DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,093,087

Cuộc Rút Quân Khỏi Quảng Đức Tháng 3-1975 - Trần Văn Bường

Thursday, March 22, 201212:00 AM(View: 12032)
Cuộc Rút Quân Khỏi Quảng Đức Tháng 3-1975 - Trần Văn Bường

Cuộc Rút Quân Khỏi Quảng Đức Tháng 3-1975


nhay_du_2



Tác giả Trần Văn Bường sinh năm 1940 tại Phan Thiết - Bình Thuận, cựu học sinh TH Phan Bội Châu Phan Thiết. Tốt nghiệp khóa 18 Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt và Trường Pháo Binh Dục Mỹ. Ra trường phục vụ ngành Pháo Binh tại Sư Đoàn 9 BB. Vinh thăng Đại Uý từ tháng 1/1969. Từ tháng 11/71 - 8/72 Pháo đội trưởng thuộc Tiểu Đoàn 233 PB kiêm Sĩ quan liên lạc tại TK Ninh Thuận.
Tháng 7/72 vinh thăng đặc cách Thiếu tá tại Mặt Trận Chu Pao (Pleiku). Từ tháng 8/72 - 11/73 Tiểu đoàn phó TĐ 69 PB tại Biển Hồ (Pleiku). Tháng 11/73 - 3/75 Chỉ huy trưởng PB kiêm Tham mưu phó Hành quân tại TK Quảng Đức
Sau tháng 5-1975, bị VC đày đoạ nhiều năm tù, trong các trại giam từ Nam ra Bắc. Năm 1991 tới Mỹ qua diện HO và là Hội Trưởng Hội Thân Hữu Bình Thuận Hải Ngoại tại Houston (TX).


+ Giới thiệu tỉnh Quảng Đức


Sau khi thắng trận đánh thừa chết thiếu sống tại Căn cứ 42A (đèo Chupao-Pleiku), ngày 19/6/1972, tôi được vinh thăng thiếu tá đặc cách tại mặt trận. Đó là một phần thưỡng cao quý nhất tôi may mắn được (vì lên cấp tại mặt trận rất hiếm hoi đối với quân đội, đặc biệt binh chủng pháo binh (PB) như tôi lại càng khó khăn gấp trăm lần). Một tháng sau tôi rời tiểu đoàn 233 PB sang làm tiểu đoàn phó tiểu đoàn 69 PB đóng tại Biển Hồ Pleiku. Với chức vụ mới này tôi thường đi hành quân với tư cách sỉ quan liên lạc pháo binh cạnh Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân (BĐQ) quân Khu II của Đại tá Phạm Duy Tất (sau lên chuẫn tướng) hoặc Bộ Chỉ Huy tiền phương của QĐII.
Vào giửa tháng 12/73, từ Pleiku tôi theo bộ chỉ huy tiền phương quân đoàn II do Đại tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy bay đến tiểu khu Quảng Đức (TK/QĐ) điều động cuộc hành quân giải tỏa áp lực địch tại căn cứ Buprang (quận Kiến Đức). Căn cứ này nằm cạnh Quốc lộ 14 sát ranh giới Campuchia, cách thị xã Gia Nghỉa (QĐ) chừng ba mươi cây số, được bảo vệ bởi liên đoàn địa phương quân (ĐPQ) của tiểu khu Khánh Hòa và tiểu khu Quảng Đức. Vừa đến trung tâm hành TK/QĐ chưa tới hai đêm, căn cứ Buprang bị thất thủ bởi đặc công địch được xe tăng T54 yễm trợ. Thiếu tá Nguyễn Hưũ Nghiã (Phan thiết) Chỉ huy trưởng PB/TK/QĐ bị mất tích trong trận này. Tôi nhận lệnh thay thế thiếu tá Nghĩa ngay hôm đó. Một tuần sau đại tá Phạm Văn Nghìn về làm tỉnh trưởng Quảng Đức thay thế trung tá Nguyễn văn Thiện và sau đó ông giao tôi kiêm nhiệm luôn chức vụ Tham Mưu Phó hành quân tiểu khu. Vì vậy tôi có dịp đi lại nhiều nơi, biết nhiều điều đặc biệt về quân sự thuộc TK/QĐ từ lúc tới cho đến khi rút quân. Trước khi trình bày cuộc rút quân của TKQĐ, tôi xin nói sơ lược về tỉnh này.
Quảng Đức là một tỉnh nhỏ được thành lập từ thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm nằm dọc theo quốc lộ 14 giáp ranh Campuchia và các tiểu khu Phước Long, Lâm Đồng, Tuyên Đức và Ban mê thuột. Tỉnh có ba quận: Kiến Đức, Đức Lập, Khiêm Đức (Gia Nghỉa) và chi khu biệt lập Đức Xuyên. Dân chúng hầu hết là người Thượng sống về nghề làm rẫy và săn bắn thú rừng, còn lại là người Kinh, hầu hết là gia đình quân nhân, công chức và dân buôn từ miền xuôi lên. Đặc biệt quận Đức Lập nằm về hướng Bắc của tỉnh Quảng Đức, giáp với tỉnh Ban mê thuột, đất đai màu mỡ, dân chúng phần nhiều là người Miền Trung di cư vào lập nghiệp từ năm 1954, sau ngày chia đôi đất nước, sống về nghề trồng trà và café rất thịnh vượng. Quảng Đức là một tỉnh nhỏ và nằm sát ranh giới Campuchia-hành lang xâm nhập của quân Bắc Việt-nên chịu áp lực của Cọng Quân rất nặng nề. Từ năm 1972, quốc lộ 14 nằm song song và sát với ranh giới Miên Việt xuyên qua ba tỉnh Phước Long, Quảng Đức, Ban me thuột bị gián đoạn giửa ranh giới Phước Long và Quảng Đức. Vì vậy Quảng Đức chỉ còn xử dụng được đoạn đường bộ duy nhất từ Bubinh xuyên qua thị xã Gia Nghĩa đi Ban me thuột mà thôi. Tỉnh Phước Long rơi vào tay địch đầu năm 1974.


+ Trận đánh mỡ màn “Chiến dịch mùa Xuân của VC“.


Theo tin tình báo cũng như tài liệu thu được tại chỗ do pháo binh bắn quấy rối và hệ thống điện tữ chung quanh chi khu Đức Lập cho biết: sư đoàn 968 tân lập cùng sư đoàn 10 Bắc Việt có thể sắp tấn công Ban mê thuôc, tiểu khu trưởng tiểu khu Quảng Đức, đại tá Phạm Văn Nghìn đã xin thêm quân phòng thũ quận Đức Lập nhưng chưa được. Sáng ngày thứ bảy (8/3/75), tôi tháp tùng đại tá Nghìn đáp trực thăng ra quận Đức Lập có gặp đại tá Vũ Thế Quang-Tư Lệnh Phó sư đoàn 23 Bộ Binh (BB) - cũng đến đây thị sát tình hình. Đại tá Nghìn chỉ thị trung tá Trần Nguyên Khoa (k18ĐL) - trung đoàn phó trung đoàn 53 BB - đang chỉ huy trung đoàn trừ đóng gần chi khu Đức Lập phải dời bộ chỉ huy nhẹ của ông cùng các đơn vị bảo vệ vào căn cứ Daksak-một căn cứ thật kiên cố do lực lượng đặc biệt Mỹ để lại-cách vị trí đóng quân hiện tại chừng ba cây số. Hiện trung đoàn 53 BB trừ đang được tăng phái cho tiểu khu Quảng Đức.
Nói là Trung đoàn trừ chứ thực sự quân phòng thũ tại bộ chỉ huy nhẹ này chỉ có một chi đoàn trừ (-) 1/8 thiết vận xa M113 của đại uý Tánh, đại đội trinh sát của trung đoàn mà phân nửa đã hoạt động bên ngoài tìm tin tức, một trung đội pháo binh 105 ly (TĐ 231PB), một trung đội PB155 ly thuộc tiểu đoàn 230 PB và một ít bệnh binh của tiểu đoàn 2/53BB. Thám sát xong nhận thấy không có đũ thời gian, việc di chuyển dời lại sáng hôm sau (9/3/75). Nào ngờ, khoảng năm giờ sáng - trước giờ quân ta chuẫn bị di chuyển vào căn cứ Daksak như dự định, Cọng quân bắt đầu pháo aò ạt rồi sau đó tấn công biển người vào các đơn vị ta.
Đáng tiếc thay những đợt pháo đầu tiên lại trúng ngay vào bộ chỉ huy nhẹ của trung tá Trần Nguyên Khoa. Dù ông là một sỉ quan giỏi, lanh lợi, đã từng được thăng cấp tại mặt trận nhưng vì nơi đóng quân hiện tại là một căn cứ dả chiến hầm hố không được kiên cố lắm nên không chịu nổi sức công phá của các loại pháo địch,đặc biệt pháo 130 ly. Cầm cự không lâu, hơn phân nửa số thiết vận xa bão vệ bộ chỉ huy nhẹ bị tê liệt, hầm chỉ huy của trung tá Khoa bị sập, đại uý Buì Minh Ngọc (Phan thiết) - sỉ quan liên lạc pháo binh của trung đoàn 53 BB bị thương nặng và chết ngay sau đó, trung tá Trần Nguyên Khoa bị thương ở sau ót và cánh tay trái gảy gần đứt lìa được lính pháo binh dìu ra khỏi căn cứ nhưng rồi bị bắt làm tù binh ngày hôm sau. Nếu.. nếu… hôm đó (8/3/75), bộ chỉ huy nhẹ trung đoàn 53 di chuyển đi, Việt Cọng không điều nghiên kịp mục tiêu, tình hình có thể khác. Điều này rất đúng với câu ta từng nghe: “không nên để lại ngày mai những gì có thể làm hôm nay”.
Chi khu Đức Lập gần đó cũng bị pháo và tấn công tơi bời cùng một lúc nhưng nhờ hầm hố kiên cố cộng với sự gan lì, mưu lược của trung tá quận trưởng Nguyễn Cao Cực (K13ĐL), Việt Cọng không làm gì được, đành bỏ đầy xác ngoài bờ rào quận. Cùng lúc tại căn cứ Núi Lửa cách ghi khu Đức Lâp về phía Tây chừng sáu cây số, nơi trung đội pháo binh 105 ly của trung úy Nguyễn Văn Quý (Phan thiêt) đóng, được bảo vệ bởi đại đội chỉ huy thuộc tiểu đoàn 261 ĐPQ/QĐ (các đại đội tác chiến hoạt đông bên ngoài) của thiếu tá Bùi Ngọc Long cũng bị pháo khủng khiếp.
Tóm lại Việt Cọng đồng loạt tấn công ba nơi trên cùng một lúc với những cơn mưa pháo tới tấp khiến chúng ta không thể yễm trợ hổ tương nhau được. Chúng đã áp dụng tiền pháo hậu xung biển người trận này rất hiệu quả. Khoảng bảy giờ sáng, sau khi nhận được chiếc trực thăng tăng phái từ phi đoàn 235 trực thăng Pleiku, tôi tháp tùng đại tá Nghìn bay về hướng Đức Lập. Trước khi rời trung tâm hành quân tiểu khu ra trực thăng, tôi còn nghe trung uý Quý vừa nói vừa cười báo cáo thành tích hạ địch của đơn vị mình: ‘Bắn đã tay quá Bắc Bình ơi’. Bắc Bình là danh hiệu tôi thường dùng trong nội bộ pháo binh.Tôi mừng thầm lên phi cơ gọi tiếp anh để biết tình hình nhưng không thấy trung úy Qúy trã lời. Bên tần số bộ binh bão vệ anh cũng không liên lạc được. Bay gần tới căn cứ Núi Lửa cũng không thấy hồi âm mà chỉ thấy một làn khói trắng từ căn cứ bốc lên. Làn khói đó chính địch đã đánh dấu cho phe chúng biết đã chiếm được mục tiêu Núi Lửa. Thấy làn khói bốc lên chúng tôi nhìn nhau không ai nói gì ngoài sự ngậm ngùi thương xót số phận quân mình, thuôc cấp mình và chỉ còn có cách báo cáo lên thượng cấp và xin tăng viện từ Sư Đoàn 23BB và quân đoàn II.
Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây để nói rõ hơn về sự mất liên lạc đột ngột nói trên. Cuối năm 1983,sau khi được phóng thích khỏi trại tù (từ Nam ra Bắc), trên đường về Phan thiêt thăm Ba Má tôi, tình cờ gặp anh Nguyễn Văn Quý (Trung đội trưởng PB Núi Lửa nói trên) đang bán quán café chòm hõm tại bến xe đò Phan thiêt-Sai gòn. Anh em nhìn nhau nghẹn ngào trong lần tái ngộ đau thương giửa cuộc đổi đời cay nghiệt. Anh mời tôi dùng ly càfê gọi là tình nghĩa thầy trò thuở nào trong đơn vị. Nhắc lại chuyện mất liên lạc tại căn cứ Núi Lửa năm nào. Anh trầm ngâm một lát, ánh mắt hướng về nơi xa xăm dường như để hồi tưởng lại quá khứ đầy u ám rồi cho biết: “Sở dỉ mất liên lạc với tôi vì đang bắn địch ngon lành, bổng dưng đài tác xạ bị pháo sập chết mấy quân nhân và địch ùa vào từ lưng đồi phía sau bất ngờ không trở tay kịp đành phải tìm đường “tẫu mã”. Anh vừa nói vừa cười một cách chua chát, đắng cay vì phải dùng từ tẫu mã. Tôi hỏi anh: “Anh bắn hay quá, sao để chúng bắn sập hầm chỉ huy”? Mặc dù biết tôi đùa nhưng anh cũng giải thích cho vui: “Chúng trốn chui trốn nhủi nơi nào mình đâu có biết, trong khi đó mình nằm một chỗ trơ trơ chúng bắn điều chĩnh hoài phải trúng thôi”. Và cũng tại bến xe đò đó năm nay (11/2006) khi từ Mỹ trỡ về thăm gia đình, người chạy Honda ôm cho tôi biết anh Quý đã trỡ thành người thiên cổ, tôi không còn cơ hội mời lại anh dùng một ít chất cay, vĩnh biệt Quý, một đàn em đáng mến thuở nào.
Tóm lại, lúc bấy giờ chỉ còn chi khu Đức Lập của trung tá Nguyễn Cao Vực, dù không được yễm trợ của quân bạn vẫn cầm cự với địch. Ngoài việc kêu gào cấp trên tăng viện gấp, đại tá tỉnh trưởng vẫn bay vòng vòng rất thấp trên khu vực quận Đức Lập đến trưa để hướng dẫn, trấn an và khuyến khích trung tá Vực và thuộc hạ cố gắng phòng thủ chờ quân ta tiếp viện. Xa xa đằng kia, cũng tại vùng trời Đức Lập, trung tá Võ Ân (K12 TĐ), trung đoàn trưởng trung đoàn 53BB (lên đại tá trước ngày quân ta nhận lệnh đầu hàng) cũng đang bay tìm quân của bộ chỉ huy nhẹ trung đoàn đang thất lạc. Khác với những lần trước, mỗi khi bị địch tấn công mạnh, ngoài lực lượng pháo binh sẵn có, phi cơ yễm trợ đũ loại bay đầy trời; lần này, mấy ngày nay vùng trời Đức Lập phẵng lặng, vắng vẻ làm sao! Tàu bay tàu bò biến đâu cả ngoài hai chiếc trực thăng chỉ huy nói trên.
Trong khi đó tại Ngả ba Dakson cách căn cứ Núi Lửa chừng tám cây số về hướng Tây do tiểu đoàn 2/53 BB của Đại úy Nguyễn Tiên (kII TĐ vừa thay thế thiếu tá Võ Đức Lai) và một trung đội pháo binh 105 ly đóng quân ,không thấy đấm đá gì, nhưng không hiểu tại sao chúng tôi không liên lạc được họ. Quá đau lòng trước sự thất thủ của quân bạn gần đó không được yễm trợ nên sau khi đại tá Nghìn quay về trung tâm hành quân tiểu khu, tôi cùng phi hành đoàn mỗi người một khúc bánh mì bay trở lai hướng Dakson.
Trực thăng bay vòng nhiều lần trên vùng này, càng lúc càng thấp để cố gắng liên lạc và quan sát tình hình. Thấy tiểu đoàn 2/53BB vẫn đang tư thế bố trí sẵn sàng chiến đấu, tôi yêu cầu phi cơ trưởng (hình như anh Hùng Thầy Tu hay anh Vệ ) tìm cách đáp xuống. Anh bay thêm mấy vòng để xem hướng nào thuận tiện và an toàn, rồi anh… đột nhiên nhào xuống rất nhanh trông như chú diều hâu đang xà xuống gắp mồi. Đang tư thế sắp đậu, bổng nhiên nhiều loạt pháo đối phương rớt cạnh máy bay khiến anh ta cho tàu lướt về phía trước cất cánh lên lại, xém đụng rừng cây trước mặt. Một phen xém chết đã qua! Anh quay lại nhìn tôi với nét mặt thầm trách “nguy hiểm vậy mà bảo đáp”. Anh phi công này rất lanh lợi và bình tĩnh, nếu không thì cả tàu không chết vì pháo địch cũng chết vì các cành cây. Từ đó đến khi rút bỏ tiểu khu Quảng Đức, tôi không liên lạc được với cánh quân này.
Ngày thứ nhất trôi qua, ngày thứ hai trông chờ quân ta tăng viện như cấp trên đã định. Bất hạnh thay! ngày thứ hai đó lại là ngày thất vọng nhất khi Cọng quân tấn công thẳng vào thị xã Ban mê thuột và phi trường Phụng Vực. Riêng các lực lượng khác của ta đồn trú tại Quảng Đức đều bị địch cầm chân cả không thể nào lấy đi giúp Đức Lập được. Càng chờ đợi, sự tổn thất càng tăng lên trước những loạt pháo đũ cở cuả địch; mặt khác không còn trông chờ vào sự tăng viện của quân bạn được nửa, trung tá Vực cùng thuộc cấp đành rút khỏi quận, băng rừng về căn cứ Đạo Trung mấy ngày sau và được trực thăng đón về TK/Quảng Đức.(Đạo Trung cách QĐ trên 15 cây số) .


+ Rút quân


Đức Lập và Ban mê thuột đã mất, từ trái (Phước Long) sang phải, cả về hướng trước mặt của tỉnh Quảng Đức đã hoàn toàn lọt vào tay VC, chỉ còn một phần phía sau giáp với tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng, phân ranh bởi sông Kinh Đà-Con lộ duy nhất nối liền hai tỉnh Quảng Đức, Lâm Đồng đã bỏ phế từ lâu và do VC kiểm soát.
Như vậy tỉnh Quảng Đức đã mất gần phân nửa lãnh thổ. Trước tình trạng tỉnh bị cô lập tam hướng lại không còn được yễm trợ quân sự và địch ngày càng bám sát đánh phá ta nhiều nơi trong tỉnh, khiến tinh thần chiến đấu quân dân có phần sa sút. Các vị thân hào nhân sĩ trong tỉnh đã liên lạc với trung ương xin tỉnh Quảng Đức được rút bỏ sớm hầu giảm thiểu sự thiệt hại. Chưa thấy kết quả ra sao, bổng trưa ngày 25 tháng 3 năm1975, khi biết tin quân đoàn II bị tổn thất nặng nề lúc rút lui và toán liên lạc không quân (ALO) tiểu khu Quảng Đức đột nhiên lên trực thăng rời tỉnh mang theo tất cả phương tiện điều động không yểm, khiến tinh thần quân dân trong tỉnh càng thêm nao núng.
Hôm đó, trong lúc Đại tá Phạm Văn Nghìn đang đi họp ở QĐ II chưa về, Trung tá Phạm Đức Dư-Tham Mưu Trưởng tiểu khu-liền tổ chức buổi họp khẩn cấp. Ngoài sự hiện diện của trung tá Dư còn có trung tá Hoàng Kim Thanh, liên đoàn trưởng LĐ 24 BĐQ đóng tại quận Kiến Đức; thiếu tá Trần Văn Bường chỉ huy trưởng pháo binh Kiêm tham mưu phó hành quân Tiểu khu; thiếu tá Phạm Văn Tư trưởng phòng 3 TK (đừng nhằm với thiếu tá Phạm Văn Tư khóa 19 Đalạt trưởng phòng hai tiểu khu vượt ngục bị bắn chết tại trại tù Suối Máu Biên Hòa năm 1976). Vừa vào họp trung tá Dư tuyên bố: “Hôm nay chúng ta hành quân về phương Đông”. Chỉ một câu đơn giản ai cũng hiểu đó là lệnh rút lui, không cần sơ đồ phóng đồ gì cả. Thành ra, với vị trí đóng quân hiện tại, liên đoàn 24 BĐQ đi theo phương giác từ, từ quận Kiến Đức về Lâm Đồng, các đơn vị cơ hửu hoặc tăng phái tiểu khu cũng từ nơi đóng quân di chuyển về Lâm Đồng.
Sau khi rời phòng họp, tôi cho lệnh thiếu tá trưởng phòng 3, Phạm Văn Tư ra lệnh các đơn vị tăng phái cũng như các đơn vị trực thuộc đóng quân quanh thị xã, đi theo đường mòn xe be đến bờ phà sông Kinh Đà về quận Di Linh (Lâm Đồng), các đơn vị còn lại tùy tình trạng an ninh tại chỗ rút về Lâm Đồng. Trung tâm hành quân, trung tâm tiếp vận tiểu khu, đặc biệt kho xăng và kho đạn phải phá huỷ; không được phá phách bệnh viện, phố xa, chợ búa. Cần nói thêm, trong thời gian này tiểu khu Ninh Thuận tăng phái cho tiểu khu Quảng Đức hai đại đội biệt lập (4 đại đội luân phiên), một của đại uý Nguyễn Văn Đức (Phan thiết K20 ĐL), một của đại uý Tôn Thất Kỳ (Huế), đại uý Trần Công Triệt (Phan rang, K18ĐL) và…
Riêng pháo binh, tôi cho lệnh các trung đội trưởng phá huỷ súng bằng loại lựu đạn M14. (lựu đạn có chứa chất chì đặc biệt chảy ra bám vào nòng súng không xữ dụng được). Chỉ có trung đội pháo binh của trung uý Bá đóng trên đường hành quân được giữ nguyên kéo theo đoàn quân thôi.
Đoàn quân dân rời bộ chỉ huy Quảng Đức được khoảng năm giờ đồng hồ, một tin không vui đưa đến. Từ đầu máy bên kia, trung úy Bá báo cáo: “chiếc cầu nhỏ bắt qua suối bị hư không thể nào kéo súng qua được Bắc Bình ơi”!
Chết cha! Đi hành quân không có đại bác yểm trợ cả một sự bất lợi khi địch xuất hiện ngoài tầm vủ khí cá nhân hay dùng biển người tấn công ta. Tôi than thầm như vậy, nhưng mặt khác vẫn cố giử bình tỉnh ra lệnh cho anh Bá cố gắng thám sát hai bên cầu tìm mọi cách kéo súng qua. Bấy giờ trời vừa tối, ánh hoàng hôn cuối cùng vừa bị khuất sau rặng núi cao. Tôi vừa cho đoàn quân tạm nghỉ. Chừng nửa giờ sau, trung úy Bá cho biết không có nơi nào đem súng qua được vì con rạch tuy nhỏ nhưng đất mềm dễ bị lún.Tôi đành cho lệnh phá súng pháo binh và tiếp tục bám sát theo đoàn quân trước. Đi được hơn một giờ đồng hồ đoàn quân nghỉ qua đêm và tới bờ sông Kinh Đà khoảng năm giờ chiều ngày hôm sau.
Đang chuẫn bị vượt sông để theo đường mòn về hướng Quận Di linh như lời đề nghị của thiếu tá Nguyễn văn Ấn (Quận trưởng Di Linh cùng K18 ĐL với Trần Nguyên Khoa và tôi), bổng từ bên kia bờ sông có tiếng la của đám VC dội lại:“Muốn qua sông phải bỏ súng xuống, đi từng người một, đưa hai tay lên đầu”. Nghe chúng hô “Đưa tay lên đầu”, mình đâm tức xổ nho: Đ.. m… đầu hàng cái … . Quan sát thấy chúng chỉ có chừng mươi lăm người nối tiếp nhau đi chung quanh các gốc cây cổ thụ bên bờ sông để chúng ta lầm tưởng họ nhiều lắm. Biết vậy, nhưng vì khúc sông này rộng khoảng bốn năm trăm thước; nước sâu tới rốn chảy hơi xiết khó lòng vượt nhanh để lấn áp chúng. Tôi tiếc thầm, nếu súng pháo binh không bị bỏ laị, ta chỉ cần trực xạ mấy quả cha con chúng nhảy hết, tha hồ lội qua sông. Nhưng dù sao cũng may cho chúng ta phát hiện được chúng bên đó, nếu không, đoàn quân ta cứ tà tà lội qua như chỗ không người thì sẽ… nếu không bị bắt làm tù binh thì cũng bị đi mò tôm cả đám giửa giòng sông. “Biết Người biết Ta trăm trận trăm thắng”, ông bà ta nói như vậy. Biết mình ở thế bất lợi, thôi đành nhịn nhục tìm đường khác đi để tránh thiệt hại, đó là thắng vậy.
Sau khi bàn với trung tá Dư, tôi cho lệnh đại úy Ngô văn Nhị (K12TĐ), chỉ huy phó của tôi, hướng dẩn toán quân hỗn họp Địa phương quân và pháo binh đi lui về sau, dùng phương giác từ đi về hướng Tây dọc theo bờ sông tìm chỗ vượt sông dễ hơn để đánh bộc hậu địch cho đoàn quân sau vượt qua. Mục đích cho đi luì về sau để đánh lạc hướng địch và dân chúng khỏi bám theo. Nếu dân chúng bám theo sẽ làm lộ kế hoạch; hơn nửa họ không thể gồng gánh, bồng bế con cái lên đồi xuống dốc được. Bảo vệ an ninh họ, phía sau còn có quân của chi khu Khiêm Đức do thiếu tá quận trưởng Nguyễn Khắc Hiếu (K19 ĐL) chỉ huy, bên cạnh đó còn có mặt cả hai vị trưởng và phó ty an ninh quân đội (thiếu tá Đậu Văn Đề, thiếu tá Nguyễn văn Điệp) và nhóm Cảnh Sát Quốc Gia của trung tá Giang.
Trong khi cánh quân của tôi đi về phía phải (hướng Tây) thì tiểu đoàn 259 ĐPQ của thiếu tá Phan Văn Giỏi đi về phía trái (hướng Đông) dọc sông Kinh Đà về cầu đại Ninh, ranh giới Đà lạt và Lâm đồng. Đi nhiều hướng địch không thể theo dỏi hết.
Màn đêm dầy đặc, đoàn quân di chuyển rất chậm, nhiều lúc phải xữ dụng đèn pin tìm lối đi. Thỉnh thoảng nghe nhiều tiếng kêu “oan oát” từ xa của các chú mang (nai con) lạc đàn hoặc thấy những đôi mắt ngơ ngác dại khờ của các chị mển đang nhìn chăm chăm ánh đèn pin. Bình thường gặp như vậy số mạng các chị xem như đã xong rồi; đằng này có lệnh không được nổ súng chỉ trừ trường hợp gặp địch. Nhờ vậy các chị được thêm tuổi thọ.
Lội suốt đêm gần tới năm giờ sáng, đại úy Ngô Văn Nhị báo cáo đã tới khúc sông có thể vượt được. Đại úy Nguyễn Duy Huynh, xử lý thường vụ trung tâm tiếp vận thay thế thiếu tá Trương Minh Dũng đi học, tiến về phía trước tăng cường cho đại úy Nhị tìm cách vượt sông. Vì đường đồi lên xuống khó khăn, tối om như mực lại đi theo phương giác từ trong màn sương bao phủ nên khi gặp bờ sông, chỉ cách điểm đứng chiều hôm qua ba bốn cây số thôi. Khúc sông hơi cạn, đá lỏm chỏm, nước chảy hơi siết có thể vượt được. Đại úy Nhị cho anh hạ sĩ quan pháo binh buộc sợi dây thừng lội qua bờ sông bên kia cột vào gốc thông nào đó cho đoàn quân sau nắm đi qua. Chẳng may anh này bị trượt chân và chết giửa giòng sông. Toán quân gần đó đổ xô tới tiếp cứu nhưng vô vọng. Sợ bị lộ điểm vượt sông bởi những tiếng la ồn ào khi tiếp cứu, đoàn quân tiếp tục đi tìm nơi an toàn hơn để vượt. Đi mải đến chiều mới gặp khúc sông sâu rộng, nước chảy lờ đờ có thể vượt qua dễ hơn.


+ Vượt sông Kinh Đà về Bão Lộc.


Theo các quân nhân từng sống ở đây cho biết khúc sông này có thể có cá sấu nguy hiểm. Dù vậy, nhưng không thể nào đi xa hơn về hướng Tây sợ bị ngộ nhận với liên đoàn 24BĐQ cũng đi về Lâm Đồng phát xuất từ phi trường Nhơn Cơ. Hơn nửa, càng đi xa về hướng Tây điểm đến Bảo Lộc càng xa, thà vượt sông nơi đây ruổi gặp cá sấu đói chỉ nuốt vài người xấu số còn hơn quanh quẩn lâu trong rừng càng nguy hiểm mà chưa chắc có nơi nào tốt hơn. Lệnh chặt cây kết bè ban hành, chỉ có những người yếu hoặc không biết lội mới được ngồi trên bè thôi.
Bộ chỉ huy qua bờ sông bên kia trời đã khuya, tất cả đoàn quân nghỉ đêm, đồng thời giử an ninh cho số người qua sau. Dù hai ngày qua chưa có hạt cơm nào trong bụng nhưng không cảm thấy đói. Phải chăng cái đói nhường chỗ cho sự mệt nhọc lo âu. Qua theo dỏi hệ thông truyền tin, được biết đoàn quân dân hôm qua kẹt tại bờ Kinh Đà, được đại tá tỉnh trưởng lần lượt chuyển qua Bảo Lộc (LĐ) nên ý nghỉ quay lại cứu họ không còn nữa. Với tình hình hiện tại, tôi nghỉ, địch không còn lẩn quẩn trong rừng như trước mà đã ra thị thành uy hiếp quân ta. Nghỉ vậy nên sự e ngại bị phục kích không còn cao và khi gà rừng vừa dứt tiếng gáy báo hiệu bình minh đang đến, tôi cho lệnh đoàn quân phía trước tiếp tục đi theo đường mòn về hướng xã Tân Rai (LĐ) mặc dù phải băng qua các hậu trạm của VC. May mắn không có gì trở ngại trên đường hành quân, nhờ vậy thời gian đến Lâm Đồng rất nhanh (3 đêm bốn ngày). Toán quân đi trước băng qua các nhà lô VC chỉ gặp mấy chàng thương binh bắn vài phát súng lẻ tẻ rồi đâm đầu dọt hết. Các trạm này (nhà lô) chứa đầy ấp các bao gạo Mỹ, còn mới tinh, lính đốt bỏ.
Trên đường về Tân Rai vài quân nhân cho tôi biết: “đêm vượt sông, khi bè gần đến bờ có nghe vài tiếng ơi ới rồi buông tay không hiểu nguyên do và cũng không phân biệt được ai vì trời tối thui”. Có thể một vài quân nhân xấu số nào đó bị đuối sức buông tay hay có thể bị cá sấu đói ăn thịt chăng! Chỉ một trong hai điều đó hay cả hai! Thật đáng thương.
Trung tá Phạm Đức Dư xuất thân từ sỉ quan tài chánh, làm Tham Mưu Trưởng Tiểu khu Lâm Đồng từ khi còn đại uý cho đến khi chuyển qua làm tham mưu trưởng tiểu khu Quảng Đức gần một tháng thôi (tôi xử lý chức vụ này trước khi ông đến). Trung tá Dư đã lớn tuổi, chưa quen lội hành quân, thành ra ông đã để tôi điều động tất cả đoàn quân từ lúc bắt đầu di chuyển. Và sau mấy ngày vất vả trong rừng, trung tá Dư bị mệt xỉu khi đoàn quân vừa tới xã Tân Rai (LĐ) và được nghỉa quân xã này (đệ tử cũ) đưa về nhà riêng của ông tại quận Bảo Lộc chăm sóc. Từ đó tôi không còn gặp ông.
Sau đó bộ chỉ huy nhẹ chúng tôi được đại tá Nghìn cho trực thăng đón về tỉnh. Riêng đại úy Ngô Văn Nhị vẫn tiếp tục chỉ huy cánh quân về thẳng thị xã Bảo Lộc. Đến phi trường Bảo Lộc trời đã xế chiều. Thời tiết mát dịu với những cơn gió hiu hiu thổi qua mang theo mùi hương thơm ngào ngạt từ các cánh đồng trà vừa mới đâm bông đầy hương sắc. Tình hình rất yên tỉnh, chợ phố sinh hoạt bình thường, chỉ nghe lai rai những tiếng đạn đại bác của ta từ xa dội lại, có thể đang yễm trợ cho một tiền đồn nào đó đang bị địch tấn công. Chúng tôi yên tâm như không có gì xảy ra, thông thả dùng một bửa cơm chiều no nê với lẩu canh chua cá bông lau nóng bỏng, dỉa thịt kho tàu kèm theo ít rau chua thật ngon miệng, bù đắp lại phần nào những ngày đói khác hiểm nguy băng rừng vượt suối. Với tình hình còn sáng sủa đó, sau khi dùng cơm xong chúng tôi vào đánh một giấc ngon lành đến sáng như chưa bao giờ có. Sáng ra, đại úy Nguyễn Duy Huynh, tôi và các quân nhân thuộc cấp ra ăn sáng tại một quán xập xệ ngoài chợ. Tứ bề yên tỉnh không nghe một tiếng súng nào nổ cả. Dự định ăn xong sẻ dạo phố kiếm đôi giày nhà binh khác thay thế cho đôi giày Mỹ lội mấy ngày nay đã bị há mõm rồi. Nào ngờ, đang ăn ngon miệng bà chủ quán bổng nói
- “Xe tăng VC vào thành phố từ hôm đến giờ, sao mấy ông còn ngồi đây”?
- “Vậy hả! Bà nói đùa hay nói thật đó?” Tôi hỏi lại bà chủ quán.
- “Ai đám đùa với mấy ông chuyện quan trọng như vậy”. Bà chủ nói tiếp.
Nghe xong, tôi vẫn bình tĩnh. Tính tiền xong (không thuộc loại cao lâu ăn quỵt thổ đỉ chơi lường), vội rời quán. May thay lúc đó có một chiếc xe Jeep của toán liên lạc không quân (ALO) thuộc TK/LĐ trờ tới, trong xe chỉ có một tài xế thôi. ĐạI úy Huynh là bạn của thầy anh tài xế này từ lâu nên chận lại hỏi:
- ‘Thầy mầy đâu rồi?’
- “Dạ, ổng bay khi hôm rồi”. Người tài xế trả lờì.
- “Vậy mầy theo tao”, đại úy Huynh nói như ra lệnh. Anh tài xế bước ra sau nhường tay lái cho tôi, Huynh ngồi ghế bên cạnh, các quân nhân còn lại ngồi hết phía sau. Tôi trực chỉ ra phi trường Bảo Lộc cách đó không xa vì lính Quảng Đức về tập trung nơi đây từ tối qua đến giờ. Vừa đến cổng phi trường, tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy lính Lâm Đồng từ trong phi trường túa ra. Họ nói tăng VC tới đầu phi đạo rồi,l ệnh trung tá tỉnh trưởng Vương Đăng Phong bảo họ về ĐàLạt. Tôi chưa tin vì tình hình còn yên lặng quá, chỉ thấy phe ta ùa ra ngày càng đông mà chả nghe tiếng “xe tăng xe tiết” gì cả.
Đang do dự, bổng thiếu tá Nguyễn Văn Ấn từ bên kia máy PRC25 rủ rê tôi:
- “Mầy đến đâu rồi, đến quận ăn cơm rồi tử thủ với tao”. Tôi trã lời nửa đùa nửa thật:
- “Mầy lạnh cẳng rồi hay sao rủ tao, mầy hảy chuẫn bị heo gà nhiều đi, Cậu sẻ đến ngay”.Thế là tôi lái xe hướng về quận Di Linh (Di linh nằm khoảng giửa Bảo Lộc và ĐL). Xe đang phon phon trên đường nhựa, bổng lệnh của đại tá Nghìn từ trực thăng bảo tôi:
- “Sao bây giờ anh mới mở máy”? Tôi chưa kịp trã lời, đại tá lệnh tiếp:
- “Anh phải tập trung các đơn vị của mình vào phòng thủ với quận Di Linh”. Nhận được lệnh trên, tôi cố lái xe nhanh hơn (thua Cao Bồi một xíu thôi, nếu chậm các xe lính phía trước dọt hết sao!), qua mặt một số xe chở lính đằng trước rồi thắng gấp giửa đường và xuống xe bắt đầu chận các xe chở lính lại.
Chiếc xe đầu tiên tôi chận lại là lính thuộc TKLĐ. Họ thấy tôi mang hia đôi mảo trông oai vệ chứ chưa biết tôi là ai nên còn cự nự chưa muốn xuống xe; viện cớ lệnh trung tá Phong bảo họ về Đàlạt. Nói vậy chứ cuối cùng thấy gương mặt tôi có chút Cô Hồn vương vấn nên họ đành xuống (không phải hiền lành như nai tơ khi gặp các cô đâu). Chỉ có lính Quảng Đức khi thấy tôi ra hiệu tự động xuống xe. Bố trí quân tạm xong,t ôi và Huynh từ từ vào gặp Quận Ấn. Vừa đi vừa mừng thầm “trong hoàn cảnh này hai thằng cùng khóa, chiến đấu bên nhau càng vững tâm hơn”. Tại quận, tình cờ gặp trung tá tỉnh trưởng Vương Đăng Phong rời Lâm Đồng đến đây từ bao giờ. Tôi chỉ nghe tên ông thôi, chứ đây là lần đầu tiên được gặp. Tôi chào và trình trung tá Phong về ý định phòng thủ của Đại tá Nghìn. Vừa nghe xong ông hỏi tôi:
- Anh đãm nhận chức vụ gì bên tiểu khu Quảng Đức?
- Chỉ huy trưởng pháo binh kiêm tham mưu phó hành quân TK/QĐ. Tôi trã lời.
- Anh có quân đây không?
- Dạ có, đang bố trí ngoài kia.Tôi lại đáp.
- Tỉnh trưởng anh đang ở đâu? ông lại hỏi tiếp.
- Đang bay trên vùng để hướng dẫn các cánh quân còn kẹt trong rừng. Tôi lại tiếp như vậy.
Không cần suy nghỉ, Trung tá Vương Đăng Phong nói:
- ‘Tình hình như thế này, Tỉnh trưởng anh có máy bay, có chuyện gì ông ta bay đi, còn tôi với anh … thì sao? Không cần tôi có ý kiến ông tiếp:
- “Vậy anh muốn ở lại thì ở, tôi đi. Nói xong, ông ra lệnh thiếu tá Nguyễn văn Ấn nhổ antenna 292 và chuẫn bị di chuyển’. Trầm ngâm một lát, tôi báo cáo đại tá Nghìn quyết định của trung tá Phong như vậy. Im lặng một hồi lâu, đại tá Nghìn nói:
- Thôi, ai sao mình vậy.!!!
Suy nghỉ một lúc không tìm ra kế hoạch nào khác, chúng tôi âm thầm rời quận không buồn nói câu nào từ giã quận Ấn .“Cả đoàn quân ra sau bị kẹt hết rồi”, tôi thầm nghỉ như vậy. Đứng trước đàn em thuộc cấp đang bố trí chờ lệnh, tôi chậm rải nói trong nghẹn ngào:
“Thôi… các anh tìm mọi phương tiện… về Đà lạt”.


+ Trở lại Đà lạt


Tới cầu Đại Ninh trời vừa xế bóng, thấy trung sĩ Vũ Nguyên Cường đang đứng xớ rớ cạnh hai chiếc xe thiết giáp V100 của TKLĐ. Anh cho biết hai chiếc xe V100 được tăng cường giử cầu Đại Ninh mấy ngày nay và trung tá tỉnh trưởng Vương Đăng Phong đã qua cầu rồi. Lúc bấy giờ, đại úy Ngô Xuân Diên, yếu khu trưởng khu cầu Đại Ninh, đứng đầu thành cầu chuyển lệnh trên:
- “Quân Quảng Đức được qua cầu còn quân Lâm Đồng chưa thấy địch đã bỏ chạy phải ở lại chiến đấu”. Dù không bị ràng buộc bởi lệnh trên nhưng chúng tôi quanh quẩn nơi đó nửa giờ sau mới bắt đầu về Đalạt.
Đã lâu lắm rồi tôi mới trỡ lại xứ sương mù Đà Lạt; quanh năm thời tiết mát lạnh rất thích hợp với bao loài hao quý kể cả loài “Hoa Biết Yêu”. Đà Lạt, nơi có Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam thân thương đã từng một thời nổi tiếng đẹp và lớn nhất Đông Nam Á (trước năm1975). Ở đó tôi được mặc vào người bộ đồ lính đầu đời, được huấn luyện từ lúc chập chững bước vào đời binh nghiệp đầy gian lao nguy hiểm, bỏ lại sau nếp sống thư sinh nơi Saigòn hoa lệ và ở đó tôi vào đời với một niềm tự hào mảnh liệt, một tương lai huy hoàng đầy hứa hẹn của trai thời lọan như ta từng học:
“Làm trai cho đáng lên trai,
Xuống Đông, Đông tỉnh, lên Đoài, Đoài yên”.
Đà Lạt chiều Xuân trời man mác lạnh, thỉnh thoảng từng cơn gió nhẹ thổi qua làm bay bay những mái tóc bồng bềnh của các nàng kiều nữ cao nguyên quanh năm môi thắm má hồng, đang rảo bước trên các con đường đồi thoi thỏi quanh co.Hình ảnh gợi tình đó hôm nay hơi vắng.
Chung quanh cái hồ nổi tiếng thơ mộng ngàn đời mang tên Nử sĩ tài hoa đầy nhựa sống-Hồ Xuân Hương-hằng ngày thường đầy ấp nam thanh nử tú, những cặp tình nhân, những đôi uyên ương vừa mới kết tóc se duyên, đến đây tâm sự, tay trong tay, cặp từng cặp, dìu nhau theo nhịp đập con tim-nay vắng vẻ làm sao!!! Hàng hoa Anh đào tươi mát rộ nở trong khí tiết xuân đang khoe sắc trắng hồng nằm ngạo nghể bên lề đường từ rạp Hòa Bình đến bờ Hồ, chắc không mấy ai còn đũ tinh thần chiêm ngưởng hay ca tụng vẻ đẹp kiêu sa đài các của nó.
Rất tiếc, thời gian và hoàn cảnh không cho phép đến thăm lại những thắng cảnh tươi mát bốn mùa như: Thung Lủng Tình Yêu, Hồ Than Thở, Thác Prenne, Thác Camly, Trại Hầm, Chùa Sư nử … vân vân và vân vân; những nơi đã từng có ít nhiều vương vấn bao kỹ niệm vui buồn khắc sâu trong tìm thức ở tuổi đôi mươi, lúc còn trong quân trường Đàlạt, nhất là vào những dịp dạo “phố Hoa Đào” cuối tuần. Còn nhớ lúc bấy giờ, có rất nhiều người đẹp từ các nơi, thỉnh thoảng trong đám xuân xanh ấy, cũng có mấy Nàng trông khá quen, thuộc dạng Hoa Khôi Xứ Mắm Phan Thành (như H.M,H.U,H.L.. .v.v.) vào thăm các Chàng Võ bị Hào Hoa. Những đoạn phim tình cảm tuy ngắn ngủi nhưng mang nhiều kỹ niệm xa xưa đó hiện ra trong tìm thức tôi không lâu, rồi tan biến nhường chỗ cho nổi âu lo của những ngày hiểm nguy sắp đến, như cụ Nguyễn Du đã viết:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Thật vậy, Đàlạt đang ngột ngạt trong không khí chiến tranh, những người giàu có và các sinh viên từ xa đến học hầu như di tản gần hết, phố xá mở cửa lưa thưa, người bộ hành vội vã trên đường về, thỉnh thoảng đó đây những chiếc xe đầy lính lui tới tuần tra trên đường phố trong thế sẵn sàng.
Qua một đêm ngon giấc trên nệm ấm giường êm tại khách sạn La Palace bên cạnh bờ hồ Xuân Hương; sáng hôm sau điểm tâm ở cà phê Tùng xong, tôi bay về Lâm Đồng hướng dẩn các cánh quân còn trong rừng ra.
Bầu trời Lâm Đồng hôm nay rất quang đãng, tầm nhìn rất tốt. Từ trực thăng nhìn xuống thấy đoàn người đang hối hả vừa đi vừa chạy trên đường hướng về Đà lạt. Trong quận Di Linh loáng thoáng một ít bóng người ăn mặc hỗn tạp ra vào. Trực thăng xuống thấp hơn các bóng người này trốn mất. Đoán chắc đó không phải là quân ta mà cũng không phải là dân hôi của, thành ra khi liên lạc được với các cánh quân bạn, tôi hướng dẩn họ đi về hướng cầu Đại Ninh an toàn hơn.
Khi biết tôi đang bay trong vùng Bảo Lộc, từ cánh quân dưới đất Thiếu tá Nguyễn Khắc Hiếu (K19ĐL) cho biết đã bị sốt rét mấy ngày nay không thể tiếp tục đi được, yêu cầu tôi bốc dùm anh đồng thời cho xin mấy cục pin PRC 25. Anh cho biết đã giao quyền chỉ huy lại cho Đại úy Tích, sĩ quan phụ tá của anh rồi. Quan sát một lúc thấy bải đáp khá trống trải, tôi yêu cầu phi cơ trưởng (hình như anh Huỳnh Chí Thành hay Trần Hoài phi đoàn 215 trực thăng) đáp cạnh quã đạn khói màu vừa đánh dấu baỉ đáp. Thiếu tá Hiếu vào xong, trực thăng cất cánh lên ngay lại bị mấy loạt súng AK47 bắn theo tới tấp. Lại một phen lên ruột vì địch bắn ta mà ta không thấy hướng địch. Nếu bắn lại không trúng địch mà trúng quân bạn lại càng ân hận, vì vậy phi cơ chỉ tiếp tục bay. Bình phi xong trực thăng bay thêm nhiều vòng nửa hầu tìm thêm có cánh quân nào cần giúp không, nhưng vì thiếu tá Hiếu quá mệt chúng tôi phải rời vùng trở về Đàlạt. (Anh Hiếu qua Mỹ dịp tháng 4/75 tại Nam Cali và tử bệnh năm 2003. Một niên đệ thân tình ra đi!). Và ngày hôm sau bộ chỉ huy tiểu khu chúng tôi đi đường bộ về Nha Trang.
Sở dỉ phải quan sát kỷ quận Di Linh như đã nói trên vì tôi biết hôm qua, sau khi quận này bỏ ngỏ, tiểu đoàn 202 ĐPQ/Tuyên Đức đóng tại cầu Đại Ninh (Di Linh cách cầu Đại Ninh chừng 60 cây số) được lệnh tái chiếm quận này mà không biết giờ đó đã vào được chưa!
Sau này mới biết địch đã chiếm quận rồi như đã quan sát thấy, vì chính trung uý Nguyễn Thắng Lợi (sỉ quan quân số kiêm xử lý thường vụ trưởng ban ba tiểu đoàn 202ĐPQ) xác nhận. Anh cũng cho biết thêm: trên đường tiến đến quận Di Linh tiểu đoàn anh đánh bắt được chiếc xe be trang bị súng 57 ly không giật, giả làm tăng T54 của địch để hù ta; nhưng tiểu đoàn chưa chiếm lại được quận; một phần vì các nút chận của địch khá mạnh, một phần vì áp lực tâm lý rút lui của quân bạn lúc đó. Xin nói thêm, tiểu đoàn 202ĐPQ/TĐ là một đơn vị đánh giặc nổi tiếng ở quân khu II, dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Lê Xuân Phong. Anh Phong là một vị chỉ huy dũng cảm và lanh lợi, đã từng hai lần vượt ngục nhưng không thoát nổi để rồi chịu nhiều trận đòn thù trối chết. Tôi từng ở tù chung với anh tại trại giam huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ Tĩnh vào thập niên 1980. Lúc ở tù anh thuộc diện cứng đầu lao động tà tà cho qua ngày mà mình thường dùng từ “cà nhỏng chống xăm lăng” chứ không phải thuộc diện lao động là vinh quang’ như VC dụ khị.


+ Liên Đoàn 24 BĐQ.


Lâm Đồng mất không chỉ làm cho lực lượng TK/QĐ chới với mà còn làm cho LĐ24 BĐQ một phen xính xáng. Xin mở dấu ngoặc ở đây để giới thiệu sơ qua về LĐ24 BĐQ. Đứng đầu tàu là trung tá Hoàng Kim Thanh, liên đoàn phó là trung tá Đào Đức Châu. Liên đoàn gồm ba tiểu đoàn sau:
- Thiếu tá Trần Đình Đàng (K15ĐL) tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 63 (TĐ63BĐQ).
- Thiếu tá Hoàng Đình Mẫn (K2 Đồng Đế Nhatrang) tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 81.
- Thiếu tá Vương Mộng Long (K20ĐL),tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 82 (TĐ82BĐQ).
- Pháo đội PB 105 ly của đại úy Giang yễm trợ trực tiếp cho liên đoàn này..
Như phần trên đã nói, LĐ24 BĐQ được tăng cường cho TK/QĐ, nhiệm vụ chính bão vệ quận Kiến Đức. Sau khi rời phòng họp TK/QĐ,trung tá Hoàng Kim Thanh về lệnh cho các đơn vị trực thuộc thi hành kế hoạch như đã định (không phải TK/QĐ bỏ quên LD24BĐQ).
Khi liên đoàn còn ở điểm vượt sông Kinh Đà, quân ta vô ý để lựu đạn nổ khiến trung tá liên đoàn trưởng và trung úy Minh-sĩ quan truyền tin LĐ và vài binh sĩ bị thương phải chờ tải thương. Ngày hôm sau thiếu tá Hoàng Đình Mẫn cũng được rời liên đoàn vì cơn bệnh sốt rét cấp tính và hai ngày sau nửa trung tá Đào Đức Châu cáo bệnh cũng được bốc đi.
Liên đoàn như rắn mất đầu cụt đuôi (từ của Thiếu tá Trần Đình Đàng xát nhận tình trạng LĐ lúc đó). Tuy là khóa đàn em, kém thâm niên cấp bậc và quân vụ so với các vị tiểu đoàn trưởng khác nhưng nhờ tài chỉ huy, lanh lợi, gan dạ chịu đánh đấm, thiếu tá Vương Mộng Long được cấp trên chỉ định chỉ huy liên đoàn này từ lúc đó. Vì phải di chuyển theo phương giác từ lại xuyên qua rừng thông rậm rạp và chờ tải thương nhiều lần nên khi ra tới Bảo Lộc thấy cờ VC đã “cấm dùi” tự hồi nào, liên đoàn đành phải chuyển hướng về Đức Trọng, rồi Thiện Giáo (Bình Thuận).
Phải lòng vòng trong rừng mất nhiều ngày quần áo tả tơi, lương thừc khô cạn. Mải đến ngày 5 tháng 4 năm 1975 từ chiếc L19 của quân đoàn IÌI, trung tá BĐQ Nguyễn Khoa Lộc (K18ĐL) mới liên lạc được với LĐ 24 BĐQ và khẩn cấp xin trực thăng bốc đơn vị này ra. Sau mấy ngày dưởng thương bình phục, trung tả Hoàng Kim Thanh trỡ lại nhiệm vụ lần lược trực thăng vận liên đoàn về Phan Thiết an toàn.
Tiểu đoàn 82 BĐQ của thiếu tá Vương Mộng Long được xem như đơn vị chũ lực và cũng là đứa con cưng của liên đoàn được không vận ra trước tiên tại phi trường Phan thiêt, lấy xăng rồi tăng cường cho sư đoàn 18BB tại Long Khánh trong ngày 6/4/75. Tại đây tiểu đoàn này đã đánh một trận oai hùng với VC mà chúng ta biết được lúc còn trong tù hay hải ngoại sau này. Nhưng với tình hình đất nước lúc bấy giờ, dù gan dạ và tài giỏi đến đâu cũng khó lòng chận đứng được sức tiến cũa Cọng Quân. Địch quân bị dội lại vì ăn phải hai quả bom tinh khôn (C.P.U) bất đắc dỉ của ta mà thôi.
Vì không đũ trực thăng bốc liên đoàn ra cùng ngày nên hai tiểu đoàn 63 và 81 được chuyển ra sau bảo vệ phi trường Phan thiết. Sau đó không chịu nổi áp lực địch,hai tiểu đoàn này rút ra hướng biển để được trực thăng vận về Hàm Tân. Dù không được đi suông sẻ như Tiểu khu Quảng Đức, Liên đoàn 24BĐQ phải trải qua nhiều ngày đói rách tả tơi, băng rừng vượt suốt hiểm nguy, song vẫn duy trì được kỹ luật và tinh thần chiến đấu cao. Chính tiểu đoàn 82 BĐQ đã chứng minh điều đó qua trận đánh với VC tại Long Khánh trong những ngày cuối cùng. Họ chỉ buông súng đầu hàng vào giờ chót vì lệnh thượng cấp. Thật đáng ca ngợi thay!
Nhân đây tôi xin được giới thiệu về thiếu tá BĐQ Vương Mộng Long, cựu tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 82 BĐQ. Năm 1972-1973, tôi thường hành quân với tư cách sĩ quan liên lạc pháo binh cạnh bộ chỉ huy BĐQ/QKII dưới quyền chỉ huy của đại tá Phạm Duy Tất, lúc đó anh Vương Mộng Long là trưởng phòng 2 của BĐQ quân khu II. Anh đã từng chỉ huy quân báo nhảy từng toán nhỏ vào sào huyệt địch, đôi lúc anh nhảy cùng với họ để làm gương và tìm những tin tức sốt dẻo. Ngoài trận Long Khánh nói trên, nếu ai đã từng ở Pleiku tháng chín năm 1974 chắc không quên mình đã từng xuống đường chào mừng tiểu đoàn 82 BĐQ của thiếu tá Vương Mộng Long về thành phố khao quân sau trận tử thủ căn cứ Pleime.Tiểu đoàn anh đã đánh tan trung đoàn 48 thuộc sư đoàn 320 CSBV khi họ thí mạng cùi tấn công căn cứ này. Khi bị tù ngoài Bắc, với sự can đảm có thừa, anh đã hai lần vượt ngục trốn lâu cả tháng trời nhưng cuối cùng vẫn không vượt khỏi gông cùm Cọng Sãn. Mỗi lần bị bắt lại đều được “đấm bóp” kỷ, bị bề hội đồng xém chết. Dở mủ xin chào lòng dũng cảm đầy gan dạ của anh-thiếu tá Vương Mộng Long-khóa 20 Trường Võ Bị Đà Lạt- ‘Con Cọp Độc‘ của Biệt Động Quân - Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.


vnch


+ Đạn khói pháo binh trị tăng


Nói về xe tăng địch, tôi xin trình bày một sự việc dù muộn màng nhưng mục đích không phải để khoe mình, còn nói để lấy kinh nghiệm thì trể rồi không còn nửa.
Giửa tháng 12/1973 tại quận Kiến Đức tỉnh Quảng Đức (nay là Đắc Nông), sau khi chiếm đồn Buprang địch thừa thắng xông lên, tăng T54 tiếp tục tiến chiếm đồn Bu-Bông gần đó chừng hai cây số đường chim bay. Trung úy Nguyễn Văn Năm (Bến Tre), trung đội trưởng PB 105 ly tại đồn Bu Bông dùng đạn nổ bắn trúng tăng địch nhưng nó vẫn lù lù tiến về anh; anh báo tôi như vậy. Từ bộ chỉ huy nhẹ hành quân của QĐII tại tiểu khu Quảng Đức, tôi cho lệnh anh nạp đạn khói vào bắn (cách xe địch khoảng hai cây số).
Thế rồi, quả đạn khói thứ nhất đi, một chiếc tăng địch bị khựng lại; quả đạn khói thứ hai đi, một chiếc tăng nửa đứng yên và các chiếc tăng còn lại đâm đầu chạy trốn vào rừng gần đó, đơn vị anh reo hò mừng rỡ. Khi nghe anh báo cáo về trung tâm hành quân đã hạ được hai xe tăng địch (lần đầu tiên PB hạ xe tăng địch bằng đạn khói), chúng tôi rất vui mừng và thấy “cặp lon đại uý sắp lắp lánh trên cổ áo anh”. Nhưng… tiếc thay, đơn vị bảo vệ trung đội PB của anh bị đánh te tua không đũ khả năng chống lại địch buộc anh phải rút nếu không họ bỏ lại (pháo binh không trực tiếp chiến đấu một mình ngoài trường hợp bất khả kháng). Vì vậy anh đành ngậm ngùi nuốI tiếc phá súng tháp tùng theo họ. Nửa giờ sau các anh không quân vào vùng lại báo cáo hạ được hai tăng địch.!!! (trể rồi anh bạn, nhưng dù sao cũng cám ơn anh đã xác nhận có tăng địch CHẾT tại trận)
Thóang nghỉ của tôi khi cho bắn đạn khói lúc đó là vì trong đạn khói có chất lân tinh (phot pho); khi đạn trúng xe chất lân tinh tỏa ra tứ hướng trúng da thịt người, cháy âm ỉ không chịu nổi hoặc nếu trúng đức xích, xe sẽ không xữ dụng được. Sách vở cả Mỹ lẫn Việt không có dạy đạn khói pháo binh hạ tăng địch. Tôi cho bắn đạn khói vì vài thoáng nghỉ nói trên, nào ngờ đạn khói lại hiệu quã như vậy. Rất tiếc lực lượng ta lúc bấy giờ không tái chiếm lại đồn Buprang nên không thể khai thác được hiệu quả thật sự của đạn khói như thế nào ngoài việc làm xe tăng địch không xữ dụng được như trên.
Vì trận này quân ta tổn thất khá nặng (mất đồn Buprang) ngoại trừ pháo binh hạ được hai chiếc tăng địch nên thành tich của trung úy Nguyễn Văn Năm không được cấp trên lưu ý. Anh chỉ được thượng cấp cho đi du lịch Đài Loan năm 1974 trong đoàn “chiến sĩ xuất sắc” qua sự giới thiệu của tôi.
Đầu tháng 1/1974, trước mặt trung tướng Nguyễn Xuân Thịnh - Chỉ Huy Trưởng pháo binh quân lực VNCH - tôi xác nhận “đạn khói pháo binh trị được xe tăng” nên sau đó bộ chỉ huy pháo binh có ra văn thư về việc phải xử dụng đạn khói pháo binh bắn tăng địch, nhưng có lẻ văn thư này không được phổ biến rộng rải cho toàn thể quân lực VNCH nên quân ta rất còn e sợ khi nghe có tăng địch xuất hiện. Đã e sợ thì không còn tinh thần chiến đấu. Giới đá gà gọị những con gà mới thấy mặt đối phương đã bỏ chạy là gà rót. Thất bại từ tâm lý đó!!!


+ Về vùng cát trắng


Kẻ viết bài này xin được nói rõ hơn một chút về mình sau khi rời Đalạt. Chúng tôi đến Nha Trang trời vừa chạng vạng, đường xá tấp nập xe chạy, người đi, hầu hết là quân đội và dân chúng chạy giặc từ cao nguyên về hoặc từ vùng ngoài vào. Tôi lê la ra quán cơm Viêt Nam nằm sát bờ biển, mục đích không phải để nhìn trăng “di chuyển qua các làn mây” (lúc nhỏ tôi tưởng như vậy) mà cũng không phải để ngắm dáng Chị Hằng phản chiếu dưới mặt nước hay nghe những tiếng sóng vổ rì rào pha lẫn những tiếng rao “đậu hủ nóng hôn” của các cô bán tào phủ về đêm, mà chỉ muốn cho tâm hồn bớt căng thẳng và kiếm chút gì bỏ bụng sau một ngày mệt mõi. Tình cờ gặp hai người bạn cùng khóa năm xưa (thiếu tá Phạm Văn Trung thuộc trung tâm huấn luyện Không Quân Nha Trang và t/t Huỳnh Văn Giai trưởng phòng tuyển mộ nhập ngủ Khánh Hoà). Gặp nhau tay bắt mặt mừng nhưng nụ cười không trọn vẹn trên vành môi vì sự bi thảm của đất nước hiện tại. Như đàn chim sau khi đũ lông đũ cánh phải lìa tổ ấm tung bay khắp bốn phương trời;chúng tôi sau hai năm tròn dồi mài văn vỏ, phải rời mái trường mẹ thân yêu cuối năm 1963 về phục vụ bốn vùng chiến thuật nay tình cờ hội ngộ trong hoàn cảnh éo le này. Tuy nhiên dù hoàn cảnh nào chúng tôi cũng không quên nhắc nhở những kỹ niệm thời sinh viên sĩ quan, nay thằng nào sống chết ra sao và cũng không quên mời nhau “năm mươi phần trăm em ơi” để vơi đi phần nào nổi lo hiện tại và cũng làm tăng thêm niềm vui của sư sống… Đang thao thao bất tuyệt những chuyện đánh nhau sống chết, bổng Phạm Văn Trung hỏi tôi:
- “Vợ con mầy đâu rồi,sẵn sàn sáng mai tao gửi máy bay về Saigòn cho sớm?” Trong hoàn cãnh này được người bạn nhả ý vậy thật là quá quý. Riêng vợ chồng Giai đã biết gia đình tôi nhiều trong những lần đi học hay nghỉ mát ở Nha Trang rồi, còn Trung chỉ mới gặp lần đầu nên tôi cám ơn và giải thích lòng vòng một tí cho anh biết.
- “Cám ơn hảo ý của mầy, vợ tao đang làm tại Tổng Cục Du Lịch ở Saì gòn. Riêng hai đứa con vừa được cậu nó đưa lên thăm tao. Thấy tình hình không yên; Tao gửi tụi nó theo trực thăng của cơ quan Dao (cố vấn tiểu khu) về nhà ba má Trần Thiện Thanh ở Bão Lộc để nhờ hai ông bà lo xe cho chúng về Sai gòn cách nay gần mươi ngày, nếu trể tụi nó bị lội hành quân với tao rồi”.
Hôm nay tình hình quân sự tại đèo Khánh Dương hơi bi quan, quân dù đóng tại đèo Khánh Dương có vẻ muốn nhúc nhích. Dù trời chưa khuya nhưng chúng tôi vẫn ý thức được: “vui chơi không quên bỏn phận”. Khoảng chín giờ chúng vội chia tay nhau sớm về lo việc mình. Riêng phần tôi trưa hôm sau vào trình diện Bộ Chỉ Huy/PB/QĐII (trong Nha trang) nhận nhiệm vụ mới. Hôm ấy,trước khi vào trình diện BCH/PB/QĐII, đại tá Nghìn dặn tôi:
- “Anh vào xem thấy nhận được thì nên nhận, ngược lại thì ra đây bay trở lại Đà lạt với tôi nhận nhiệm vụ mới, tôi chỉ chờ anh một tiếng đồng hồ thôi”.
Trình diện đúng giờ hẹn, đại tá Phan Đình Tùng - chỉ huy phó PB/QLVNCH và trung tá Phạm Hữu Chương - rất vui vẻ đề nghị tôi làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 69PB thay thế trung tá Chương (tôi từng làm phó cho ông tại tiểu đoàn này năm 1972). Trung tá Chương đưa tôi đi quan sát hậu trạm tạm thời của tiểu đoàn 69 PB trú trong sân bay Nha trang. Trên đường đi, trung tá Chương cũng khuyến khích tôi:
- “Biết khả năng và thâm niên cấp bậc cũa anh nên đại tá chỉ định thẳng anh, đây là cơ hội vàng hiếm có để bắt cái lon trung tá chứ binh chủng mình khó lên lắm”. Nghe hai tiếng trung tá cũng ham nhưng mà… qua nửa giờ đồng hồ gọi là “thăm lính cho biết sự tình” nhận thấy tiểu đoàn di tản từ Pleiku về đây có vẻ bi thảm quá, súng ống chưa trang bị kịp. Nếu tôi chấp thuận phải đem đơn vị vào căn cứ Động Bà Thìn (giửa đường Nha trang-Cam Ranh) huấn luyện, trang bị lại. Lâu quá!
Nhận thấy nhiệm vụ quá nặng nề khó lòng thực hiện được trong hoàn cảnh bi đát này, tôi từ chối. Ra đến nơi hẹn, đại tá Nghìn chờ không được đã đi Đà lạt rồi; thầy trò tôi (tài xế và tôi) nghỉ qua đêm chờ sáng mai đi Đà lạt.
Sáng hôm sau, trên đường rời Nha Trang, người và xe cộ hổn độn chật ních, hầu như không còn trật tự lưu thông nửa. Chúng tôi lách đi rất khó khăn mới tới được Phan rang. Gặp bà vợ Trần Công Triệt đang lăng xăng với năm đứa con dại muốn tìm cách vào phi trường về Sài gòn. Riêng đại úy Triệt đang chỉ huy đại đội trấn thủ trên đập Đa Nhim. Tôi đưa sáu mẹ con bà Triệt (đầy xe jeep 8 người) vào phi trường và được trung tá Nguyễn Văn Thiệt (K18ĐL) và thiếu tá Trương Khương (K19ĐL) là không đoàn trưởng và không đoàn phó phòng thũ đưa lên phi cơ về Saì gòn mấy phút sau đó. Phần tôi tiếp tục hướng về Đà lạt. Vừa qua khỏi đèo Sông Pha, bị đoàn xe từ Đà Lạt đổ xuống không thể nào tiếp tục được. Họ cho biết Đà lạt đã bỏ ngỏ. Tôi đành quay lại phi trường Phan rang (2/4/75?). Tối đó quân dù đã nhóm khỏi đèo Khánh Dương và trung tâm huấn luyện Lam Sơn bắt đầu rút. Tướng Phú và đại tá Lý Bá Phẩm (tỉnh trưởng Nha trang cũng có mặt tại phi trường Phan rang đêm đó. Thấy tôi ở đó vài ngày chẳng có nhiệm vụ gì,Trung tá Nguyễn Văn Thiệt (bạn cùng K18ĐL) và thiếu tá Trương Khương giúp tôi về Sài gòn.Tôi trình diện BCH/PB/VNCH và nhận lệnh tăng cường cho PB quân đoàn III phòng thủ tại Long Thành cho đến ngày mất nước rồi khăn gói đi tù từ Nam ra Bắc.Sang Mỹ theo diện Ho Lao (H.O) năm 1991.


+ Kết luận


Đó là một số hiểu biết trong phạm vi trách nhiệm hạn hẹp của tôi tại một vùng cao nguyên hẻo lánh trong giai đoạn đen tối nhục nhã của lịch sữ nước nhà. Cuộc chiến quân sự đã qua dù kêt thúc không theo chiều hướng mong đợi của ta. Ta không thể hoàn toàn trách Mỹ vì họ bỏ rơi đồng minh; mà không khe khắc chính mình; đặc biệt những người từng nắm chức vụ chỉ huy cao trước ngày có hiệp định Paris 1973. Ông bà ta từng nói: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân” (Trách mình trước khi trách người).
Cuộc chiến đã qua, những đau thương dân tộc từ đó vẫn còn tồn tại. Hình ảnh của những người cùng một chiến tuyến, thượng cấp, thuộc cấp, bạn bè phơi thay nơi trận địa, những người dân vô tội nằm chết đó đây, những người chết do bị hành hạ đói khát trong lao tù Cọng Sãn, trong rừng sâu hoặc làm mồi cho cá mập ngoài biển cả trên đường tìm tự do chưa phai mờ trong trí tôi. Có những người không chỉ chết một lần. Họ đã hy sinh để cho quê hương Việt Nam Tự Do, Dân Chủ, Hạnh Phúc, Phú Cường. Là Người Việt Quốc Gia, chúng ta không thể quên ơn Họ. Chúng ta hảy cùng thắp nén hương lòng đến Họ và cầu nguyện cho linh hồn Họ về nơi Họ muốn. Chúng ta cũng không quên ơn những “Quân, Cán, Chính Già” đã hy sinh đời trai trẻ của mình và đặc biệt không quên các Anh, Chú, Bác thương bệnh binh đang sống đói khổ nhục nhã nơi quê nhà, nơi vùng kinh tế mới xa xôi hẻo lánh nào đó.

Trần Văn Bường

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, September 12, 20198:46 AM(View: 131)
Đầu năm 1970, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Trần Quốc Lịch được thăng cấp Đại Tá Nhiệm Chức, chỉ huy các tiểu đoàn cơ hữu (TĐ 5, 7, 11) và các đơn vị tăng phái, thống thuộc hành quân trong giai đoạn 1970-1972. Tháng Chín, 1972, do công trận, chiến tích các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 2 thâu đoạt, Đại Tá Lịch được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thay thế Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng; 1 Tháng Mười Một, 1972, Đại Tá Lịch tiếp thăng cấp chuẩn tướng nhiệm chức; Tháng Bảy, 1973, Chuẩn Tướng Lịch được lệnh bàn giao Sư Đoàn 5 lại cho Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, tiếp giữ chức vụ chánh thanh tra Quân Đoàn IV/Quân Khu 4. Cuối năm 1974, Chuẩn Tướng Lịch bị câu lưu do tội danh tham nhũng, tạm giam tại Đề Lao Chí Hòa, buộc phải giải ngũ, giáng xuống cấp đại úy! Phiên tòa quân sự chính thức xét xử Đại Úy Trần Quốc Lịch về tội danh tham nhũng chưa thực hiện thì xẩy ra biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Vụ án Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch chìm khuất trong đại nạn nước mất nhà tan. Chẳng mấy ai trong, ngoài quân đội
Tuesday, September 10, 20198:45 PM(View: 62)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn. Thực chất, chúng ta biết rất ít về Petrus Key. Hầu hết chi tiết về gia đình
Wednesday, September 4, 201911:51 AM(View: 72)
Đến với nhau trong văn chương không phải là sự tình cờ. Và vì vậy, khi Nguyên Minh đến với thế giới chữ nghĩa là mang đến cả một niềm đam mê không biết mệt mỏi. 18 tuổi anh và bạn bè làm tờ Gió Mai ở Huế. Và từ đó đến nay anh có hơn 50 năm tuổi nghề, mặc dù có những lúc, thời gian đã chặn anh lại nửa đường. Nhưng thời gian mang những dấu ấn lịch sử kia đã không thể trói tay chân, đầu óc anh. Hết Gió Mai, ở Phan Rang anh lại cùng Ngy Hữu và bạn bè ra tờ Ý Thức, tờ báo in ronéo đẹp nhất Miền Nam thời bấy giờ và cũng tập trung đông đảo người viết trẻ nhất. Cả cuộc đời Nguyên Minh không thể thiếu mùi mực in, mùi giấy và kim chỉ. Vắng chúng chừng như anh không thể nào sống nổi thêm giây phút nào nữa, như một Trần Hoài Thư ở New Jersey vừa khâu sách trên bàn ăn tối vừa tiếp bạn xa! Thời in ronéo chấm dứt, có lúc Nguyên Minh thẫn thờ như kẻ mất hồn giữa thị trấn tràn gió và cát bay. Anh quyết định bỏ Phan Rang, chốn quê nhà yêu dấu của mình, vào Sài Gòn để làm một điều gì đó cho văn chương,
Friday, August 30, 20196:15 PM(View: 155)
thời đi lính ta làm thơ lạng quạng. có, đương nhiên súng đạn máu me. chạm sự thật lẽ nào nói nhảm. tình ý trong lòng khuân hết ra khoe. chuyện đánh đấm không cần hư cấu. thơ tháp tùng theo bước hành quân. thơ cũng dán lung tung nhiều chỗ. những chi chi ẩn nấp trong quần. hương tình ái cùng hơi cuộc chiến. vo tròn nhau thành một món ăn. vật tiêu hóa không qua cửa miệng. mà đi vào máu đỏ tim đen. ta vốn dĩ không vờ cao ngạo. không huênh hoang kiểu bất cần đời. cực-chẳng-đã vài lần văng tục. thói quen bất thần từ một cuộc chơi. không hào sảng lập lờ khí cốt. dựa rượu dựa tình tạo cách nói ngông. thơ để nói và thơ để vẽ. diễn tiến mỗi ngày xâm nhập nội tâm. giết con rắn bắn con bò thượng cấp. chơi nhằm em trụi lủi no hair. sợ són đái đôi lần rút chạy. cũng cùng thơ vai sánh cặp kè. bởi biết ngượng nên không nói dốc. kiểu ngán gì chết hoặc bị thương. ngày ngày ngắm xác banh óc đổ. phi nhân chi cũng khó xem thường. một thằng ngạo nhiều thằng bắt chước
Tuesday, August 27, 20197:55 AM(View: 141)
Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai. Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị. Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì? ‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’. Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn