DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,951,625

Lâm Chương - Chu Vương Miện

Saturday, May 5, 201212:00 AM(View: 60022)
Lâm Chương - Chu Vương Miện

Lâm Chương




lc_0

 

 

Lâm Chương sinh năm 1942 tại thị trấn Gò Dầu hạ, Tây Ninh, cựu Sĩ Quan QLVNCH. Tù cộng sản 10 năm từ 1975-1985. Vượt biên năm 1987. Hiện định cư tại Boston. Massachusetts, Hoa kỳ.


Tác phẩm đã xuất bản:


- Loài cây nhớ gió, Khai Phá, 197.


- Đoạn đường Hốt tất Liệt [tập truyện Văn MỚi, 1999.


- Lò Cừ Tập truyện Văn Học, 1999...


[trích Văn Nhân Lục Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại]

 


*

 

 

lc_3

 

[Đi giữa bầy thú dữ ] là một tự truyện của chính tácgỉa hoặc cũng liênhệ đến tác gỉa khỏng 70 phần trăm. Nhân vật xưng Tôi là một cậu họcsinh 17 tuổi học dở dang lớp đệ ngũ, bỏ nhà vì lời nói của người cha, đi đến một thành phố biển Nha Trang xa lạ, vừa lang thang vừa hoc vừa làm, làm đủ thứ nghề kèm trẻ, phu ganh đá [lục lộ] đục đẽo mộ bia dêm ngủ chợ, quét chợ khi thì ngủ tam ngoài chợ, lúc thì ở nhờ nhà học trò, lúc tạm trú ngoài nghĩa địa:


Thầy Nguỹễn Văn Xung, và thi sĩ Quách Tấn hay đi chung đến nhà anh Hòa. Anh Hòa đưa tiền, bảo tôi ra chợ mua thức ăn làm cơm đãi khách, Tôi mua cá, phổi bò, rau muống. Bữa cơm có hai món, cá kho, và phổi bò xào rau muống. Anh Hòa xin lỗi khách, vì bà giúp việc đi vắng, nên bữa ăn chỉ có thế. Thisĩ Quach tấn gắp miếng phổi bò, nhai mãi. Miếng phổi quá dai, ông muốn nhả nhưng không biết nhả vào đâu. Đành nuốt. Miếng phổi nhộn ngang cổ, làm nước mắt ông trào ra. Anh Hòa lại xin lỗi, vì đồ ăn được chế bến bởi tay đầu bếp bất đắc dĩ.


[trích trang 73 – gió về phố biển]


Tôi thích nghe những giai thoại về văn nhân thi sĩ. Ông bảo sa vào cái nghiệp thơ văn là lụy cả cuộc đời. Ông cho biết, hồi còn trẻ ông bị ám ảnh bởi tiếng kêu thảm thiết của con quạ. Tiếng kêu khắc khoải điều gì như tuyệt vọng. Mãi đến hai mươi năm sau, ông thể hiện được điều ấy qua bài “Đêm Thu nghe tiếng quạ kêu” Tôi ngạc nhiên về thời gian thai nghén một tứ thơ.


Ông ngâm bằng cái giọng đặc sệt Bình Định.


Từ Ô y hạng rủ rê sang


Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng


Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng


Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng


Bồn chồn thương kẻ nương song bạc


Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng


Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi


Tình hoang mang gợi tứ hoang mang


[trích trang 74- Gió về phố biển]


Sau đó gắng công mài sắc có ngày lên kim và tác giả đã tốt nghiệp xong Trung Hoc và bị động viện vào trường Thủ Đức:


Do chiến tranh, mà tôi đến buôn làng người thượng. Họ không thích người lạ mang súng cồng kềnh vào đây, nhưng không hề phản đối, 

...........Và cho họ biết rằng, chúng tôi đến đây là bảo vệ họ. Cụ già bảo , những người thuộc phía bên kia, cũng nói như tôi. Họ đâu cần ai bảo vệ. Họ chỉ muốn yên thân, và không có trách nhiệm gì về những tranh chấp hơn thua của nguoì Kinh. Đừng ai nhân danh bất cứ một thứ chu ûnghiã tốt đẹp nào, đem tai họa gieo rắc xuống đầu dân buôn thượng. Cụ có cái lý của cụ

 

[ trích trang 14 – lò cừ]


Tôi nhớ hoài một đêm quay quần, có cô gái hát bài tình ca, bằng ngôn ngữ riêng của họ. Tôi chuyển dịch [lèo] ra thơ:


bõ nường sinh ra em


nước suối rửa em lúc mới lọt lòng


lá cây du thắm da mầu đất


lá cây diệp thoa bàn chân em bé lạnh


ngày em còn là con chim luýt chuýt


anh ở đâu? anh ở đâu?


sao không mang hạt thóc nuôi em?


trên rẫy ngàn


có đậu mè ngô sắn


sao không đem về kho đụn nhà em?


trên triền cao núi đá


có trái diếc xanh


trái bứa trái gùi vàng


sao không hái cho em những ngày thơ dại


[trang 16 – lò cừ]


Sau 1975, rồi đi tù cải tạo, như tất cả mọi sĩ quan của chính quyền miền Nam, đi học, đi lính rồi đi tù.


Dưới ruộng, một đám đàn ông tiều tụy, lom khom nhổ cỏ. Công việc xem ra không lấy gì làm nặng nề, nhưng sau một buổi làm việc, không ai có thể đứng thẳng lưng được. Xương sống đã quen với thế uốn cong. Muốn lấy lại thế đứng bình thường, phải choàng tay ra phióa sau, chà xát và dần ngang thằt lưng một lúc cho máu lưu thông, rồi từ từ ểnh xương sống lên cho thẳng.


[trích trang 81 – lò cừ ]


Hai chị công an lại tán gẫu .


Gió bấc hiu hiu. Sương muối nhòa đồi cọ trung du.


Chị trẻ kẹp hai bàn tay vào nách, rúm người: ”Trời lạnh này làm gì thích nhỉ?”


Chị bụng bầu, vừa nói vừa cười: ”Đéo là thích”


“Khẽ! Không ngại bọn chúng nghe?”


“Mặc chúng!”


[trích trang 83 - lò cừ]

 

 

 



lc_2

 

 

Nơi đây, từ trên xuống dưới, toàn một lũ đàn ông, nên chẳng ai cần làm phòng tắm. Cũng chẳng có lu chứa nước. Cứ mặc nguyên quần xàlỏn. Kéo nước lên trong cái gầu đan bằng nứa . Nhích ra khỏi miệng giếng . Đứng giữa trời mà trút cả gầu nước lên đầu . Kỳ cọ xong, lại kéo gầu nước khác . Xà bông là loại sản phẩm quí hiếm , may ra , cán bộ mới có được . Lúc tôi cởi quần để vắt cho ráo nước , vệ binh quay mặt hướng khác . Tôi nhìn xuống , cái bụng hóp lại , hai bên xương hông nhô ra , như một xác khô . Thê thảm nhất là phần hạ bộ . Bèo nhèo ủ rũ . lâu rồi , nó không cất đầu lên nổi . Tôi chợt nhớ bài thơ , làm trong thời gian chưa bị kỷ luật.


Ngày hai bữa, sắn khô nước muối


Thì làm sao khỏi đói buồi ơi!


Đêm , ta trằn trọc ngậm ngùi


Đưa tay sờ thử , thấy buồi xuội lơ.


Ta vọc mãi buồi trơ ra đó.


Cứ ỡm ờ ủ rũ buồn thiu


Thương ta đói khở đủ điều


Thương buòi tê liệt đã nhiếu năm qua


Nếu mai mốt được ra khỏi trại


Ta trở về gặp lại hiền thệ


Vợyêu chiều chộng vuốt ve


Mà buồi vẫn gục chết ta, chết buồi!


[trích trang 220-221 lò cừ]


Đọc xong hai tác phẩm, truyện dài [đi giữa bầy thú dữ và Lò cừ ] cua nhà văn Lâm Chương, mình lại ngờ ngợ như là ai? bạn bè quanh mình? hay một phần bản thân mình? và lảm nhảm hát vu vơ một đoạn nhạc của thi nhạc sĩ Võ Đức Sao Biển:


đi qua chân cầu?


nhìn xuống giòng sông sâu?


cuộc đời như thế đó


cuộc tình như thế đó


đi qua chân cầu


nhìn nưốc trôi một giòng


như tình anh với em.


hoặc mấy câu thơ rời của thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn


lũ chúng ta sống một đời vô vị


nên chọn rừng sâu núi cả bắn nhau?


Sau năm 1975, Văn chương hải ngoại vẫn tiếp tục giòng thơ văn Việt nam [có điều không phong phú bằng giai đoạn 1954-1975. Lý do là it người quá [người tỵ nan có khoảng 2 triệu người] tản mạn trên tòan thế giới. Phuơng tiện chuyên chở, sach báo càng ngày càng ít người đọc [giới trẻ sinh ra ở nước ngoài đa số chỉ biết nói tiếng việt sơ sài [còn thi lại nói ngọng] và rất ít người khoảng 33 tuổi còn đọc văn chương Việt.


Hồ Minh Dũng và Lâm Chương là hai tác gỉa viết rất sắc nét và có bản sắc riêng. Riêng Lâm Chuơng rất chân tình trong tác phẩm cũng như rất chân tình trong cuộc sống, thân phận con người lớn lên rồi lao vào chiến tranh? không chết may mắn sống sót thì chuyển qua chế độ khác lại đi tù, tình cảnh đất nước thời tan hoang, con guoì thời đói khổ. đây đó nhiều góc đời bất hạnh tật nguyền, cuộc sống cũng chả khá gì?



Trước năm 1975 thì là người mới lên đường góp mặt vào văn chương miền Nam.


Sau năm 1975 tại hải ngoại, Lâm Chương là một nhà văn đương đại có tầm cỡ.




chuvươngmiện

 

 

Mời nghe nhạc:

 

Niệm Khúc Cuối. Nhạc Ngô Thụy Miên. Tiếng hát: Elvis Phương

http://www.youtube.com/watch?v=k8DUqHzV3H8&feature=related

Về đây nghe em. Nhạc: Trần Quang Lộc. Tiếng hát : Elvis Phương

http://www.youtube.com/watch?v=TKLueNBvcB8&feature=related

 

 

Reader's Comment
Saturday, May 2, 20157:00 AM
Guest
Co phai toi can danh lai ma xac nhan hay khong?
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, April 16, 20198:10 PM(View: 63)
Lâm Anh sinh năm 1942 ở Quảng Ngãi. Ông thuộc thế hệ chúng tôi nhưng cách tôi một khoảng năm tháng khá xa. Biết và đọc ông khá lờ mờ và không nhiều, khi ông còn là cán bộ ngành thông tin
Tuesday, April 9, 20192:07 PM(View: 132)
Mỗi lần nhắc tới cái tên Trần Dzạ Lữ là ký ức gợi đến ngay bài thơ “Bài thơ thứ hai cho người tình sầu cố xứ”. Tôi còn nhớ bài thơ đó đăng ở tờ Văn.
Thursday, April 4, 20198:18 PM(View: 133)
(h. PT) Yến Nguyên Thanh sinh năm 1944 tại Huế. Anh theo gia đình vào Đà Nẵng lúc 15 tuổi.
Monday, April 1, 20197:57 AM(View: 273)
Chúng tôi hân hạnh giới thiệu bài viết của cô Thảo Dân, bình luận rất sâu sắc bài thơ Ta Về của Tô Thùy Yên. Càng ngạc nhiên biết cô là giáo viên miền Bắc, sinh năm 1974. TA VỀ MỘT BÓNG...
Friday, March 29, 20197:25 AM(View: 80)
Nhà văn/Họa sĩ Võ Đình, tên thật Võ Đình Mai, Pháp danh: Nguyên Chân. Theo trang nhà Gio-O, nhà văn họa sĩ Võ Đình sinh năm Qúi Dậu, 1933, tại Huế.