại Việt nên tự thấy phải đem những đức hạnh nhà Phật ra giúp đời, giúp nước theo cách riêng của kẻ tu hành…” (tr.367). Ý niệm “tự giác – giác tha “ gần với ý tưởng “tu – tề - trị -- bình ” của Nho giáo. Cũng như tự giác, tu thân không phải là mục đích tự thân, tu thân là để “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, hơn nữa chỉ làm công việc “ tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” mới thực sự “tu thân”.

Nghĩa là:


Chưa sáng tỏ người ta lầm phân biệt ba giáo khác nhau

Hiểu thấu triệt thì cùng giác ngộ : chỉ có một Tâm


 Trong bộ ba tiểu thuyết lịch sử “ Ba nhà cải cách”, Vũ Ngọc Tiến “Kể” truyện lịch sử, “Kể” truyện những nhân vật lịch sử. Truyện không thiếu những sự việc gây cấn, những tình thế quyết liệt, những biến cố dữ dội…nhưng vì có ý thức “Viết” nội dung nên giọng kể của tác giả trước sau vẫn điềm tĩnh, thanh thản, thời gian dòng đời cũng như dòng lịch sử giống như dòng sông trôi “chầm chậm”, “kim cổ khôn cùng”. Theo dõi số phận những nhân vật trong truyện có người xấu số, có người gặp may, có anh hùng hiển vinh, có “anh hùng ôm hận”, nhưng không gian cứ như muôn thuở, lá và lá “lao xao, tả tơi rơi rụng trong vũ trụ khôn cùng”. Hao hao giống không – thời gian được tạo ra trong câu thơ tuyệt bút của Nguyễn Trãi:


 “Kim cổ vô cùng giang mạc mạc


 Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.”


 (xem tr.485)


 Dòng đời và dòng lịch sử đan lồng vào hơn 700 trang sách “Ba nhà cải cách” đã tạo ra hấp lực riêng, lôi cuốn người đọc cùng tác giả đi tìm những bài học lịch sử sau lớp bụi thời gian xa ngái và giữa bộn bề cuộc sống hôm nay.



 Vũ Ngọc Tiến. Ba nhà cải cách Bộ ba tiểu thuyết lịch sử.


  • Cúc bồ tụ Nghĩa (Khúc Hạo)
  • Khói mây Yên tử (Trần Thủ Độ)
  • Quân sư Đào Duy Từ



Nhà xuất bản Văn Nghệ SG - 2007) 


 Số trang trong cuốn sách được dẫn ở trên.

 

HNH

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address