DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,848,380

Một Lần Da Đến Thịt - Hồ Minh Dũng

20 Tháng Ba 201212:00 SA(Xem: 5496)
Một Lần Da Đến Thịt - Hồ Minh Dũng

Một Lần Da Đến Thịt


1.

Nguyễn Thị Ngọc vào Saigòn được một năm thì người anh
ruột đem mẹ vào. Anh nói với em:

"Chim còn biết chọn nơi ấm để bay tới. Mùa đông sắp
đến rồi, anh đem mẹ vào đây trốn rét, luôn tiện thăm em
một chuyến."

Ngọc nhìn mẹ một hồi lâu, rồi nói với anh:

"Nếu anh đem theo một cháu nào đó vào giúp công việc cho
riêng người già thì em bớt lo, em suốt ngày ở công sở,
sợ không lo hết chữ hiếu. Săn sóc một người già khó
bằng ba trẻ nít."

Người anh biết em không bằng lòng, nói:

"Các cháu đi học cả. Hay là em cho mẹ ở hết mùa đông,
đến đầu mùa hạ, anh vào mang mẹ rạ"

Sau đó Ngọc hỏi thăm sức khỏe bà con làng nước, công ăn
việc làm của anh em nội ngoại. Hỏi một cách ngắn gọn như
không hỏi sẽ bị trách vô tình. Người anh từ nhỏ đến
nay, chưa xa mẹ lần nào, nay thấy mẹ bối rối nơi xa lạ, hai
mắt già yếu của mẹ cứ nhìn về phía anh, làm cho anh não
lòng lắm. Mùa rét năm rồi, trong làng có đến mấy
người tuổi già bằng mẹ không qua nổi. Để cho mẹ chết, anh
mới nghĩ đến thôi, cũng là điều không nên. Cơm gạo khó
kiếm làm cho chết đói thê thảm, chết rét càng thê thảm
hơn, nơi ấm áp có thể kiếm được.

Ngọc năm nay cũng đã ngót nghét bốn mươị. Cả một thời
xuân trẻ chị dâng hết cho đảng. Khi phục viên trở về quê
thì tóc trên đầu đã có sợi bạc. Người nghe chị phát
biểu đầu tiên khi về chính là người anh ruột nầy:

"Đội nữ san bằng hố bom dọc đường Trường Sơn của em
có mười hai đứa. Khi thống nhất đất nước, hết bảy
đứa nằm lại dọc đường, ba đứa vô nhà thương, chỉ có
hai đứa được về nhà nguyên vẹn. Thấy được mẹ, anh
chị và các em như thấy trong giấc chiêm bao."

Chị dâu nói:

"Cô nên kiếm chồng. Muộn còn hơn không."

Người em gái lấy chồng làng bên bồng con về thăm, nói:

"Anh Lân vẫn còn ở không, chị nên nối lại tình cũ."

Trong bà con có người đốc vô:

"Phải, thằng Lân, tuy bị thương nơi chân đi đứng không
thường nhưng lòng nó tốt. Hiện làm chủ một vườn đào
cũng có đồng vô đồng ra."

Người anh nói thêm:

"Nếu em muốn, mai mốt, anh đem em đến đó thăm cho biết,
đào vườn anh ấy năm nào cũng nở rộ. Đến tết là
thuê xe trâu, xe bò chở lên Hà Nộị. Còn phải xem tình ý
người ta như thế nào. Ngày xưa yêu nhau không phải là ngày nay
cũng thế. Năm tháng có thể thay đổi lòng người."

Bao nhiêu năm lăn lộn nơi chốn rừng sâu nước độc,
chung quanh chỉ nghe tiếng chim muông, thú rừng và gió thổi qua
ngàn cây, Ngọc cũng cần tình người, nhất là cái tình
chồng vợ như bao nhiêu người sinh ra trên đời nầy, nên
cũng thử tìm cho mình một thứ gì khác hơn ngoài những
điều nhàm chán đã làm hơn mười lăm năm qua. Không lâu sau,
chị chỉ đi một mình đến nhà Lân. Gặp nhau họ liền đả
động đến tình xưa. Anh Lân:

"Cám ơn em còn nhớ đến anh, đến thăm. Dân gian có câu
tình có sâu nghĩa mới nặng. Em đến như thế nầy là quý.
Hồi em đi, lúc đầu anh có mấy thư, không thấy hồi âm,
lại thôi. Anh cũng xông pha nơi tiền tuyến, cống hiến cho
sự nghiệp một phần thân thể. Nay bịt được cái chân
nhôm đi đứng cũng tạm được. Thế em về có dự tính gì
chưả?"

Ngọc nhìn người tình cũ:

"Chưa. Dự tính cho một tương lai, có thể là một mình em
dự tính không hoàn thiện. Thời cuộc và thời gian làm cho
con người ngày càng thụ động. Em bị dồn vào ở trong
trạng thái ấy từ bao giờ. Còn anh, sao lâu thế, không rỏ."

Lân cười:

"Anh cũng rơi vào thế thụ động. Nếu có người phụ thêm
vào cái lo đó thì bảo toàn được. Bao nhiêu năm về quê,
người ta phụ cho anh vườn đào nầy, mà không ai phụ cho
anh chuyện em vừa mới nói tới."

"Thế anh còn nhớ thuở mình yêu nhau không?"

"Chao ôi, vàng son như thế làm sao quên."

"Đã đành thế rồi, nhưng em muốn hỏi anh về mức độ?"

"Tựa hồ như nung nấu, như đeo đuổị."

Cảm động, Ngọc nghe lòng thấp thoáng sống lại những ngày
cũ.

"Cám ơn anh, em cũng nhớ anh. Con gái càng lúc càng thấm
cái mất mát não nề của tuổi xuân. Hình bóng anh là cái lá
chắn để ngăn không cho em rơi vào hố tuyệt vọng. Ít ra
là những lúc em nhớ về một thân phận."

Nhớ lại năm xưa còn trai trẻ, Lân cũng không khỏi bùi
ngùi:

"Anh cũng thế, khi về lại nơi nầy, dĩ vãng càng ráo riết
nhắc anh nhớ đến một mối tình đã mất, điều khổ
hơn là mất trong cái thế không ai gây nên. Tự nhiên nó
mất. Anh về trồng hoa đào không phải chỉ là kế sinh nhai, mà
trong ấy nhớ đến tình anh. Anh không đủ khả năng tìm
tình mình trong hương sắc hoa. Nhưng năm nào anh cũng mang lên
Hà Nội để bán, hoa anh rải khắp cả một góc phố làm ánh
lên nơi ngày xưa anh gặp em."

Đôi mắt Ngọc long lanh:

"Anh nhắc làm em nhớ đến Nhà Thờ Lớn. Nơi anh gặp em
lần đầu, đứng đó nghe được nhiều tiếng động lạ,
trong đó có cả sóng thì thào của hồ Hoàn Kiếm. Chỉ có mấy
bước đã thấy sóng ấ. Đời em, cái lúc gặp nhau ấy em
mới thấy có Đấng Quyền Năng trên cao. Là một người
không tin vào thế giới vô hình thế mà thế giới ấy đã
có trong em khi bên anh. Cũng như những ngày ở Trường Sơn,
muốn nhớ anh, nhớ tình mình thì em nhìn lên trời, có
thể là một vì sao, một áng mây, trên cao xanh ấy."

Nói chuyện hồi lâu, anh Lân đem Ngọc ra vườn xem hoa đào
nở. Cả mấy trăm gốc đào đều nở như nhau, rực rỡ,
ánh mặt trời tỏa lên làm cho hoa san sát bên nhau. Ngọc nói:

"Hoa nầy đẹp hơn mai vàng. Mai chỉ đẹp lúc mới nở, đào
đẹp cả lúc tàn."

"Nếu có bàn tay em săn sóc nữa thì vườn nầy trở thành
nơi du lịch. Anh dự trù sau nầy trồng thêm nhiều thứ.
Hồi anh đi bộ đội có những bụi lan rừng nở làm cho lòng
người bồi hồi."

Biết câu nói như một lời cầu hôn, Ngọc nói:

"Em mới về, chưa hết chao đảọ Anh cho em một thời gian
nữa, rồi em quyết định, chắc là có chiều hướng lợi cho
cả hai, hay ít ra lợi cho khu vườn nầy."

Đến khi gặp lại anh ruột ở Sài Gòn thì đã năm năm,
nhưng chuyện cũ chị nhắc đến như một sự phản đối mọi
việc làm của gia đình ngày ấy, cả việc đem người mẹ
giao khoán cho chị ngày nay:

"Anh à, trong đời em có nhiều sai lầm, lấy anh Lân là
một sai lần lớn, trong ấy anh và những người bà con ruột
thịt chịu trách nhiệm một phần. Mà phần chính vẫn là em.
Tại sao em phải lấy anh ấy chứ?"

Người anh nói:

"Em không nên nhắc chuyện xưa, cũng đừng trách ai, ai vẫn
nghĩ lấy chồng còn hơn ở góa. Vả lại, trước đó, em và
người ấy cũng đã có một thời yêu nhau rồi."

Ngọc nói như tiếc rẻ:

"Đã đành thế. Nhưng anh ấy, năm tháng đã thay đổi đi
nhiều lắm. Cái cằn cỗi dã man của sự thay đổi đó lại
quay về phía em như để hành hạ, như chính em đã làm anh
ấy mất đi thời trai trẻ hay là vì có em mà anh ấy thấy
được sự dằn vặt trong mất mát. Có người nói vì anh
ấy gần mười năm sống với hoa thì không thể sống với
đàn bà. Hoa hớp hồn anh ấy hết rồi. Nhưng, hoa có thể
thay thế đàn bà được đâu, có chăng chỉ là một phần
nào, một diện nào. Hoa có thể làm cho người đàn ông nghi
ngờ về sự tuyệt hảo của thân xác đàn bà, bù vào đó
hoa làm cho người đàn ông hồ nghi về những màu sắc
nhất thời không vững bền. Anh ấy tự lượng không đủ sức
mình để chăm sóc hoa khi có em. Em không hề ích kỷ khi
đòi hỏi anh ấy dành thì giờ chăm sóc em hơn hoa, nhưng em
muốn anh ấy đừng lẫn lộn em với hoa. Cái biên giới vợ
và hoa cần cắm mốc minh bạch. Đến hồi gay cấn, em chỉ
mong anh ấy để dành riêng cho vợ mình một khoảng thời gian
cố định, một phần mười trong hai mươi bốn giờ một
ngày, về đêm, chẳng hạn. Nhưng anh ấy hứa mà không làm
được. Hết mùa đào, đến mùa lan, rồi đến cúc, đủ
thứ lan, mai tứ thời, thậm chí những cây không có hoa như
trúc, tùng, thiên tuế... rồi đến nấm, anh thuê người lên
rừng đốn về nhiều cây để mục gây nấm. Phải công
nhận rằng, anh ấy làm việc vì say mê, cần tiếng tăm, cần
người ta khen ngợi hơn là để làm ra tiền. Nhưng anh ấy
không biết nghĩ về hạnh phúc cho riêng mình hay là những
điều trên đã tạo cho anh ấy hạnh phúc rồi. Em thì anh đã
biết, cuộc đời không còn bao, nên em cũng phải tự đấu
tranh cho riêng mình chứ. Khi tóc bạc còn ít thì còn nhổ
đi được, cũng đến lúc nhiều quá, làm sao nhổ. Chuyện
đã quá khứ rồi, nay nhắc lại với anh, để cho đỡ tức,
thế thôi."

Nghe em gái nói một mạch, người anh thật thà chất phác
lớn lên nơi ruộng đồng không hiểu gì nhiềụ Ngày em ly
dị chồng anh cũng chỉ xem như số tình duyên em chừng đó
thôi. Ngay cả tòa án cũng tìm cách hòa giải cho sự chia tay
ấy không đến, hai vợ chồng đều có tuổi đảng, đều hy
sinh một quãng đời đẹp nhất cho lý tưởng của họ, không
chỉ vì một nguyên do đơn giản về chuyện lẩn quẩn trong
vườn hoa mà xa nhau. Nay nghe em lý luận khúc mắc như thế
anh làm sao hiểu nổi. Chỉ hiểu rằng, ngày nay tính tình em
đã đổi khác lắm. Vào Sài Gòn đã một năm không viết
một lá thư về thăm gia đình cũng là chuyện hy hữu rồi,
đàng nầy gặp mẹ, gặp anh, em cũng không mừng rỡ mà còn
có vẻ không vui. Chấp nhận nuôi mẹ để cho qua mùa đông
là một chuyện chẳng đặng đừng. Khi đưa anh ra bến xe
còn nhắc lại: "Mùa hè đến anh nhớ vào đem mẹ về nhé."
Để chắc ăn, em còn hứa: "Chuyến sau vào em biếu anh cái
tôngđơ ngoại để cắt tóc."

Khi anh đi rồi, Ngọc nói với mẹ:

"Ở thành phố nầy, khi chết người ta đem thiêu."

Bà mẹ hỏi:

"Sao không chôn?"

"Không có đất mẹ ạ. Người ta còn giải tỏa các nghĩa
trang trong thành phố để lấy đất cho người sống."

Bà mẹ rất sợ lửa đốt, thở dài:

"Ngoài quê mình có nhiều đất lắm. Khi nào mẹ yếu quá
con cho mẹ ra."

Ngọc cũng nói theo ý mẹ:

"Sau nầy già bằng tuổi mẹ hay ít hơn năm bảy tuổi con
cũng về quê thôi. Cái lạnh lẽo chỉ dành cho thịt da người
sống, không phải dành cho nắm xương người chết."

Bà mẹ già đã ngoài bảy mươi tuổi ấy sống những ngày
bên con no đủ, vật chất thì không thiếu gì, mẹ được
nằm nệm êm, mền len nhãn hiệu cá sấu đàng hoàng. Khi đau
ốm chị lo thuốc thang đầy đủ.

Nhưng tính mẹ thất thường, khi vui khi buồn, khi nói huyên
thuyên không dứt, chị đi làm về bụi bặm, mệt mỏi cần
tắm rửa nghỉ ngơi bà bắt phải ngồi nghe bà kể chuyện
đời, toàn là những chuyện không đâu từ mấy đời xa
xưạ Bà nói: "Ngày xưa bà ngoại cũng kể cho mẹ nghe, nay mẹ
kể lại, sau nầy con kể lại cho cháụ" Nhưng cũng có khi cả
tháng bà không mở miệng nói một câu, cứ ngồi im nhìn vào
những hạt cơm trắng toát trong chén, lúc nào bà cũng để
hai chiếc đũa gác chéo thành hình chữ X trên miệng chén,
nói là cúng cho "thằng cha tụi bay."

Nhưng điều làm cho Ngọc sợ nhất những lúc vắng nhà, ai
gõ cửa mẹ cũng mở, cửa trước, cửa sau mẹ đều mở
toang để đón người đến, bất kể lạ hay quen bà đều
vồn vã chào mời họ vào nhà, có khi thuận đà vui vẻ dẫn họ
đi xem những vật lạ mà người yêu chị Ngọc mua sắm. Lợi
dụng sơ hở nầy, trong xóm có kẻ xấu, đánh cắp nhiều
thứ. Ngọc biết chuyện, đi làm khóa ngoài cửa lạị Bà mẹ
lại mở cửa sổ chui đầu ra khỏi song cửa nói chuyện với
những đứa trẻ lối xóm. Bọn chúng hỏi xin bà nhiều thứ,
có thứ bà lấy ra cho, có thứ bà không chọ Cái tốt bụng
của người không tỉnh táo làm đảo lộn trật tự của cả
xóm có nhiều nhà giàu. Trẻ con vào ra đông đảọ Người
lớn đến săn mua những đồ vật mà bọn trẻ lấy được hay
xin được từ nhà chị Ngọc.

Chị Ngọc phải thuê một đứa giúp việc ở miền quê lên.
Vừa canh chừng mẹ vừa giúp việc nhà. Lâu lâu chị đưa
tiền để nó thuê xích lô chở mẹ đi xem đua ngựa hay vào
sở thú nhìn voi cọp. Về sau mẹ không thích trường đua vì
đông đảo quá và ngựa chạy nhanh quá làm cho bà chóng
mặt, cũng không thích nhìn những con vật dữ dằn ấy n
a.
Voi to lớn dềnh dàng gây cho bà cảm giác không vui, còn cọp
và sư tử thì hầm hừ khi thấy bà làm cho nhịp tim bà
đánh như hồi chạy giặc Pháp. Chỉ còn một nơi bà muốn đến
là về Phú Lâm hay qua miệt Thủ Đức cho bà thấy cảnh
ruộng vườn. Nhưng xa quá, tiền xích lô Ngọc không chịu nổi.

Khi thấy phố xá xa hoa đông đảo, bà già hỏi con ở:

"Ngày nào cũng thế phải không, họ đi đâu mà xuôi
ngược?"

Đứa ở cười to:

"Bà hỏi gì mà ngộ, người ta đi làm ăn mà."

Bà già hỏi thêm:

"Ở quê mầy có thế không?"

"Không, quê cháu vắng hoe à. Còn ở quê bà?"

"Quê tao cũng vắng hoe, mà ra đường là gặp bà con, vui."

Đứa ở sinh trưởng trong Nam chưa hình dung ra được đất
Bắc, hỏi thêm:

"Ngoài ấy nghèo lắm phải không?"

"Ờ, nghèo."

"Thế bà có muốn về không?"

"Sao không muốn."

"Cháu thấy bà ở đây càng ngày càng mập ra. Nhưng lưng
đi còm hơn ngày cháu mới đến."

" Ừ, càng ngày càng già thêm, ai cũng thế mà."

Nhớ lời cô chủ dặn, đứa ở nói thêm:

"Cháu mà bằng tuổi bà thì không chịu đi đâu hết. Cột
thừng vào mũi, kéo dắt cũng không đi. Lỡ ra chết nơi quê
người thì khổ. Mẹ cháu nói, dù lang bạt kỳ hồ ở đâu
cũng về quê mình mà chết. Chết ở nơi khác quỷ nhai
xương."

Đó là lúc tỉnh, lúc không tỉnh, khi qua đường Hậu Giang,
thấy chó mèo, bà hỏi:

"Chó chạy ra ngoài đường để làm chỉ"

Đứa ở trả lời:

"Để tìm thức ăn."

"Còn mèo."

"Cũng vậy."

"Cả hai thứ ấy đều đói à?"

"Dạ."

Khi thấy một con hẽm đưa vào chợ đen nghịt người, bà
hỏi nữa:

"Trong ấy có đình làng à?"

"Không, chợ."

"Giữa chợ có đình làng à?"

Thiếu kiên nhẫn, đứa ở gắt:

"Không phải đình làng mà đình chợ."

Chẳng bao lâu, con ở cũng biến đi mất. Nó không báo
trước cũng không lấy gì trong nhà để đi, chị Ngọc cho là vì
mẹ làm cho nó đi.

Người yêu của chị là giám đốc cơ sở chị làm, biến
chế những đồ phế thải thành vật dụng tái sinh. Chị chỉ
ngồi bên cái cân bịt khẩu trang để thu mua. Công việc nhàn
hạ mà được trả lương cao. Ông còn hứa sau nầy sẽ mua
riêng cho chị một ngôi nhà có mặt tiền. Ông nầy gốc
người miền Nam, chưa có một ngày đi theo kháng chiến, nhưng
có đóng góp nhiều của cải cho cách mạng sau khi giải phóng.
Ông yêu chị không ngoài mục đích để biết gái Bắc Kỳ
như thế nàọ Và ông thấy được gái Bắc Kỳ rất khác
với gái Nam Kỳ hay gái Tàu, gái Miên, gái Mỹ lai, gái Lào mà
ông đã trải qua nhiều người. Cái biết được của ông
còn hơn ông dự tưởng.

Trong chỗ riêng tư, ông tâm sự với người bạn thân:

"Đàn bà cũng ba bảy hạng. Như cá tôm cũng ba bảy hạng. Tôm
hùm, tôm càng, tôm he, tôm rảo cũng là tôm, nhưng mỗi tôm
khi kho nấu lên thì mùi vị có khác, không cần tay đầu
bếp giỏị Tôm càng ở nước ngọt, tôm he, tôm rảo ở nước
lợ, tôm hùm ở nước mặn. Nhờ cái nơi tôm sống mà mùi
vị khác nhau. Nó (tức là Nguyễn Thị Ngọc) khác lắm. Tôi
thích nó không chỉ sinh ra nơi bùn lầy nước đọng mà thích
cái mùi đá núi, rừng sâu, ghềnh thác hiểm hóc, nơi bọn
mình chưa từng đi qua mà tôi gặp được. Gom lại nhiều
thứ, quyện lại với nhau thì tuyệt. Thì ra họ (đây là
cộng sản) cũng khôn. Khi đưa người vào cuộc chiến tranh
không chỉ để dành thắng lợi mà làm cho những con người sau
đó, biết tuân phục, trong đó tuân phục cả điều cố hữu
mà đàn bà cần có..."

Người bạn nói:

"Nó lấy ông cũng vì tiền."

"Không hẳn thế."

Người bạn nói tiếp:

"Nghe đâu cô ta không chỉ có một đời chồng mà nhiều
đời. Hay là muốn có một đứa con?"

"Tôi cũng không có thì giờ để tìm hiểu nhiều. Chỉ
biết có nó, tôi thấy làm ra đồng tiền thêm ý nghĩa."

Người bạn cho như thế là đủ rồi, không hỏi tới nữa.

Chị Ngọc lấy ông giám đốc như thôi thúc của bản năng.
Trước hết là lấp cái hố quá sâu nhạt phèo trong những
ngày làm vợ anh chủ vườn đàao. Ông giám đốc nầy săn sóc
chị nhiều, lắm khi chở chị lên tận núi Bửu Long để
ngồi bên nhau nhìn dòng nước sông Đồng Nai. Ông thích
những lời chị nói lúc xa thành phố, nào là sông nầy sâu mà
nước không trong. Núi nầy không cao bằng núi Tam Đảo, Ba
Vì. Con đường từ Bình Triệu ra bằng mà cong. Dừa trời
sinh ra để lấy trái chứ không phải lấy lá che mát mặt
đất, lá dừa không đẹp vì răng cưa quá sâu. Ngày xưa chúa
Nguyễn chỉ mộ lính đánh giặc ở miền nầy, trả lương
chỉ vài chục đấu lúa... Đại để những câu nói không
đầu không đuôi như thế làm cho ông thích thú, khi về Chợ
Lớn, vào nhà hàng Đại La Thiên lại ăn được nhiều thức
ăn béo bổ. Ông lấy chị càng ngày càng béo phệ. Chị cũng
lên được mấy cân.

Từ khi có mẹ chị Ngọc vô, ông giám đốc lui tới với chị
thưa dần. Ông không mấy yên tâm khi thấy gương mặt bà
ấy nhăn nheo quá và có nét hao hao giống người ông đang
yêu, một câu hỏi lại nẩy sinh ra là, rất có thể sau nầy
già Ngọc cũng có nét mặt như thế. Ông khác người ở cái
chỗ là rất sợ hãi những cái gì không tròn vẹn sẽ xẩy
ra trong tương lai.

Chị Ngọc thừa biết chuyện đó. Nên dung hòa bằng cách mua
nhiều lồng chim treo sau nhà bếp. Và cả mấy chậu thủy
tinh nuôi cá cảnh nữa. Mỗi lần có hẹn ông tới, hồi đứa
ở chưa đi, chị bảo nó đem mẹ ra đó xem chim. Toàn là chim
và cá bà biết tên nên bà vui lắm. Có hôm bà hỏi:

"Chim nầy ăn chỉ"

"Cơm rang, mè, đậu, lúa."

Nhìn qua cá, bà cũng hỏi:

"Còn lũ nầỷ"

"Mua lăng quăng."

Bà già vui ra mặt:

"Lăng quăng ngoài tao kêu là bọ gậy.Bọ gậy ao nhà tao
nhiều nhiều vô số, đến nỗi phải đổ dầu hôi lên châm
lửa đốt, khỏi phải tốn tiền mua."

"Lăng quăng không quý nhưng quý công người đi bắt nó. Có
khi phải lên tận Hốc Môn, Bà Điểm. Đi xe đò bất tiện
lắm bà ạ."

Trong lúc đứa ở với bà mẹ nói chuyện vui vẻ với nhau
thì bên trong căn phòng ấm áp chị Ngọc cùng với ông giám
đốc vui trò vui riêng của họ. Cũng có hôm bà gặp được
ông giám đốc ấy. Ông gật đầu lễ phép chào bà, nói vài
câu thăm hỏi. Bà cũng chào lại. Bà thấy thương thằng con
rể ngày trước hơn. Năm nào gần tết cũng mang đến
biếu bà cành đào lớn, kèm theo trầu cau, gọi bà bằng mẹ,
còn ông nầy cũng biếu bà quà, nhưng quà gói ghém cẩn thận
quá mà bên trong toàn những thứ cha sinh mẹ đẻ chưa ăn
lần nào, răng cỏ cũng không còn để nhai, lại gọi bà bằng
bà. Trịnh trọng quá làm bà ái ngại. Chị Ngọc cũng có nói
với mẹ:

"Ông ấy là người tốt. Mẹ tin con. Con cũng đã gần già
rồi, không đợi chờ gì nữạ Lúc bằng tuổi con, mẹ có
đến bảy con."

Bà mẹ lại hỏi:

"Sau nầy thằng anh con vào đem mẹ ra bằng xe đò hay tàu
lửa."

"Tàu lửa. Con mua cho mẹ cái vé nằm hạng nhì."

Nhưng chờ mãi chẳng thấy anh v
ô. Mùa đông qua. Mùa hạ
cũng qua. Đến mùa thu thì chị nhận được điện tín ngoài
quê gửi vào cho hay anh ấy đã chết. Bức điện vắn tắt
nên không biết vì nguyên do gì. Chị Ngọc dấu không cho mẹ
biết.

*


Một hôm, đi làm về, chị Ngọc ghé đường Tôn Thọ Tường
mua một con vịt quay béo với mấy ổ bánh mì về đãi mẹ.
Ăn xong, chị vào phòng riêng viết một tờ giấy xếp lại
gói chung với ít tiền. Chạng vạng tối, chị lấy xe honda
chở mẹ đi. Chị nói với mẹ là mùa thu trăng đẹp mẹ nên đi
một lần cho biết, trăng ở quê mình cũng có, nhưng trời
rộng, chung quanh cảnh vật cằn cỗi nhìn thấy trăng không
đẹp. Ít khi được ngồi với con bà mừng, nhưng không dám
hỏi gì như những lần đi chung với đứa ở, chỉ việc ôm
chặt bụng con cho khỏi té.

Khi đến trước nhà thờ X. Ngọc dừng xe, bảo mẹ xuống,
bỏ gói nhỏ vào túi áo mẹ rồi nói nhỏ:

"Mẹ ngồi ở gốc cây chờ con một lát, con đến nhà
người bạn có tí việc khoảng mười phút sau con trở lại, mẹ
nhớ đừng đi đâu mà lạc. Đường xá ở đây chằn chịt
khó tìm. Nếu rủi ro con bị xe cộ dọc đường thì mẹ cứ
việc vào cái cổng phía sau lưng mẹ. Ngoài cổng ấy, mẹ
không đi đâu hết, nhé."

Người mẹ ngồi núp sau gốc cây có sơn màu trắng. Ngọc
quay xe về. Chị về nhà và quyết tâm bỏ mẹ. Bỏ mẹ, chị
buồn, không sao ngủ được. Lại lên xe đến nhà người bạn
gái cùng sở, nói là kỷ niệm ngày phục viên về quê cũ nên
cùng bạn tổ chức ăn uống, vui chơi suốt đêm.

Bà mẹ già vừa thấp thỏm chờ con vừa lén lút nhìn trăng.
Quả như lời con nói, trăng ở đây đẹp hơn nhiều, tròn
vành vạnh, rải xuống toàn một thứ bột óng ánh mịn màng.
Phố xá che hết chân trời nên bầu trời cao hơn, hết canh
nầy đến canh khác, không thấy con đến. Nhớ lời con
dặn bà mẹ quay lui, cổng vô nhà thờ không đóng, lá vàng rải
đầy trên sân, tượng Đức Bà Maria đứng trong sương
buông hai cánh tay xuống phía dưới, cả hai bàn tay mở ra,
không cầm một thứ gì cả, những giọt sương khuya từ mười
ngón tay ấy chảy rỉ xuống, ánh đèn đường vàng ối hắt
vào như máu trong. Xa phía sau, nhà cha sở và viện dưỡng
lão cửa đóng kín mít. Từ ngày miền Nam mất viện ấy
đóng cửa, chỉ còn cái bảng hiệu treo để mong có ngày tái
lập.

Cách đây gần mấy chục năm, hai mẹ con có việc lên Hà
Nội, con có đưa mẹ đi ngang qua nhà thờ Chánh Tòa và nói
đây là nơi con gặp tình đầu. Đức Mẹ đứng phía trong xa
không nhìn thấy rõ như lúc nầy. Tuổi già làm cho bà quên
nhiều thứ, nhưng phía trước nhà thờ ấy bà không quên,
còn nhớ cả mấy chiếc lá bàng rụng xuống trên bàn chân
bà rồi gió thổi bay đi.

Rạng sớm hôm sau, người đi xem lễ sớm, phát hiện ra
một xác chết ướt đẫm sương, nằm dưới chân tượng
Đức Mẹ, miệng hả ra ngay dưới năm ngón tay của tượng.

Trong túi áo có tờ giấy viết:

Người già nầy, tính tình không bình thường, lúc điên
lúc tỉnh, nói năng tùy tiện, không nên tin. Đi theo đứa con
ngắn số. Ai có lòng nhân hoặc đã từng phụng sự cuộc
đời trên danh nghĩa thương đồng loại trong cơn hoạn nạn,
thì nên giúp. Hoặc là cho bà sống trong viện dưỡng lão,
hoặc là bằng cách nào đó cho bà được về làng Đông,
xã Đại Nghĩa, huyện Hải Hậu, tỉnh Hải Hưng, là quê hương
của bà.

Bí chú: Người viết giấy nầy là hàng xóm của con bà già
nầy, đã chết.

Ngoài lá thư còn có thêm ít tiền. Một cụ già di cư năm
1954, rành về địa dư miền Bắc tính nhẩm cho rằng số
tiền nầy có thể mua đủ vé tàu ra sân ga Hàng Cỏ, rồi
xuống bến xe đò về thị xã Hải Hưng, kể cả tiền ăn
đường tiện tặn.

Cha xứ đọc qua tờ giấy biết nạn nhân là người cùng
đường nên cho rung chuông báo tử và huy động con chiên trong
họ nhanh chóng dùng toàn lực để lo chôn người chết. Cha
đích thân đến một người già trong họ đạo mượn tạm
chiếc quan tài bằng gỗ tốt sắm sẵn chờ chết. Chị nữ
tu tắm gội cho bà bằng nước nóng mới đun với lá bạc
hà rồi lấy chiếc áo choàng trắng của mình mặc ngày khấn
trọn đời liệm cho bà. Quan tài được đem vào đặt trong
nhà thờ. Thánh lễ mi-sa trễ mất mấy tiếng, trở thành
buổi lễ cầu hồn.

Bài giảng hôm đó, cha xứ xăn tay áo lễ, chỉ vào cỗ áo
quan:

"Thưa ông bà và anh chị em, đây là thêm một trang nữa
của trần thế đã gắn thêm vào Thánh Kinh mà Thánh Kinh của
chúng ta vẫn không thêm không bớt một chữ. Đây là trang
Mẹ Maria đã khâu vào bằng đường chỉ thiên lí. Hẳn ông
bà và anh chị em hiện diện ở đây đã thấy tận mắt
những giọt sương từ năm đầu ngón tay Mẹ đồng trinh chảy
xuống miệng một người đang khát. Chúa Cứu Thế khi còn
trên Thập Giá cũng có lần kêu khát. Chúa chọn Thập Giá
để treo mình là muốn cho tình người hội tụ ở điểm hai
đường ngang dọc, chữ Hán gọi là tung hoành, để gặp nhau.
Hỡi những ai thờ chúa nên ngồi vào điểm ấy mà thờ.

"Có thể người mới qua đời nầy là ngoại đạo, nhưng khi
tìm đến dưới chân mẹ mà chết, tình thương vô bờ và
nhịp đập ngàn đời tinh khiết của trái tim Mẹ đã rửa
tội rồi. Những giọt sương kia hẳn là nguồn nước của
một dòng sông từ trời cao đổ xuống. Địa ngục thưa thớt
người lầm than, khó nghèo, và bị hất hủi thì thiên
đường lại rộn rã bóng họ.

"Cha đã cho người lên Bình Hưng Hòa mua đất và thuê xe
đám rồi. Sau lễ, ai rỗi, theo cha đưa người nằm đây đi
một đoạn đường. Còn số tiền trong túi người nầy
nhờ ban quản lý nhà thờ cất giữ để sau nầy có dịp về
quê người nầy gửi lại cho con cháu.

"Lạy Thiên Chúa và mẹ Maria. Chúng con là những người
phàm, thân xác tồi tàn cũng như người nằm đây thôi, chẳng
khác gì, chẳng hơn gì. Cũng ở trong chiếc quan-tài đời
đầy mối mọt chờ ngày Chúa Mẹ cạy nắp thôi. Làm việc
nầy chính là làm cho chúng con đây. Thân cây lúc mục nát
thường ngã về phía có cây sống. Cát bụi bay tứ tán nhưng
cuối cùng cũng chỉ có một nơi để tụ về... "

Giảng đến đây thì nước mắt cha chảy ra nhiều quá không
giảng được nữa. Đôi mắt cha ngơ ngác, vời vợi nhìn
quanh không biết muốn tìm kiếm gì. Cả nhà thờ im phăng
phắc, có người nức lên rất nhỏ cùng với tiếng ruồi
đập cánh vo vo trên quan tài.



HMD

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn