DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,096,190

Nghĩ muộn - Nguyễn Khải

Sunday, March 18, 201212:00 AM(View: 12448)
Nghĩ muộn - Nguyễn Khải

Nghĩ muộn




blank



Sau khi viết xong cuốn tiểu thuyết sau cùng “Thượng Đế thì cười” tức là đã trút được hầu hết tâm sự của một người cầm bút trong nửa thế kỷ, tôi đã nghĩ sẽ không viết thêm một dòng nào nữa, việc lớn của tôi đã hoàn tất, hay dở cũng chỉ có vậy, vì tôi vốn cũng chỉ có vậy. Nào ngờ khoảng đầu tháng 5 năm 2005, chị Tuyết Nga, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học, tác giả cuốn sách “Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải” yêu cầu tôi trả lời 12 câu hỏi để chị bổ sung vào nguồn tư liệu riêng. Có thể từ đó chị dựng lại chân dung nghệ thuật của tôi thêm một lần nữa chăng?

Các câu hỏi được đặt ra theo cái trật tự riêng của chị. Ví dụ câu mở đầu chị muốn biết cảm nhận của tôi giữa sự tiến bộ của khoa học và năng lực đạo đức của con người, tiếp đến là những câu hỏi khác, “…chính chúng ta đã làm thay đổi hoàn cảnh tới mức để tồn tại chúng ta phải thay đổi chính mình”, “con người ta giống nhau bởi sự chẳng giống ai, vậy thói phủ định, ý muốn bài xích hoặc đồng hóa người khác xuất phát từ đâu”, “đã bao giờ anh có cảm giác về bản thân đại loại như một viên đạn trượt qua đích hay sống quá thời, thậm chí chưa đến thời của mình”.

Tôi xem những câu hỏi như là những gợi ý có khả năng mở ra nhiều chiều để tôi có thể bày tỏ ý kiến và nỗi niềm của mình, tức là nói rộng ra nhiều chuyện không có trong nội dung câu hỏi. Nghĩ tới đâu viết tới đó, nghĩ gì viết nấy theo cái mạch tự nhiên của người đang vừa nghĩ vừa phân vân tôi để nguyên cả, không xén gọt tô điểm thêm gì để cái nghĩ của mình còn giữ được một chút cái tươi, cái mới lúc ban đầu, khỏi bị xơ cứng trong cái chính xác giả tạo, gò bó. Thành thử lúc đọc lại những trang đã viết thấy như có hai người trò chuyện độc lập, chẳng ăn nhập gì với nhau nhưng vẫn có một mối liên hệ rất gần gũi, đó là vì cả hai đang làm những công việc gần nhau và cùng sống trong một môi trường chính trị, xã hội nhiều chục năm, cùng hi vọng những gì mình mong muốn trước sau gì cũng tới. Cách bố cục bài viết cũng lộn xộn, gần như gặp đâu nói đó, nói rồi còn nhắc lại, có ý tưởng nhắc lại đến vài lần như người đã quá già nên lẫn. Chỉ nên xem nó như một bài tùy bút dài, tùy bút chính trị của một người viết văn, tức là chính trị không chuyên, chính trị chủ quan theo cảm nhận cá nhân mà bộc bạch. Bởi vậy tính chính xác không cao, có thể đúng, có thể sai, mong bạn đọc cao minh thông cảm mà lượng thứ cho.


II


Trong những tham vọng của con người thì tham vọng quyền lực là tệ hại nhất, nguy hiểm nhất. Nhân loại đã từng chết đi sống lại nhiều lần chỉ vì cái tham vọng có sức phá hoại ghê gớm ấy. Bất cứ cái gì một khi đã bị quyền lực chạm tới đều lập tức biến chất thành hư hỏng, ruỗng nát. Khoa học, văn chương, tôn giáo, học thuyết là những kết tinh rực rỡ nhất của trí tuệ con người, nhưng do ăn chung ở đụng lâu dài với quyền lực nên dần dần trở thành tôi tớ cho quyền lực, bị đem ra phục vụ cho những mục tiêu xấu xa nhất, củng cố quyền lực của một tập đoàn, một quốc gia này để thống trị các tập đoàn khá, quốc gia khác.

Các nhà vật lý vĩ đại cũng là những người có tấm lòng bác ái mênh mông của thế kỷ XX như Albert Einstein, Robert Oppeinheimer làm sao biết được một ngày họ sẽ là đồng phạm vô thức của vụ tàn sát tập thể ở Hiroshima và Nagasaki. Phản đối thì cũng đã muộn, kêu gọi không nên dùng vũ khí giết người hàng loạt có ai nghe. Đớn đau là thế nhưng các nhà khoa học lại không thể tách khỏi các cơ quan quyền lực. Chỉ có Nhà nước mới đủ tiền và phương tiện để các nhà khoa học đưa vào thực tế những phát minh có ý nghĩa bước ngoặt. Bây giờ người ta còn đem vũ khí hạt nhân ra mặc cả với nhau chuyện nọ chuyện kia như một vụ buôn bán trên thương trường. Sinh mạng của hàng triệu con người quả thật đã chẳng còn ý nghĩa gì trong sự tính toán của những người nắm giữ quyền lực.


III


Theo tôi nghĩ, những thay đổi có ý nghĩa sống còn, thuận với dòng chảy của lịch sử, thuận với lòng người đều để lại những dấu vết không phai mờ trong tính cách một dân tộc và nếp sống của mỗi cá nhân. Như cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến vừa qua, cuộc chiến diễn ra ở mọi miền từ Bắc chí Nam trong suốt mấy chục năm, không tự nguyện, không thuận lòng người làm sao gánh vác nổi những công việc dời non lấp biển ấy. Các cuộc Cách mạng xã hội mang tầm vóc nhỏ hơn, do lý thuyết Cách mạng bảo phải làm nên làm, không phải là nhà Cách mạng chứ chưa hẳn đã do những thúc bách tự nhiên bắt buộc phải làm. Việc nên làm mà làm gượng, ngày làm nhưng đêm nằm vẫn trằn trọc phân vân, chủ trương như thế đúng hay sai, cách làm như thế đúng hay sai. Tôi là người viết báo, chính những đối tượng mà tôi tìm hiểu để viết bài cũng băn khoăn như thế, cũng có người nói thẳng việc này việc kia đã làm mất lòng người. Nhưng tôi đâu dám viết, nói cũng không dám, thành ra nói dối, viết dối và sống cũng dối. Căn bệnh nói dối bắt đầu từ lý thuyết Cách mạng dần dần tách khỏi thực tiễn Cách mạng, nhưng chỉ có một lựa chọn, hãy bênh vực đến cùng sự đúng đắn của lý thuyết đã trở thành bảo bối hộ thân của người cầm quyền. Thực tiễn rồi sẽ có ngày phủ nhận nó, nhưng đó sẽ là chuyện về sau, cả mọi người đều phải chịu trách nhiệm, một tập thể vô danh, không có tên, tức là tất cả đều vô tội. Cái tật nói dối từ trên xuống dưới sẽ để lại dấu vết xấu xa của nó lên nhiều thế hệ và là trở ngại khó vượt qua nhất của nhiều việc lớn từ ngày đó trở đi.

Tình trạng thiếu dân chủ trong hệ thống chính trị kéo dài mấy chục năm đã biến hầu hết mọi người thành những kẻ nói dối, người nói dối lớn, kẻ nói dối vặt. Các cấp lãnh đạo của Đảng cầm quyền vì thế trở thành một hệ thống quan liêu, mất hẳn sự tỉnh táo, nhạy bén của các nhà chính trị trước những nhân tố tích cực cần được khuyến khích và nhân rộng vừa xuất hiện trong đời sống.


Khi bàn về dân chủ, chúng ta thường lo lắng thái quá tới nhiều sự phiền phức buộc mình phải đối mặt với những nguy hiểm có thể xảy ra và hậu quả khôn lường. Bằng chứng là sự sụp đổ trong khoảnh khắc của Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu đều được bắt đầu từ những cải cách dân chủ.Theo tôi, nếu truy tìm đến nguồn gốc thì đó lại do sự thiếu dân chủ, thiếu tự do của những thể chế chính trị này trong nhiều thập kỷ. Đó là những xã hội khép kín, chối bỏ mọi thành tựu của nền văn minh nhân loại, bắt tay làm lần đầu nhiều công trình khổng lồ nhưng chỉ tin cậy vào sự dẫn dắt của một học thuyết, lại là thứ học thuyết đã bị biến dạng bởi những tính toán riêng của người cầm quyền và được kết luận một cách tùy tiện tại các kỳ Đại hội vừa thiếu dân chủ vừa lạc quan vô căn cứ. Ở đó tất cả mọi người tha hồ tâng bốc lẫn nhau, hoan hô lẫn nhau nhưng cái chân móng của niềm tin qua mỗi 5 năm càng nứt rộng thêm mãi, qua mỗi 5 năm những tiếng nói dũng cảm, chân thật một thưa dần.

Người đã dám nói thì không còn tồn tại nữa, người còn tồn tại một cách bấp bênh thì phải hết sức giữ gìn. Ông Khơrútsốp đã từng thú nhận tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 20, các ủy viên Bộ chính trị lúc vào họp với Stalin là ủy viên hợp pháp, lúc ra họp có khi đã thành tội nhân rồi. Trong những năm tháng ngột ngạt ấy, toàn bộ trí tuệ của dân tộc Nga vĩ đại chỉ được biểu lộ gần như trọn vẹn ở một lĩnh vực duy nhất, đó là khoa học quân sự, là công nghệ Quốc phòng, có thể đối đầu ngang ngửa với Mỹ. Ở lĩnh vực này người ta buộc phải nói thật, nghe thật để có những quyết định thật chuẩn xác, nhưng sự sụp đổ một hệ thống chính trị đã lỗi thời không nhất thiết là định mệnh. Trung Quốc cũng có cải cách, đổi mới trên một nền tảng còn tuyệt vọng hơn nhiều, lại là một đất nước có hơn một tỷ dân nhưng đã cải tử hồi sinh một thực thể khổng lồ đang hấp hối, khiến cả thế giới phải sững sờ như được chứng kiến một phép lạ.

Công trình sư của cuộc “Cách mạng thứ hai” này là một nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Đặng Tiểu Bình. Đó là một chính khách lão luyện, luôn phải đối mặt với những tình thế hiểm nghèo ở chiến trường cũng như trên chính trường và đều có cách thoát rất tài tình, lúc tĩnh lúc động, ẩn hiện khôn lường. Khi ông được ra làm việc lại nhìn vào đâu cũng hoang tàn, đổ nát, đống rác đáng buồn của những mục tiêu hoang tưởng. Khó là thế, gian nan là thế mà lão tiên sinh họ Đặng cứ thản nhiên như không, nhìn dần, trời xanh lại xuất hiện, lòng người nhẹ nhõm hẳn với bao nhiêu hi vọng, bao nhiêu niềm vui. Nghệ thuật lãnh đạo có vẻ nhàn nhã của ông Đặng hình như chẳng theo một học thuyết chính trị nào cả, đơn giản chỉ là đưa mọi việc, mọi người trở về vị trí phải có của nó, chỉ cần nói thật chứ không cần nói nhiều, làm thật chứ không làm để tuyên truyền, bỏ những cái nên bỏ, giữ những cái phải giữ và làm những việc thuận lòng người, thuận thời thế. Bao nhiêu lời nói viển vông, dối trá tự nhiên biến mất, cả mọi người lại được nói thật, sống thật.

Tuy nhiên có hai việc khiến tôi là người vốn ngưỡng mộ ông rất lấy làm tiếc, vừa tiếc vừa buồn. Việc thứ nhất là ông đã dùng quyền lực và uy tín của mình ra đòn với đám con cháu một trận cũng kinh hoàng vì chúng đã tỏ ra quá ngạo ngược, quá cấp tiến. Việc thứ hai là ông đã dùng chiến tranh, dẫu là nhỏ nhưng không đáng có để dạy người bạn chấy rận một bài học vì họ đã dám có thái độ bất tuân. Với tôi là người hay nghĩ ngợi nông sâu, tôi liền nghĩ ngay tới cái khẩu hiệu biểu trưng của Cách mạng vô sản: “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!” Người vô sản khi chưa cầm quyền thì nghĩ tới giai cấp vô sản toàn thế giới, nhưng khi đã có quyền, đã là ông chủ một quốc gia thì lợi ích của đất nước mình, của dân tộc mình vẫn là trên hết! Những mâu thuẫn Xô-Trung khởi đầu từ những năm 60 của thế kỷ 20, có thể còn trước nữa là bắt đầu từ đó chứ đâu phải chuyện tranh luận về học thuyết! Vậy cái khẩu hiệu có sức kêu gọi kia là thật hay hư kể ra cũng khó mà trả lời cho minh bạch. Đó mới là chuyện buồn, buồn không thể tả.

Nói qua thế thôi chứ tôi vẫn tin một nước Nga không nói dối, một nước Trung Hoa không nói dối, mô hình xã hội XHCN với những đặc thù riêng của mỗi nước, với những hiểu biết mới về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn của thể kỷ XXI chắc chắn sẽ được hai dân tộc vĩ đại này cứu thoát.


 IV


Một quốc gia gồm nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo, nhiều nghề nghiệp nhưng chỉ được nghĩ và làm theo một hệ tư tưởng chính thống tức là đã triệt tiêu mọi ý kiến độc lập, bịt kín mọi hướng tìm kiếm. Thế giới chỉ có một chân lý thì còn bàn bạc làm gì, tranh luận làm gì. Năm 1932, Trofim Lyssenko không có một bằng chứng thực nghiệm nào đã tuyên bố một câu xanh rờn rằng các GEN không hề tồn tại lại được Stalin ủng hộ nên mọi ý kiến phản bác đều bị vùi dập đã làm chậm sự tiến bộ về sinh học và di truyền học của Liên Xô hàng mấy chục năm. Mác đã nói về tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân, thế là lập tức loại bỏ tôn giáo ra khỏi văn hóa, xem nó như nguồn gốc của mọi mê tín dị đoan, là ung nhọt, là vật thừa, phải sống chung là vạn bất đắc dĩ.

Chính từ nhận định nông nổi này đã sinh ra bao nhiêu chuyện hết sức đáng buồn giữa tôn giáo và nhà nước trong suốt mấy thập kỷ người Cộng sản cầm quyền. Ngay trong học thuật, trong văn chương, lĩnh vực mà quyền tự do lựa chọn của cá nhân có ý nghĩa quan trọng nhất cũng chỉ có một tiếng nói. Bằng công việc sáng tạo hàng ngày của mình, từ lâu tôi đã nhận ra phương pháp hiện thực XHCN là quá chật hẹp, cuộc sống sâu rộng hơn nhiều, thế giới tinh thần của con người phức tạp hơn nhiều, còn cách nhận thức và phản ánh hiện thực của người nghệ sĩ có thể nói là mênh mông, vô bờ bến. Roger Garaudy, một nhà lý luận văn học của Pháp cũng đã từng nói thế và ngay lập tức ông ta bị giới lý luận Mácxít phê phán, đối xử như một tên phản bội. Bởi vậy tôi cũng chỉ viết theo cách cảm nghĩ của mình chứ không hề mở miệng. Nếu ham nói, ham tranh luận thì tôi đã bị treo bút từ lâu. Tình hình sáng tác mới thật tồi tệ. Nhiều cuốn sách, truyện ngắn, tùy bút, bài báo, tiểu luận văn học hoặc một vài bài thơ đột nhiên bị lên án, thường bắt đầu từ sự không bằng lòng của một vài người. Lý lẽ để lên án thì buồn cười lắm, khiến tác giả và bạn đọc đều phải sững sờ vì chưa bao giờ họ lại nghĩ được sâu xa đến thế, hóc hiểm đến thế.

Chả lẽ văn chương lại có thể mang chứa nhiều ẩn dụ đến vậy sao? Người ngay trở thành người gian, người thật thà trở thành kẻ giảo quyệt đã được bắt đầu từ những bài tập vỡ lòng ấy cả, Chân lý chỉ ở trong tay một người nên những người đã dành một đời cho công việc họ yêu thích, đã thành hồn cốt của họ, máu thịt của họ, không ai biết rõ công việc ấy bằng chính họ mà cũng không dám lên tiếng nói lại. Nói theo thì được, nói lại thì không thể, cho nên cái phần tinh hoa của họ đành phải chịu gói lại, giấu kín và sẽ có ngày phải chôn đi cùng với những người đã nghĩ ra nó.

Nhìn lại những công trình còn để lại với bạn đọc hôm nay và mai sau của hai học giả hàng đầu của nước ta là Trần Đức Thảo và Đào Duy Anh, tôi là kẻ hậu sinh vừa đau lòng vừa xấu hổ. Phần quan trọng trong sự nghiệp của họ lại được bắt đầu và kết thúc, với người này khi còn là khách trọ của nước Pháp, với người kia khi chỉ là một nhà nghiên cứu tư nhân thời Pháp đô hộ. Trong mấy chục năm họ được sống chính tại nước mình, lại là một đất nước đã có độc lập và tự do mà chả làm được việc nào cho xứng với cái tài của mình, cái chí của mình, lại còn bị vướng mắc trong nhiều chuyện bực mình, ai oán không biết kêu ai, tranh luận với ai. Sách đọc đã thiếu, đến bữa ăn hàng ngày cũng không đầy đủ nói gì những chuyện cao xa khác.Với nước ta cũng chỉ thế, còn với hai ông anh Liên Xô, Trung Quốc là những trụ chống của cả hai phe thì những vụ bắt bớ những người dám nghĩ khác, viết khác còn rùng rợn hơn nhiều. Một nước là các trại cải tạo tập trung còn một nước là cuộc Cách mạng văn hóa, kho tàng trí tuệ nhân loại đã chịu mất mát biết bao nhiêu vì sự vắng mặt của những con người lỗi lạc từ hai vùng văn hóa lớn ấy.

những quốc gia chỉ có một hệ tư tưởng chính thống được xem là hợp pháp thì chuyện tư tưởng, chính trị hóa ra hệ trọng hơn bản thân nó nhiều. Sáng ngày tối đêm đều bàn chuyện chính trị tư tưởng, ai theo tư bản, ai theo vô sản, thật ra chả có ý nghĩa gì đối với một đời người. Đời người có bao nhiêu lựa chọn hay hơn nhiều, có ý nghĩa tích cực hơn nhiều. Nó sở dĩ quan trọng vì nó có quyền phép tha người hoặc bắt người chỉ bằng một lời nói, lỡ miệng mà nói, vô tình mà nói, vì người nói đâu có xem nó là quan trọng. Nói chuyện với bạn bè cũng phải cân nhắc, phòng bị. Một xã hội tốt đẹp là không ai phải bận tâm quá nhiều tới chính trị cả. Chính trị đã trở thành một nhu cầu tự nhiên, vẫn dùng mà không biết, vẫn dựa cậy mà không hay, chỉ thấy mọi sự đều trôi chảy, đều diễn ra rất hợp lý từ thuở mình chưa sinh ra nó vẫn như thế rồi. Nó phải tự nhiên tới mức người dân cũng không rõ lắm mình đang sống ở thể chế nào. Pháp luật cũng thành ràng buộc tự nhiên, sống ở đời phải biết xử sự như thế, làm khác đi sẽ bị chê cười, bị khinh rẻ. Không ai đem chính trị ra mà hù dọa nhau. Đến các nước được sống thanh bình trong nhiều thế kỷ ta hay chê dân ở đó rất “vô chính trị”, kỳ thật họ là những công dân hạnh phúc nhất. Chính trị nhiều quá hóa loạn tâm mà cũng chẳng sinh thêm bất cứ cái gì. Lão tử bảo, không làm gì mà hóa ra không việc gì không làm, là theo cái nghĩa ấy. Làm mà không tự biết là làm, gánh nặng mà không nghĩ là mình đang gánh nặng thì cái nặng tự nguyện ấy hóa thành cái nhẹ nhàng vì được cùng gánh với mọi người.



blank



Cũng là chuyện sống chết tức thời, trong hai cuộc kháng chiến cả nước bàn chuyện chính trị mà vẫn thấy hào hứng lạ lùng, ấm áp lạ lùng, vì rừng đã cháy thì tổ chim khó còn, nước mất thì nhà tan. Ba chục năm sau ngồi xem lại phim tư liệu của một thời cứ rợn cả người. Tại sao nhân dân mình lại sống được, lại đánh thắng được với bao hiểm nguy, gian khổ đến nhường ấy, mà thời gian lại kéo quá dài, một phần ba thế kỷ là ngắn sao? Ấy là vì mỗi người Việt Nam đều nguyện được sống như thế, bình đẳng trong gian khổ với mọi người, được hy sinh như mọi người, bạn chết mình sống, bạn khổ mình sướng làm sao dám nhìn mặt nhau một khi đã toàn thắng.




V



Ở một nước độc quyền về tư tưởng thì nhân tài không có đất dụng võ. Nhân tài trước hết là người thích suy nghĩ độc lập, quyết đoán độc lập và dám chịu trách nhiệm về những gì mình đã làm. Mười người là mười cái đầu khác nhau, khi họ cùng ngồi bàn bạc là có mười sự trải nghiệm cá nhân, mười cách lý giải, mười cách làm, người này bổ sung cho người kia làm sao mà lầm được. Tôi tin thời kháng chiến, ở cơ quan chỉ huy chiến lược cũng như cơ quan chiến dịch, cơ quan bàn việc tác chiến đều tập hợp được những cái đầu khác nhau ấy cả, mỗi người là một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực mình đảm nhiệm. Không thế làm sao mà đánh thắng một siêu cường gồm những cái đầu tính toán chính xác và linh hoạt như những cỗ máy. Một Đảng, một quốc gia có những cái đầu độc lập như thế kẻ nào dám làm chuyện phản nghịch. Chính là sự khác nhau, sự tự do tư tưởng của công dân, những cái có thể sinh ra bao nhiêu chuyện phiền phức lại là nền móng, là rường cột để giữ vững một thể chế, giữ vững một truyền thống, những thành quả mà cả dân tộc đã đạt được trong nhiều thập kỷ tận tụy làm việc, sàng lọc, nuôi dưỡng để trở thành một gương mặt riêng, một phong cách riêng không có gì có thể xoá bỏ nổi.


Trong công cuộc cải tạo xã hội, cải tạo con người phải được bắt đầu từ cội nguồn, từ gốc gác nếu muốn những thay đổi ấy sẽ tồn tại mãi mãi trong lịch sử, trở thành máu thịt, hồn vía của người Việt Nam. Vì ta đánh giặc ngoại xâm giỏi nên dễ nghĩ nhầm là do những gì ta vừa mới làm, vừa mới chuẩn bị. Thật ra ý chí kiên cường của dân tộc Việt Nam đã được bắt nguồn từ nhiều trăm năm, từ cả ngàn năm trong quá khứ, lúc bình lúc chiến, mỗi thế hệ bồi đắp những lo lắng của mình, những khôn ngoan của mình và những tính toán dũng cảm để gìn giữ nền độc lập tự chủ của đất nước. Chỉ riêng chuyện phải làm hàng xóm một nước quá lớn mà vẫn là Việt Nam đủ biết từ xưa tới giờ nước ta phải có nhiều nhân tài vô song, những bậc anh kiệt về chính trị, quân sự, ngoại giao, duy nhân tài trị nước thì xoàng, thiếu hẳn những gương mặt lớn. Cứ sang chuyện quản lý xã hội là bối rối, tự đẩy mình vào những tình thế khó khăn, tự mình làm mình hao mòn đi, suy yếu đi khiến dân chưa kịp vui đã phải buồn rồi. Ấy là vì đánh giặc thì người Việt Nam với trí tuệ Việt Nam, trị nước lại theo kinh sách của Tầu, lấy cụ Khổng cụ Mạnh làm người chỉ bảo tối thượng nên mới không phát huy được hết sức mạnh một mình một cõi của riêng mình. Bây giờ cũng thế, tất nhiên bước đi đã nhanh hơn xưa nhiều, tỉnh táo hơn xưa nhiều. Vì chúng ta ra khỏi cuộc chiến ba chục năm cũng phải có thời gian để nghỉ ngơi một tí, để đưa mắt ngắm nhìn thời thế đã chuyển đổi ra sao sau năm 1975, ta nên đi theo hướng nào, lối nào để khỏi bị tụt hậu, bị lệ thuộc. Đúng vào thời điểm quan trọng này ta đã để tuột mất một cơ hội rất đáng tiếc: thâu nạp nhân tài để phục hưng dân tộc. Năm 1975, nhân tài thuộc nhiều ngành khoa học còn lại ở miền Nam rất nhiều để chờ được Cách mạng sử dụng. Không được giúp công giúp của từ ngày đầu thì nay sẽ một lòng một dạ với sự nghiệp mới. Chiến thắng năm 1975 quả là một kinh ngạc không chỉ với người ngoài cuộc mà ngay cả với người trong cuộc nên những dị biệt về chính kiến, về cách quản lý quốc gia, về cả cách sống nữa không còn là vật cản như xưa kia. Người ta tình nguyện tán thưởng anh, tuyên dương anh dầu anh còn nhiều thói tật, nhưng không sao, đã dám hy sinh cho kháng chiến những ba chục năm, gần hết một đời người thì họ đâu phải là người tầm thường, đi theo họ vừa là nghĩa vụ vừa là niềm vui.

Ấy thế nhưng những nhà Cách mạng theo chủ nghĩa Mác lại chia họ ra theo học thuyết thành nhiều giai tầng, mỗi giai tầng lại chia nhỏ ra nữa với nhiều nghi vấn, xét nét, đánh giá, cuối cùng từng người cũng bị chia ra để đấu tranh lẫn nhau như các sư “đi kiết hạ”, như các linh mục vào “cấm phòng”. Thế là nhiều tính xấu của con người lại có cơ hội tốt để khuấy đục: ghen tài, sợ mất chức vụ, quyền lợi nên phải nói xấu người, vu khống người và che đậy những sự nhơ nhuốc ấy bằng những cụm từ vô nghĩa, nào là lập trường, quan điểm giai cấp, nào là chuyên chính vô sản, là đủ thú lý luận hầm bà lằng để gạt bỏ những đối thủ dám cạnh tranh với mình. Những việc xấu nhất, đáng tiếc nhất đã liên tiếp xảy ra. Kẻ sĩ không được dùng đành phải ngồi im nhìn sự phá phách nhiều cơ chế hợp lý của xã hội đã thành quy chuẩn, đã thành văn minh văn hóa thì đau quá. Ngồi mà than tiếc chỉ thêm bực mình nên họ đành kéo nhau ra đi, đất nước độc lập lại trở thành kẻ lưu vong. Ai muốn thế, ai ngờ thế! Chúng ta phải nhớ kỹ điều này, không được quên với những người làm việc thuộc lĩnh vực trí tuệ thì tổ quốc, dân tộc và tài năng cá nhân được xếp ngang nhau, nặng nhẹ như nhau. Miền đất nào, nhà cầm quyền nào, thiết kế xã hội nào đảm bảo cho tài năng của họ được phát triển hết mức thì nơi đó là tổ quốc của họ. Henry Kissinger sinh ở Đức, sống thời niên thiếu ở Đức rồi mới qua Mỹ, là công dân Mỹ mới một đời nhưng lại được giao một công việc cực kỳ quan trọng là cố vấn an ninh một siêu cường. Từ nay nước Mỹ là tổ quốc chính thức của ông, của con cháu ông vì nước Mỹ đã cho phép ông được tung hoành phỉ chí mọi mơ ước của mình. Những nhân vật xuất thân từ nhiều quốc gia, dân tộc đến nước Mỹ để có dịp thi thố tài năng thì nhiều lắm. Nước Mỹ vừa là một quốc gia gieo rắc nhiều tội ác thật kinh hoàng mà cũng là xứ sở của tự do, cái sự trái ngược ấy là chuyện hoàn toàn có thật, chứ không phải là chuyện bịa.



NK



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, September 17, 20196:43 AM(View: 47)
Cậu hỏi giùm coi họ có muốn lấy con gái Việt Nam không?
Wednesday, September 11, 20198:56 PM(View: 74)
Thẻ Nhà Báo có chữ ký của ông Nguyễn Bắc Son
Wednesday, September 4, 201912:04 PM(View: 89)
Trước hết cần khẳng định một điều: hiện nay không có sự “phân ly” nào
Wednesday, August 28, 20198:24 AM(View: 1446)
Tội lớn nhất của HNV/VN là đánh tráo
Monday, August 19, 20197:31 AM(View: 206)
Và những người di cư cũng đã từng bị gọi là “Xóm Bắc Kỳ, dân Bắc Kỳ