DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,951,597

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn ra mắt sách "Bông Hồng Tạ Ơn" (tái bản)

Monday, May 7, 201212:00 AM(View: 68581)
Nhà văn Nguyễn Đình Toàn ra mắt sách "Bông Hồng Tạ Ơn" (tái bản)
Nhà văn Nguyễn Đình Toàn ra mắt sách  "Bông Hồng Tạ Ơn"




ndtoan_2
nhà văn Nguyễn Đình Toàn


blank

nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn đình Toàn và phu nhân trong đêm nhạc Nguyễn Đình Toàn




BVN - Tin từ báo Người Việt, chiều ngày Chủ Nhật 13 - 5 - 2012 vào lúc 3 giờ PM,
tại hội trường Nhật báo Người Việt, nhà văn Nguyễn Đình Toàn sẽ ra mắt 2 tập sách "Bông Hồng Tạ Ơn" (tái bản) . Nhân dịp này BVN xin giới thiệu 2 bài viết sau đây viết về nhà văn Nguyễn Đình Toàn.

BVN cũng xin mời t
ất cả các bạn đọc, bạn văn nghệ ở vùng Nam Cali hãy đến cùng tham dự buổi ra mắt sách. Tin mới nhất, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng từ San Jose cũng về tham dự.

Chúc nhà văn Nguyễn Đình Toàn c
ó buổi Ra Mắt Sách thành công.





BVN



*




‘Bông Hồng Tạ Ơn’ của Nguyễn Đình Toàn: Không chỉ đọc bằng mắt




Ng
ọc Lan




Khi đọc bằng mắt. Khi đọc bằng suy nghĩ. Khi phải vắt óc nhớ xem truyện đó nó như thế nào. Khi tự dưng thấy miệng mình mở ra, ngâm nga mấy dòng thơ. Rồi khi lại bật lên tiếng hát, hát cho đã điếu một đôi câu, có khi hát luôn cả một bài.


 

 

 

blank

Tập sách “Bông Hồng Tạ Ơn” của nhà văn Nguyễn Đình Toàn.

 

 

Đó là những trạng thái đã diễn ra khi tôi lần đọc tập sách “Bông Hồng Tạ Ơn” của nhà thơ/nhà văn/nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.

Chính vì điều này, nên nếu có ai hỏi, “Bông Hồng Tạ Ơn” của Nguyễn Đình Toàn là tập sách như thế nào? Thì có lẽ tôi sẽ không ngần ngại trả lời ngay rằng: Đó là một tập sách đặc biệt.

Đặc biệt, bởi nó khiến người đọc ở trong nhiều tâm trạng khi giở những trang sách, khi vui theo từng cung nhạc, khi buồn theo từng đoạn văn, khi thẫn thờ theo một khổ thơ, và lại khi tức mình kêu lên, “Trời ạ, sao viết gì có mấy dòng vậy!”

 

***

 

111 nhạc sĩ, 109 tác giả văn và thơ, 10 ca sĩ và 7 nghệ sĩ tạo hình, tổng cộng 237 tên tuổi (chứ không phải 234 như tựa sách ghi) được Nguyễn Đình Toàn nhắc đến trong tập sách “Bông Hồng Tạ Ơn.”

237 tên tuổi này không hẳn là đại diện tiêu biểu cho lãnh vực thơ nhạc, sáng tác, hội họa của nghệ thuật Việt Nam trong và ngoài nước từ trước đến nay. Nói như tâm tình của chính tác giả, người một thời nổi tiếng với chương trình “Nhạc chủ đề Nguyễn Đình Toàn,” thì đây là những người mà Nguyễn Đình Toàn có “chút hiểu biết,” hay “còn nhớ về tác phẩm, tác giả.” Và ông muốn nhắc đến họ, “như một cách bày tỏ lòng ngưỡng mộ, lòng biết ơn đối với những người đã dâng hiến những gì tốt đẹp nhất mình có thể làm được cho đất nước, nhờ đó, mọi người đã được thừa hưởng.”

Nhắc điều này, cũng như đọc lời “Thưa” của tác giả khi mở đầu tập sách: “Đây không phải là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật,” để người đọc, giống như tôi, không phải bận lòng đặt thêm câu hỏi, “Sao lại không nói đến nhạc sĩ này?” hay “Sao không nhắc đến họa sĩ kia?” hay lầm bầm, “Người này có nổi tiếng, có mấy ai biết đâu mà cũng kể ra?”

Mỗi tác giả có một góc nhìn và một cách thể hiện khác với tất cả những người khác. Nguyễn Đình Toàn cũng thế. Ông có lý do, có sự đắn đo, và có sự lựa chọn những điều ông muốn đưa vào tác phẩm của mình.

Vì vậy khi chọn đọc ông, thì nên đọc góc nhìn của ông, của tác giả Nguyễn Đình Toàn, chứ không phải góc nhìn của bản thân mình.

 

 

***

 

 

Tập I của Bông Hồng Tạ Ơn gồm 2 phần, dày hơn 550 trang.

Phần I viết về 111 nhạc sĩ, từ những nhạc sĩ mà hầu như ai cũng một lần nghe nhắc tên như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Trần Thiện Thanh, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương, Đặng Thế Phong, Lam Phương, Cung Tiến, Hoàng Thi Thơ, Nguyễn Văn Thương, Tuấn Khanh,... Đến những nhạc sĩ “lạ hoắc lạ huơ” cả tên người lẫn bài hát, như: Bạch Bích, Lê Đô... Văn Hạnh, Lê Vy, Lê Xuân Ái, Hồng Duyệt, Đào Thừa Liệt, Đức Quỳnh...

Phần 2 ông viết về 10 ca sĩ Anh Ngọc, Khánh Hà, Kim Tước, Lưu Hồng, Mai Hương, Ngọc Lan, Quỳnh Giao, Sĩ Phú, Thái Thanh và Tuấn Ngọc - những ca sĩ có thể rất quen thuộc với nhiều người nhưng cũng có thể xa lạ với nhiều người, đặc biệt là người trẻ trong nước.

Tập II của Bông Hồng Tạ Ơn cũng gồm 2 phần, dày hơn 570 trang.

Phần đầu Nguyễn Đình Toàn viết về 109 tác giả thơ và văn, như Bùi Giáng, Cao Tần, Đinh Hùng, Cung Trầm Tưởng, Huy Cận, Huy Phương, Mai Thảo, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Tường Tam, Phan Lạc Tiếp, Trần Dần, Trần Mộng Tú, Vũ Thư Hiên, Vũ Hoàng Chương, Song Thao, Lê Đình Điểu,...

Phần sau của tập II, tác giả viết về 7 nghệ sĩ tạo hình: Đằng Giao, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Mai Chửng, Nguyễn Cao Đàm, Nguyên Khai, Nguyễn Văn Trung và Thái Tuấn.

Bấy nhiêu tác giả, tác phẩm, và nghệ sĩ gói gọn trong tập sách gồm 2 quyển, với hơn 1,000 trang viết, kể ra, vừa thật nhiều về số lượng tên tuổi mà độc giả sẽ được biết đến qua lời nhắc nhớ một cách chọn lọc của Nguyễn Đình Toàn. Đồng thời cũng vừa có vẻ “kiệm lời” quá cho từng tác giả. Thành ra, sẽ chẳng trách, nếu có người “nổi đóa” vì cảm thấy không thỏa mãn được ước muốn tìm hiểu của mình về một nhạc sĩ, một nhà văn nhà nhà thơ, hay một ca sĩ, họa sĩ mà mình yêu thích.

Nhưng như tác giả Nguyễn Đình Toàn đã nói từ đầu, “đây không là cuốn sách nghiên cứu hay phê bình văn học, nghệ thuật,” mà bên cạnh việc “tạ ơn” những người đã mang đến cho cuộc đời “những gì tốt đẹp nhất mà họ họ có,” thì khát vọng của tác giả, còn nhằm “để các bạn sinh trưởng ở trong, ngoài nước, không biết nhiều về Việt Nam, một lúc nào đó, muốn quay về tìm hiểu các tác giả trong nước, có thêm một chút dấu vết, tài liệu.”

Thì đành, biết “chút dấu vết” tên họ ở đây, biết tác phẩm họ ở đây, và đi tìm chi tiết cặn kẽ ở nơi khác vậy.

 


***

 

 

Đọc “Bông Hồng Tạ Ơn,” điều tôi thích nhất nằm ở chỗ những lời nhận xét ngắn gọn, khi bàng bạc những nỗi niềm, khi lưng chừng một câu hỏi của nhà văn/nhà thơ/nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn về từng người ông chọn đưa vào trang sách.

Bởi, bản thân Nguyễn Đình Toàn cũng là nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, nên tâm tình ông hiểu về thơ, về nhạc, về văn, về nghệ thuật hội họa là tâm tình của người trong cuộc. Dễ chia sẻ. Dễ cảm thông. Dễ đồng điệu. Và hơn hết, dễ nhìn ra những ẩn dụ, những nỗi niềm vùi sâu, chôn kín mà đôi lúc, người ngoài chưa hiểu hết đến nguồn cơn.

Cách giới thiệu 237 tác giả và nghệ sĩ Việt Nam của Nguyễn Đình Toàn không giống nhau cho mỗi người. Có người ông giới thiệu bằng sự ảnh hưởng của độc giả, như “Có thể nói, Nguyễn Hiến Lê là một trong những nhà văn được đọc nhiều nhất của chúng ta” (Nguyễn Hiến Lê); có người ông giới thiệu từ một tác phẩm nổi bật nào đó, như “Quê nhà 40 năm trở lại của Phan Lạc Tiếp dày 279 trang, do nhà xuất bản Mõ Làng Văn ấn bản, đã được tái bản chỉ sau khi phát hành một thời gian ngắn” (Phan Lạc Tiếp); có người ông giới thiệu bằng phong cách của nhà thơ, như “Nói đến Trần Đức Uyển người ta nghĩ ngay đến những bài thơ đen, đen chì của ông” (Trần Đức Uyển)... Điều này khiến cho người đọc ít bị nhàm chán bởi sự lặp lại của những công thức văn chương sáo mòn.

Ở mỗi tác giả và nghệ sĩ, Nguyễn Đình Toàn lại biết chỉ ra, tìm ra một vài điểm nhấn, điểm độc đáo, chỉ có riêng ở con người đó.

Đọc bài tác giả viết về nhạc sĩ La Hối người nổi tiếng với ca khúc “Xuân và Tuổi Trẻ,” có đoạn:

“Sau Đệ Nhị Thế Chiến có tin đồn rằng 'Xuân và Tuổi Trẻ' là một bản mật mã các gián điệp Trung Hoa gửi cho nhau. Không biết chính La Hối là một gián điệp, hay chỉ khi bài hát đã có rồi, người ta mới tìm cách biến nó thành những tín hiệu. Nếu đúng như vậy ai sẽ giải mã cho chúng ta biết những nốt nhạc đó chứa đựng điều gì?”

Tôi cảm thấy chi tiết đó thú vị quá. Thì ra bài hát rất hay xưa nay vẫn được người ta ngân nga mỗi dịp Xuân về, từng có thể là “một bản mật mã gián điệp”! Nhưng tôi lại cũng hơi “tức mình,” một “nghi án văn học” như vậy mở ra, không có lời giải đáp, vậy là tự mình lại phải đi tìm hiểu, cho thỏa cái trí tò mò của mình, dù Nguyễn Đình Toàn đã “thòng” thêm câu, “Đến chín phần mười đây chỉ là một câu chuyện thiên hạ bịa đặt cho vui.”

Tôi thích bài Nguyễn Đình Toàn viết về nhạc sĩ Hoàng Dương và bài hát “Hướng về Hà Nội.”

“Hà Nội đẹp

Hà Nội buồn

Hà Nội lãng mạn hay thực tế cũng sẽ mất như những đám sương mù Tháng Bảy đang xóa bỏ nó.

Người ta phải nói lời giã từ Hà Nội

Gọi hồn Hà Nội

Hoàng Dương đã chọn ở lại Hà Nội

Bài hát của ông có cả cái xa và cái gần Hà Hội, có cái ngọt ngào của một bản tình ca, cái não nùng của một cuộc chia lìa cho người ở lại giấu nó trong lòng

Cho người ra đi hát như một lời gọi vói.”

Lời giới thiệu đọc lên nghe cứ như thơ, gợi cho người đọc được nỗi niềm của Hà Nội những ngày tháng đứng trước cuộc chia ly khi Hiệp Định Geneve chuẩn bị ký. Để từ những dòng văn mượt mà đó, đọc lời thơ, nghe ra ca khúc “Hà Nội ơi hướng về thành phố xa xôi/ Ánh đèn giăng mắc muôn nơi/ Áo màu tung gió chơi vơi...” mà nghe lòng rưng rức những nhớ nhung.

Đọc phần viết về nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tôi cảm thấy cái hay trong cách nhận xét của Nguyễn Đình Toàn:

“Người ta bảo rằng Việt Nam là một dân tộc lãng mạn. Cứ đọc ca dao của chúng ta để biết ra điều đó.

Đọc Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc để hiểu vì sao chúng ta không có anh hùng ca, chỉ có tình ca. Dù đau lòng, xé ruột nhưng vẫn là tình ca.

Tình ca dạy chúng ta cách yêu nhau và cả cách xa nhau nữa.”

Một đôi câu thôi, nhưng đầy đủ nét chấm phá về tình tự dân tộc mình trong nhạc, trong thơ. Một đôi câu đó sẽ giúp người ta nhớ lâu, khắc sâu hơn những diễn giải lan tràn.

 

***

 

 

Tôi nói “Bông Hồng Tạ Ơn” là tập sách thật đặc biệt là vậy.

Mình không thể đọc bằng mắt. Mà có lúc đang đọc, tự dưng lại buộc miệng hát lên. Chưa đủ. Lại chạy đi tìm nhạc mở lên để nghe lại một bài hát nào đó mà Nguyễn Đình Toàn đang nhắc đến, như Vườn Thu của Văn Thủy, Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, Tình Lúa Duyên Trăng của Hoài An, Đường Xưa Lối Cũ của Hoàng Thi Thơ, Sầu Đông của Khánh Băng, Chiếc Lá Thu Phai của Trịnh Công Sơn, Đoàn Lữ Nhạc của Đỗ Nhuận...

Mình không thể đọc bằng mắt. Mà có lúc phải đọc lên thành tiếng, có cất lên thành tiếng thì mới nghe ra lời thơ, chất thơ của những tác giả mà ông nhắc đến như Đinh Hùng, Huy Cận, Trần Mộng Tú, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Bùi Giáng, Vũ Hữu Định, Vương Đức Lệ, Nguyên Sa,...

Hay khi đọc ông giới thiệu về Phan Lạc Tiếp với “Quê nhà 40 năm trở lại” cứ thấy mình muốn nhấp nhỏm chạy tìm kiếm quyển truyện đó mà đọc xem tâm trạng đi nhìn lại gặp lại những cảnh đời cũ, người cũ là như thế nào.

Hay khi đọc bài ông viết về Tô Hoài, tôi lại muốn đi tìm hồi ký “Cát Bụi Chân Ai” và “Chiều chiều” để đọc lại những chuyện thâm cung bí sử của giới văn nghệ miền Bắc là ra làm sao.

Tuy nhiên, dù đã lòng dặn lòng “phải đọc dưới góc nhìn của tác giả Nguyễn Đình Toàn” nhưng cũng có lúc tôi hơi thất vọng trước những câu kiểu như, “Nghe nói về sau Hoài An thích nghiên cứu tử vi” hay “Nghe nói Lam Phương đã viết vì xúc động trước hoàn cảnh của Họa Mi.” Giá mà tác giả cứ hỏi ngay Hoài An hay Lam Phương cho rõ ràng những điều “nghe nói” đó thì bài viết càng có giá trị thuyết phục biết bao nhiêu!

Bỏ qua vài điều mình không như ý, bỏ qua đôi ba tác giả được giới thiệu quá vắn tắt, phải nhìn nhận rằng, từ những nét tưởng chừng có lúc như nguệch ngoạc cho ra chữ, có lúc như vắt ra từ con người của nhà thơ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn, mà người đọc, cũng như tôi, sẽ bất chợt nhận ra những điều cứ ngỡ mình biết lâu nay, nhưng thực ra là chẳng biết gì, qua “Bông Hồng Tạ Ơn.”

 



NL

 


*

 





Trần Yên Hòa





Nhớ những lần, nghe nhạc, đọc thơ, đọc truyện của Nguyễn Đình Toàn

 

 

 

 

nguyendinhtoan-drawing.jpg





Năm 1966, tôi đang học đại học ở Sài Gòn thì cha tôi ở quê viết thư vào bảo: “Quê mình mất an ninh rồi, cha mẹ phải bỏ quê mà tản cư xuống quận lỵ tỵ nạn. Trong một đêm, địch về làng bắn giết, đốt phá nhà cửa của cán bộ làm việc bên phe quốc gia nhiều lắm, cha mẹ sợ quá nên phải tản cư xuống quận lỵ tạm trú, chứ ở quê không yên. Con cố gắng tự túc đi học nghe con.” Tôi đọc thư mà nghe buồn bã quá. Tìm đọc trên mục rao vặt trên các báo Chính Luận, Công Luận, tôi đi dạy kèm, đi giặt đồ cho một công ty thầu giặt đồ cho lính Mỹ, mà lương lậu chẳng đâu vào đâu. Tôi học không vô nữa, bèn nộp đơn xin đi dạy theo một thông cáo tuyển lựa giáo sư tư nhân dạy giờ của Bộ Giáo Dục. Sau đó mấy tháng, tôi được giấy của bộ Giáo Dục bổ nhiệm về dạy ở trường trung học Mộ Đức, Quảng Ngãi.
Với nỗi buồn vui lẫn lộn. Buồn vì phải bỏ giảng đường đại học mới tập tểnh bước vào mấy năm. Vui vì mình sắp bước vào con đường mới, con đường dạy học. Đó cũng là mộng ước của tôi thời niên thiếu. Với lại, Quảng Ngãi tôi chưa biết đến bao giờ. Và cả Mộ Đức, một quận lỵ, vẫn nghe đồn rằng, đó là vùng xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm “giải phóng”. Nhưng tôi lại nghĩ, mình chỉ là thầy giáo quèn, gỏ đầu trẻ, có gì đâu mà sợ, nên tôi cũng vững tâm đến đó.
Mộ Đức là một quận lỵ buồn, không có phố xá, chỉ có con đường quốc lộ một chạy qua. Bộ chỉ huy chi khu và văn phòng quận hành chánh đóng chung bên kia đường, đối diện trường trung học, do một trung úy bộ binh làm quận trưởng kiêm luôn chi khu trưởng.
Tôi đã dạy học ở đó với những em học sinh tóc cháy vàng vì nắng gió và nhờ đó mà tôi vui.

Những buổi chiều quận lỵ thật buồn. Chênh chếch phía bên kia đường có một loa phóng thanh của chi thông tin bắt trên ngọn cây, hàng ngày thường mở đài Sài Gòn hay đài Quảng Ngãi cho dân chúng nghe tin tức. Một buổi chiều, cũng như mọi buổi chiều khác, tôi được nghe từ loa phóng thanh, một bài hát có tên Tình Khúc Thứ Nhất được xướng ngôn viên giới thiệu tác giả là Vũ Thành An, lời Nguyễn Đình Toàn, bản nhạc này, nhạc đã hay mà lời cũng quá hay:


Tình vui theo gió mây trôi
Ý sầu mưa xuống đời
Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi


Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài
Lời nào em không nói em ơi
Tình nào không gian dối
Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say

Lá thốt lên lời cây
Gió lú đưa đường mây
Có yêu nhau xin ngày thơ ngây
Lúc mắt chưa nhạt phai
Lúc tóc chưa đổi thay
Lúc môi chưa biết dối cho lời

Tình vui trong phút giây thôi
Ý sầu nuôi suốt đời
Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền

Dù trời đem cay đắng gieo thêm
Cũng xin đón chờ bình yên
Vì còn đây câu nói yêu em
Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
Bước lạc sa xuống trần
Thành tình nhân đứng giữa trời không
Khóc mộng thiên đường

Ngày về quê xa lắc lê thê
Trót nghe theo lời u mê
Làm tình yêu nuôi cánh bay đi
Nhưng còn dăm phút vui trần thế 

Lúc này, Vũ Thành An và Nguyễn Đình Toàn chứa nổi, tác giả chỉ là cái tên, nhưng bản nhạc quá hay nên có tôi cảm tình với tác giả ngay, nhất là tác giả viết lời. Lúc đó, tôi cứ nghĩ Vũ Thành An đã phổ từ một bài thơ nào đó của Nguyễn Đình Toàn. Nhưng sau này, khi tôi đọc trên một tờ báo nào đó, mới biết là nhạc phẩm này của Vũ Thành An, Nguyễn Đình Toàn viết lời.

Chúng ta hãy đọc lại mấy câu, ông dùng ngôn ngữ rất lạ mà rất thơ:

Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
Đã nghe son vàng tả tơi
Trầm mình trong hương đốt hơi bay
Mong tìm ra phút sum vầy...
Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài

Bản nhạc này, tôi nghe (sau đó được nghe lại mấy lần) và tự nhiên thuộc lời, rồi tôi đã đem lời nhạc này đọc cho học sinh trong lớp tôi dạy (vì tôi dạy môn Việt văn nên tôi tha hồ mà bình luận, bốc phét, thêm nhưn nhị vào bài thơ, những ý tưởng mà có lẽ tác giả cũng không nghĩ ra). Có thể nhờ bản nhạc này mà tôi có một (vài) mối tình rất thơ với một (v
ài) cô gái Mộ Đức, một cô gái có tên là Nề, mà sau này tôi có viết trong một truyện ngắn, truyện Nề xưa. Bây giờ tất cả đã xa lắc lơ, chỉ còn là kỷ niệm. Cám ơn nhà thơ Nguyễn Đình Toàn.

*



Sau này, cũng thời gian năm 66 hay 67 gì đó, tôi có đọc một bài thơ của Nguyễn Đình Toàn ở đâu đó, và rất mê. Nhưng lâu rồi cũng quên nhan đề, sau khi tìm kiếm, lục lọi, mới biết đó là bài Khi Em Về. Tôi xin ghi lại như sau:

Khi em về


Quê mẹ đấy ưu phiền nhiều quá lắm
Hàng cau già mo thương bẹ quắt queo
Anh nằm đếm những ngày rồi những tháng
Đi qua dần khi nước mắt buông theo

Kỷ niệm cũ vẫn còn nguyên vẹn đó
Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau
Gió vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu
Rồi Tết đến, rồi lòng anh nhớ quá

Khi em về bước chân chừng xa lạ
Và cỏ hoa tất cả đã lắng im
Giấc ngủ ấy một đời anh ao ước
Từ máu mình hoài rứt khỏi đường tim

Em đừng khóc, đừng buồn, đừng nhìn nữa
Cứ cúi đầu cứ thế rồi ra đi
Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết
Và dấu giầy mai sẽ lá sương che


Nguyễn Đình Toàn còn có bài thơ Khúc Ca Phạm Thái cũng rất nổi tiếng. Bài thơ ghi lại hình ảnh chàng tráng sĩ Phạm Thái yêu Trương Quỳnh Như, em ruột của người bạn thân là Trương Quang Ngọc, mối tình đó đã trở thành tình sử trong văn học Việt Nam mà Khái Hưng đã viết thành tiểu thuyết Tiêu Sơn Tráng Sĩ. Bài thơ với ngôn ngữ mang mang hào sảng, nói lên chí khí của người tráng sĩ mang gươm đi cứu nước, nhưng thất bại, phải dẹp bỏ cuộc tình riêng, giọng thơ hào khí ngất trời. (hơi thơ giống bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác). Cho nên trong những cuộc vui chơi với bằng hữu, những người thích thơ, biết làm thơ hay cảm thơ, mỗi khi ngồi uống rượu với nhau thường ngâm bài thơ này:

Ta tráng sĩ hề, lòng không mềm bằng kiếm,
Ta anh hùng hề, sự nghiệp có đầy đôi mắt Trương Quỳnh Như.
Chí nhỏ lòng kiêu, đổ thưà vận rủi,
Tài sơ sức mỏi, trách với thời cơ .
Lòng chua cay uống mãi rượu giang hồ,
Nâng chén lửa đốt tàn dần năm tháng.
...

Em ơi tám hướng sông hồ,
Mười năm ngang dọc, bây giờ là đây ..
Sự đời chừ đã trắng tay,
Ngủ vùi một giấc, cho đầy gối tham .
Ta say hay ta tỉnh?
Nàng buồn hay nàng vui?
Ngọc châu pha vỡ tiếng cười ,
Lược gương xin chải ngậm ngùi cho nhau
.

 

Và Bản Nhạc viết về Sài Gòn

 

Từ lâu, nghĩa là từ trước năm bảy lăm, tôi nghĩ là Nguyễn Đình Toàn chỉ làm thơ và viết văn thôi, nếu cùng lắm thì ông đặt lời cho nhạc như bài Tình Khúc Thứ Nhất. Nhưng sau này tôi biết ông còn sáng tác nhạc, ông viết rất nhiều ca khúc. Trong những ca khúc của ông tôi thích đâu 3, 4 bài, như bài Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên, mà nhiều người biết đến, sau đây:

"Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên - như dòng sông nước quẩn quanh buồn - như người đi cách mặt xa lòng ta hỏi thầm em có nhớ không...
Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao - trong niềm vui tiếng hỏi câu chào - sáng đời tươi thắm vạn sắc màu - còn gì đâu..."

Theo tôi, bản nhạc này là bản nhạc hay nhất của nhạc Việt Nam viết về Sài Gòn sau khi mất nước và lúc Sài Gòn đã thay đổi tên. 2 bản đứng thứ nhì đồng hạn là bài Đêm Nhớ Về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng và bài Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn nhạc Phạm Đình Chương phổ thơ Du Tử Lê. Sau rót mới đến bản Sài Gòn Vĩnh Biệt của Nam Lộc. Bản nhạc Sài Gòn Vĩnh Biệt được mọi người biết đến nhiều có lẽ nhạc phẩm này ra đời sớm, khoảng đâu sau bảy lăm một hai năm, trong lúc đó, lòng người Việt Nam, nhất là những người di tản từ ba mươi tháng tư bảy lăm, luôn luôn khắc khoải trong lòng nổi nhớ quê hương, mà Sài Gòn là biểu tượng một quê hương trong lòng mọi người, nên mất đi Sài Gòn, rời xa Sài Gòn, ai cũng tưởng tiếc, cũng nhớ về. Kể cả những người đi ở tù cộng sản như chúng tôi, khi nghe bản Vĩnh Biệt Sài Gòn (được đưa chui vào trại tù), chúng tôi nghe cũng thật bùi ngùi, cảm động (lúc đó tôi ở Long Khánh, có tin truyền miệng nhạc phẩm Vĩnh Biệt Sài Gòn là của một sĩ quan sư đoàn 5 bộ binh sáng tác). Đến khi qua Mỹ, tôi mới biết tác giả là Nam Lộc. Và theo tôi đánh giá về nghệ thuật, bản nhạc này lời rất giản dị, bình thường, ca từ không có gì mới lạ, có nhiều câu, suy cho kỹ thì phản ý của người di tản hay người vượt biên, ví dụ như câu "bây giờ tôi như con thú hoang lạc đàn", sao lại là "con thú hoang"? Nếu như vậy thì đất nước Việt Nam Cộng Hòa trước bảy lăm và những người sống trong đất nước đó là đàn thú hoang sao?. Và sau đó có những câu như "Sài Gòn ơi ta xin hứa là ta sẽ về." Sao đã vĩnh biệt rồi, như theo đề tựa, vĩnh biệt là không bao giờ gặp lại, mà sao hứa sẽ trở về? Cho nên, bản nhạc này được nhiều người nghe là do tâm trạng thương nhớ Sài Gòn có sẳn trong lòng, chứ không phải là bản nhạc hay.

  

 *

 

 

Nguyễn Đình Toàn sáng tác nhạc rất nhiều, sau khi ra hải ngoại ông đã cho ra mắt 2 CD, đó là: Hiên Cúc Vàng với chỉ một giọng ca Khánh Ly, và Tình Ca Việt Nam với Duy Trác, Khánh Ly, Sĩ Phú, Thái Thanh, Võ Anh Tuấn, Lệ Thu.
Nhạc Nguyễn Đình Toàn mang hơi hám của một người lưu vong luôn luôn nhớ về những kỷ niệm cũ, một hoài niệm không rời với hồi ức, thường buồn hơn vui, đã đưa người nghe vào một không gian âm thanh sâu lắng, không sôi nỗi xáo động, nó trầm lắng, dịu dàng, nên lớp người cũ đã sống trước bảy lăm ở miền Nam rất thích nghe.

Từ Giờ Ra Chơi đến Áo Mơ Phai

 

Truyện Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn do nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng in năm 1970. Tôi mua quyển truyện này tại một tiệm sách ở khu Hòa Bình trong một chủ nhât đi phép. Đời SVSQ/CTCT ngày phép thường ra bát phố Đà Lạt, sau khi đã vào tiệm tắm nước nóng tắm để rũ sạch bụi đỏ quân trường, sau đó đi ăn phở Bằng hay vào quán Tùng uống cà phê hay ra bờ Hồ Xuân Hương vào Thủy Tạ ăn kem. Nhưng tôi thì hay đi loanh quanh mấy tiệm sách để tìm mua những tác phẩm mới xuất bản của các nhà văn mình yêu thích. Thời điểm đó, truyện dài Giờ Ra Chơi của Nguyễn Đình Toàn mới phát hành nên tôi nhìn thấy là chộp mua ngay.
Giờ Ra Chơi kể lại mối tình của cô gái học trò Đà Lạt tên Thục và tình yêu của tuổi mới lớn của Thục. Truyện nhẹ nhàng êm dịu, thơ mộng như trời mây non nước xứ Đà Lạt. Lúc này tôi có một người bạn gái là một cô học trò trường Hồng Đức, Đà Nẵng, tôi liền mua thêm một cuốn gởi về tặng cô gái và tả tình tả cảnh Đà Lạt, cũng như mối tình đẹp của cô học trò tên Thục trong truyện. Tôi cố rũ người bạn gái lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh để được gần tôi, cuối cùng cô gái nghe lời “dụ dỗ” của tôi mà lên Đà Lạt theo học. Rất tiếc là khi cô lên Đà Lạt thì tôi cũng xong hai năm thụ huấn. Tôi đổi đi xa nên mối tình cũng bay theo sương khói.
 

 

 *

 

 

Áo Mơ Phai, tập truyện dài của Nguyễn Đình Toàn đăng “phơidơtông” ở Nhật Báo Tiền Tuyến, được nhiều người đón nhận, theo dõi say mê từng ngày. Sau này in thành sách và được giải văn chương toàn quốc năm 1972.
Truyện Áo Mơ Phai kể lại những mối tình thơ mông ở Hà Nội trước ngày di cư năm 1954, khi Hà Nội còn là ngàn năm văn vật đất Thăng Long, cùng với một Hà Nội thơ mộng trữ tình là sự dùng dằng, ra đi hay ở lại của những người Hà Nội trong giai đoạn lịch sử năm 1954, chia đôi đất nước.
Chúng hãy đọc một đoạn ngắn trong Áo Mơ Phai khi tác giả tả những cái đáng yêu của Hà Nội:


“Những tiếng động nhỏ ấy, những hương vị mờ nhạt ngửi thấy, cây cối trong mùa mưa, phấn hương của người quen thuộc, những món ăn, thức uống, những câu thơ, những bài hát, Hà Nội giống như một cái chuông và những tiếng kêu ấy là những cách khua động, người ta tự gõ vào trí tưởng mình, tự xé lòng mình, để nhẹ bớt nỗi nhớ mong, ám ảnh của Hà Nội, Hà Nội đã biến thành khuôn mặt người tình đầu tiên, khi người ta ghé môi hôn thì cũng là lúc cái hình ảnh ấy khắc sâu vào tâm khảm. Những khu phố dịu dàng dưới sương đêm, sáng cái ánh sáng của vầng trăng lúc nào cũng giống như, trăng khi còn thơ ấu, và những cơn gió nhẹ thổi trên các lối đi, thổi lên các cành cây, chẳng khác những hơi thở nồng nàn tình ái, người ta không thể biết rõ cái vẻ dịu dàng của Hà Nội được tẩm đẫm nhan sắc, dáng vẻ của những người đàn bà, những cô gái Hà Nội, hay chính những người này thừa hưởng cái không khí êm đềm đó, những trận gió mang đầy hơi phù sa của sông Hồng, mùi cỏ của con đê Yên Phụ, mùi rượu ngang, rêu phong của những mái nhà cũ kỹ, của những bức tường thành của ngày Hà Nội bị xâm chiếm xa xưa, của các xưởng máy, của hoa đào, hoa sấu, sắc đỏ của những bông gạo vừa tàn rụng hết trong ngày hè với muôn ngàn tiếng chim kêu hót...”

 

 

 

  *

 

 

Truyện, thơ, nhạc của Nguyễn Đình Toàn là ta đọc từ tâm thức nhẹ nhàng. Suốt hành trình trên 50 năm làm văn nghệ, Nguyễn Đình Toàn đã cho ra đời những tác phẩm sau:


Văn:

  • Chị em Hải, nhà xuất bản Tự Do, 1962
  • Những kẻ đứng bên lề, nhà xuất bản Giao Điểm, 1964
  • Con đường, nhà xuất bản Giao Điểm, 1967
  • Ngày tháng, nhà xuất bản An Tiêm, 1968
  • Phía ngoài, nhà xuất bản Hồng Đức, 1969
  • Giờ ra chơi, nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng, 1970
  • Đêm hè, nhà xuất bản Hiện Đại 1970
  • Đêm lãng quên, Văn Uyển, 1970
  • Không một ai, nhà xuất bản Hiện Đại, 1971
  • Đám cháy, Văn Uyển 1971
  • Áo Mơ Phai, 1972.
Thơ:
  • Mật Đắng.
  • Nhạc:
  • Hiên Cúc Vàng (CD)với giọng ca Khánh Ly.
  • Tình Ca Việt Nam (CD) với giọng ca Duy Trác, Khánh Ly, Thái Thanh, Võ Anh Tuấn, Lệ Thu.

 

 

Và nhiều nhạc phẩm khác.



 

 *




Nguyễn Đình Toàn đã hiến cho đời những tác phẩm hay, với riêng với tôi, tác phẩm của Nguyễn Đình Toàn đã theo bước chân thời gian của cuộc đời đeo đuổi tôi, qua những cuộc tình học trò, sinh viên, thơ mộng, dịu êm. Còn ngoài đời, tôi chỉ gặp ông đâu có hai, ba lần gì đó, cũng chẳng được dịp nói chuyện lâu, nhưng trong lòng tôi, lúc nào cũng mến mộ Nguyễn Đình Toàn.
Rất cảm ơn nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.



TB
:
Đến bây giờ thì tôi đã gặp NĐT nhiều lần. Tôi rất kính trọng và luôn luôn cảm mến ông.
(2012)



Trần Yên Hòa





M
ời nghe nhạc: 

 

Tình Khúc Thứ Nhất. Nhạc: Vũ Thành An. Lời: Nguyễn Đinh Toàn. Tiếng hát: Lệ Thu

http://www.youtube.com/watch?v=T133AZzRTTY

Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên. Nhạc: Nguyễn Đình Toàn. Tiếng hát: Khánh Hồng

(trích trong clip video Ra Mắt Sách của Trần Yên Hòa).

Nguyễn văn Diệp giới thiệu thành phần tham dự, họa sĩ Hồ Thành Đức phát biểu. Hoàng An và Khánh Hồng giới thiệu TYH. Khánh Hồng hát "Sài Gòn niềm nhớ không tên". Nhà văn Viên Linh phát biểu.

http://www.youtube.com/watch?v=vvd2PyrHD7g&feature=youtu.be


 

Reader's Comment
Saturday, September 22, 20127:00 AM
Guest
Xin gởi email đến nhà văn Nguyễn Đình Toàn: toanngdinh@yahoo.com
Saturday, September 22, 20127:00 AM
Guest
cho hỏi. mua cuốn bông hồng tạ ơn ở đâu vậy
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, April 16, 20198:10 PM(View: 62)
Lâm Anh sinh năm 1942 ở Quảng Ngãi. Ông thuộc thế hệ chúng tôi nhưng cách tôi một khoảng năm tháng khá xa. Biết và đọc ông khá lờ mờ và không nhiều, khi ông còn là cán bộ ngành thông tin
Tuesday, April 9, 20192:07 PM(View: 131)
Mỗi lần nhắc tới cái tên Trần Dzạ Lữ là ký ức gợi đến ngay bài thơ “Bài thơ thứ hai cho người tình sầu cố xứ”. Tôi còn nhớ bài thơ đó đăng ở tờ Văn.
Thursday, April 4, 20198:18 PM(View: 132)
(h. PT) Yến Nguyên Thanh sinh năm 1944 tại Huế. Anh theo gia đình vào Đà Nẵng lúc 15 tuổi.
Monday, April 1, 20197:57 AM(View: 273)
Chúng tôi hân hạnh giới thiệu bài viết của cô Thảo Dân, bình luận rất sâu sắc bài thơ Ta Về của Tô Thùy Yên. Càng ngạc nhiên biết cô là giáo viên miền Bắc, sinh năm 1974. TA VỀ MỘT BÓNG...
Friday, March 29, 20197:25 AM(View: 79)
Nhà văn/Họa sĩ Võ Đình, tên thật Võ Đình Mai, Pháp danh: Nguyên Chân. Theo trang nhà Gio-O, nhà văn họa sĩ Võ Đình sinh năm Qúi Dậu, 1933, tại Huế.