DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,951,597

Ngày cuối cùng của chi khu Dĩ An

Friday, May 11, 201212:00 AM(View: 8622)
Ngày cuối cùng của chi khu Dĩ An






dien_hong_2






Trung tá thủy quân lục chiến Nguyễn Minh Châu là một thương binh đã phục vụ đất nước tới giây phút cuối cùng trong chức vụ quận trưởng kiêm chi khu trưởng Dĩ An. Bài viết về 30 tháng 4 trích trong hồi ký của ông đã đóng góp thêm vào lịch sử của quân lực VNCH.

Anh hùng vô danh

Họ là những anh hùng không tên tuổi


Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông


Không bao giờ được hưởng ánh vinh quang


Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.


Xin mời quý vị đọc một bài viết ngắn kể lại tâm trạng não nề vào những ngày cuối cùng của các chiến sĩ âm thầm trong bóng tối vì ít được ai để ý tới họ. Đấy là những chiến sĩ địa phương quân, nghĩa quân, và các viên chức xã ấp cũng như lực lượng CSQG và cán bộ XDNT đã hy sinh ở lại cố thủ quận Dĩ An tới giờ phút cuối cùng.


*




Trở về mái nhà xưa



Cuộc bàn giao gấp rút và đơn giản vì tình hình đất nước đang trong cảnh dầu sôi lửa bỏng.

Sau khi bị thương ở Vùng I chiến thuật và được biệt phái qua hành chánh, tôi làm việc tại quận Dĩ An được gần 7 năm, về Đức Hòa hơn 1 năm rồi trở về lại quận Dĩ An một tháng trước ngày miền Nam bị thất thủ.


Buổi lễ bàn giao rất đơn giản, không kèn không trống, được tổ chức tại sân cờ của bộ chỉ huy chi khu. Chủ tọa lễ bàn giao là đại tá Lưu Yểm, một viên chức trên tỉnh Biên Hòa cùng xuống tham dự với ông. Tại quận thì có thiếu tá chi khu phó, ông phó quận trưởng hành chánh, các xã trưởng, các sĩ quan trưởng ban của chi khu, các trưởng ban trong văn phòng hành chánh quận, chi cảnh sát và cán bộ XDNT quận tham dự.

Hiện nay tại thành phố San Jose có vài cựu sĩ quan trưởng ban của chi khu và vài vị xã trưởng đã từng làm việc với tôi rất lâu năm và ở lại tới giờ phút cuối cùng, đã qua diện HO. Chúng tôi rất vui mừng được gặp lại nhau sau những năm tù đày CS và tôi cũng lấy làm hãnh diện là các gia đình của anh em đều được ổn định tốt đẹp.


Ông quận trưởng bàn giao chức vụ lại cho tôi khi trở về Dĩ An lần thứ hai là trung tá Nguyễn Thế Thứ, người mà tôi đã bàn giao chức vụ quận trưởng Dĩ An cho ông ta một năm trước đây để tôi đi nhận chức quận trưởng Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa.


Lúc nầy tinh thần tôi bị giao động vì tình hình đất nước hết sức căn thẳng và tôi cảm thấy vui buồn lẫn lộn. Tôi cảm thấy vui là được gặp lại cảnh cũ, người xưa mà tôi đã làm việc với họ hơn sáu năm. Tôi cảm thấy buồn là vì tôi phải rời bỏ quận Đức Hòa mà tôi cũng yêu mến và ngược lại họ cũng luyến tiếc sự ra đi của tôi, mặc dù tôi chỉ làm việc tại đây chỉ hơn một năm.

Bàn giao chức vụ xong là tôi bắt tay vào việc ngay vì tôi đã nắm vững tình hình lãnh thổ của quận Dĩ An từ lâu rồi. Tất cả mọi đơn vị của chi khu ráo riết đặt kế hoạch phòng thủ chống chiến xa địch. Căn cứ phòng thủ của bộ chỉ huy chi khu là căn cứ cũ của lực lượng Đại Hàn rất kiên cố, hơn nữa sau hiệp định Paris đầu năm 1973, các đơn vị đồng minh sau khi rút đi đã để lại cho chúng tôi rất nhiều vũ khí đạn dược và gần 100 cây M72 chống chiến xa, do đại úy Thành trưởng ban 4 chi khu ngoại giao xin giữ lại, nên anh em chúng tôi cũng yên tâm. Trước ngày 30/4/75, đại úy Thành có nhắc nhở và đề nghị tôi cho phân phối hết đồ quân tiếp vụ cho trại gia binh, tôi đã chấp nhận ý kiến sáng suốt nầy, nếu chúng tôi bị bao vây cũng có lương thực cầm cự được một thời gian. Sau này đại úy Thành đã vượt biên khi đi tù ra và gia đình ông nay đang sống tại San Jose.

Một quyết định khó khăn: Tôi phải ở lại đến giờ phút cuối cùng với anh em chiến sĩ và đồng bào. Tình hình tại quận còn rất yên tịnh, chưa có việc gì xảy ra, chúng tôi chưa bị quân cộng sản tấn công và pháo kích. Nhưng một số chiến sĩ cũng nao núng vì nghe tin chỗ này di tản chiến thuật chỗ kia rút quân. Người thì mang gia đình xuống tàu kẻ xuống ghe đánh cá ra khơi, và một số người đã được phi cơ Mỹ cho di tản từ phi trường Tân Sơn Nhất trước đó mấy tuần. Ông bà ngoại mấy cháu của chúng tôi sợ nguy hiểm đến tánh mạng của mấy cháu nhỏ, nên mang hết về Sài Gòn cho tôi rảnh tay lo nhiệm vụ, phần vợ tôi thì nhứt quyết ở lại căn cứ để yểm trợ tinh thần tôi, nên anh em chiến sĩ và đồng bào cũng bớt hoang mang, lo lắng.

Một điều nữa làm cho tôi đắn đo không thể bỏ quận được, vì trong 7 năm tôi được sát cánh làm việc ngày đêm với anh em địa phương quân, nghĩa quân, viên chức quận xã ấp và lực lượng CSQG làm việc trong tình thương mến đậm đà. Các cơ quan và đơn vị hết lòng làm tròn trọng trách nên mấy năm qua tình hình Dĩ An rất yên tịnh, dân chúng sống thanh bình làm ăn phát đạt. Quận được dân thương mến và khắng khít thật là tình dân với quân như cá với nước. Khi tôi được cấp trên đổi về lại quận cũ, anh em chiến sĩ vui mừng như gặp lại người anh cả đã vắng mặt đi xa mới về, và đồng bào cũng vui vẻ đón nhận tôi như một đứa con biệt ly nay trở về quê cũ. Tôi xem quận Dĩ An như có mối tình thiêng liêng gắn liền với đời tôi. Tôi hết lòng cám ơn những chiến sĩ và viên chức và lực lượng CSQG đã hăng say cộng tác với tôi trong nhiều năm. Tôi xin nghiêng mình trước những anh linh của những người đã hy sinh vì tổ quốc.

Đến nay, tôi vẫn còn nhớ mãi nghĩa quân Nguyễn Văn Giữ, người cận vệ can đảm đã theo tôi suốt bao nhiêu năm. Vì lúc ấy tôi đi đứng phải chống gậy nên ông đã giúp, đỡ đần tôi những lần nhảy trực thăng hay leo đồi lội suối trong các cuộc hành quân, ông luôn bên cạnh để bảo vệ tôi. Ông đã chết trong trại cải tạo năm 1979 vì bạo bịnh mà không có thuốc chữa. Thỉnh thoảng chúng tôi có gởi quà về gia đình để đền đáp công ơn ông đã giúp tôi suốt thời gian tôi làm việc tại Dĩ An.

Đêm Chờ Sáng Và Cũng Là Đêm Cuối Cùng Chấm Dứt Đời Binh Nghiệp Của Tôi Đúng 21 Năm.

Tất cả các chiến sĩ địa phương quân, nghĩa quân và viên chức quận, xã, ấp và CBXDNT cũng như cảnh sát đều tuân lệnh thượng cấp quyết ở lại cố thủ. Nhưng đến đêm 29 rạng 30 tháng 4, chúng tôi bị bỏ rơi chới với vì mất liên lạc với bộ chỉ huy tiểu khu tỉnh Biên Hòa và không biết phải nhận lệnh nơi đâu. Đông tây nam bắc chẳng còn ai yểm trợ, trong khi đó chúng tôi được tin tình báo là một trung đoàn cộng sản Bắc Việt cùng chiến xa T54 đã di chuyển từ hướng Tân Uyên tới rừng Cò Mi phía bắc quận Dĩ An rồi dừng lại đấy. Chúng tôi tiến thối lưỡng nan, thôi đành phải liều quyết tử thủ tới đâu hay đến đó, anh em chúng tôi không biết trông chờ vào ai, nên đành phó mặc số phận cho trời định.


Thật là một đêm hãi hùng, hồi hộp. Tất cả từ quan tới lính đều chuẩn bị súng chống chiến xa, súng đại liên và súng cá nhân cầm tay, thức sáng đêm chờ địch nơi phòng tuyến. Tiếng súng pháo binh và đại bác của chiến xa ta và địch nổ vang dội từ hướng Hậu Nghĩa và căn cứ Sư đoàn 25 BB tại Củ Chi. Nhìn những ánh sáng hỏa châu chiếu chập chờn nơi cuối trời ở phương tây, phương đông và phương bắc, và nhìn về hướng Sài Gòn thấy ánh đèn phi cơ trực thăng lên xuống, chúng tôi đoán là Mỹ đang tiếp tục bốc người của họ di tản, anh em chúng tôi rất não lòng không biết vận mạng quận Dĩ An nói riêng và vận mạng miền Nam sẽ ra sao? Mong chờ đến sáng rồi sẽ tính. Nhưng vào gần sáng toán quân thám thính ở tiền đồn gọi máy báo về bộ chỉ huy chi khu là chiến xa địch đã đổi hướng bọc xa lộ vòng đai từ hướng Lái Thiêu trực chỉ Sài Gòn.

Giã từ vũ khí trong sự uất hận và tủi nhục




Quân lịnh buông súng rã hàng

Xé tan đời lính, muôn người khổ đau!


(Trích bài thơ Đêm cuối cùng của TN)


Sáng hôm sau lúc10 giờ, tiếng nói đại tướng Dương Văn Minh loan báo trên đài phát thanh Sài Gòn ra lệnh tất cả các đơn vị buông súng đầu hàng. Cái tin sét đánh làm cho mọi người từ quan tới lính, cả trại gia binh và dân chúng đều bàng hoàng rơi lệ. Tôi liền dùng máy truyền tin thông báo cho các chiến sĩ và viên chức quận, xã, ấp hủy diệt tất cả tài liệu, hãy rời đơn vị và nhiệm sở với những lời chúc lành cùng họ và gia đình, và nói vài câu giã từ trong nghẹn ngào uất hận, không cầm được nước mắt.

Sau đó vợ chồng chúng tôi và một số anh em chiến sĩ có gia đình tại thủ đô rời căn cứ di chuyển về Sài Gòn. Toán di tản của chúng tôi gồm có một xe Jeep, trên xe có tôi, vợ tôi một tài xế và hai cận vệ. Ngoài ra còn có thiếu úy Tâm bộ chỉ huy chi khu và đại úy Vân, giang đoàn trưởng giang cảnh sông Đồng Nai, tỉnh Biên hòa. Đại úy Vân là em vợ của tôi vì thương chị nên ở lại với chúng tôi trong đêm cuối cùng. Trưa ngày 29/4/75 theo lịnh của bộ chỉ huy giang cảnh, đại úy Vân cho tất cả tàu của đại đội giang cảnh về căn cứ ở Nhà Bè nhưng ông ở lại với chúng tôi từ chiều ngày ấy. Nếu ông muốn ra khơi để gặp Đệ thất hạm đội thì quá dễ dàng nhưng Vân đã đi theo chúng tôi. Theo sau xe Jeep của tôi còn có một chiếc xe GMC và một chiếc Dodge 4x 4 chở các anh em của bộ chỉ huy chi khu đi theo.

Mới ngày nào khi ra phố hay vào xã ấp gặp gỡ đồng bào, anh em chúng tôi lấy làm hãnh diện với dân chúng vì công cuộc bình định lãnh thổ được tốt đẹp. Nhờ những công lao nhọc nhằn của anh em chiến sĩ địa phương quân, nghĩa quân, viên chức xã ấp, cán bộ XDNT và lực lượng CSQG, nên người dân được vui hưởng cảnh thanh bình trong mấy năm qua. Nhưng sáng hôm nay, khi chúng tôi đi ngang qua khu phố chợ Dĩ An, đông đảo đồng bào đứng nhìn chúng tôi đi qua, tôi cảm thấy xấu hổ như muốn độn thổ vì nay mình là lính bại trận. Thoáng nhìn nét mặt ưu buồn của đồng bào tôi biết là họ đang âm thầm, lặng lẽ tiễn đưa và từ giã chúng tôi ra đi trong sự nghẹn ngào và thương tiếc!

Ra đến ngã ba Cây Lơn và quốc lộ số 1, toán BCH chúng tôi tháp tùng đoàn quân di tản của các đơn vị thuộc SĐ18, các đơn vị thuộc căn cứ Long Bình gồm có công binh, pháo binh vv.. Kẻ đi xe, người đi bộ lũ lượt đi về hướng Gia Định. Đến gần cầu Gò Dưa xe Jeep của tôi bị vài tên du kích trong làng bắn một quả B40 nhưng không trúng và rơi nằm ngay giữa đường lộ trước đầu xe. Chú tài xế tránh quả đạn và phóng ga chạy nhanh cho ra khỏi tầm mắt mấy thằng du kích nầy. Thật buồn và bực tức, tôi chửi thầm: Đồ khốn kiếp! Trước đây một ngày chúng bay thấy bóng dáng anh em chiến sĩ chúng tao là chúng bay chạy chết cha! Bây giờ theo lịnh cấp trên chúng tao đã buông súng mà chúng bay hành động hèn hạ như thế. Nếu xe Jeep bị trúng một trái B40 thôi thì chắc chắn chúng tôi bị tiêu mạng.

Trên đường di tản từ quốc lộ số 1 về tới Gia Định, chúng tôi gặp thấy xác của những người chiến sĩ dù và BĐQ... nằm rải rác đó đây lẫn lộn cả những thây của dân chúng có cả phụ nữ và trẻ con, quang cảnh thật vô cùng thê thảm. Khi về đến Chợ Lớn chúng tôi vẫn còn nghe lác đác những tiếng súng nổ ở hướng ngã tư Bảy Hiền của các anh em chiến sĩ nhảy dù có lẽ tức mình rồi bắn chỉ thiên như có vẻ không bằng lòng tuân lịnh đầu hàng.

Khi về tới nhà cha mẹ vợ tôi gần hãng beer ở Chợ Lớn, chúng tôi từ giã các chiến sĩ để ai về nhà nấy. Các anh em khóc sụt sùi và hứa hẹn hôm nào sẽ trở lại thăm chúng tôi. Nhưng tôi tự nói trong lòng: Than ôi! Biết ngày mai sẽ ra sao???


Ngày 30/4/1975 đã chấm dứt đời binh nghiệp của tôi đúng 21 năm, vì ngày nhập ngũ của tôi cũng vào tháng 4 năm 1954.


Vợ tôi đã chứng kiến những sự việc đã xảy ra tại quận Dĩ An vào những ngày cuối cùng và thấy những thảm cảnh trên đoạn đường di tản về Sài Gòn nên viết vài dòng thơ như những lời than thở khi nhớ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 không bao giờ quên:



Nhớ ngày tháng Tư



Tháng Tư cũng lại trở về


Gợi người viễn xứ vọng về cố hương


Nhớ chăng ngày ấy uất hờn?


Lệnh đành buông súng tan hàng đớn đau


Nhớ chăng ngày ấy thảm thương?


Anh hùng tuẫn tiết, giữ tròn thanh danh


Nhớ chăng ngày ấy điêu linh?


Gia đình tứ tán, cửa nhà tan hoang


Nhớ chăng ngày ấy hãi hùng?


Dắt dìu chạy loạn, xác người ngổn ngang


Nhớ chăng ngày ấy ngậm ngùi?


Âm thầm bỏ xứ, mắt nhòe lệ rơi


Nhớ chăng người chẳng ra đi?


Mang thân tù tội, lưu đày Bắc phương


Nhớ chăng khổ nhục anh hùng?


Thất thời lỡ vận, phải đành tang thương


Nhớ chăng những bậc vợ hiền?


Gian truân dầu dãi, gánh gồng nuôi con.


Nhớ chăng bụng mẹ còn mang?


Con chưa biết mặt, thân cha chết tù.


Còn bao cái nhớ đoạn trường


Nhớ đi, nhớ lại không ngừng lệ rơi


Bây giờ lạc mãi trời xa


Mấy mươi năm lẻ, tháng Tư ngậm ngùi




Chiến hữu Nguyễn Minh Châu



BVN-TH



M
ời nghe nhạc:


Bạch Đằng Giang - Nguyễn Hồng Nhung, Diễm Liên:

http://www.youtube.com/watch?v=-Nk51dRi5fE&feature=relmfu

Hội Nghị Diên Hồng - Asia

http://www.youtube.com/watch?v=WJZLGtFxSTg&feature=relmfu

Xuất quân – Asia.

http://www.youtube.com/watch?v=2HXTVANmOow&feature=related

Reader's Comment
Tuesday, June 5, 20127:00 AM
Guest
Free info like this is an apple from the tree of konwldege. Sinful?
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, April 17, 20197:09 PM(View: 20)
Mỗi người dân Việt trong tâm thức đều mang niềm kiêu hãnh là con cháu Tiên-Rồng. Bởi lẽ theo truyền thuyết, hai linh vật siêu nhiên này là vật tổ của Việt tộc - Lạc Long Quân và Âu Cơ - đã từ lâu hiện hữu trong tâm khảm của chúng ta như thủy tổ của giống nòi. Một cách cụ thể, hai linh vật này đã hoá thân thành tổ phụ người Việt, mang thuộc tính cao qúy của giống Rồng-Tiên, có phép nhiệm màu có thể bay bổng, lặn sâu, làm mưa, làm gió hay “hô phong hoán vũ,” phò trợ thị tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách của thời tiết khắc nghiệt của nghề nông và sự xâm lấn, hủy diệt của các thị tộc khác. Hai Linh vật này xuất hiện trong thần thoại dựng nước, sản sinh ra thủy tổ người Việt dưới hình thức một bọc trăm trứng của loài chim hoá thân. Đó chính là tiền thân của Họ Hồng Bàng, với 18 đời vua Hùng dựng nước. Khái niệm vật tổ Tiên-Rồng hoá thân dưới dạng Giao long, Lạc Hồng, Phượng Hoàng... là những sinh vật cụ thể hoặc siêu nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh hoặc sinh hoạt đời
Monday, April 15, 20197:53 AM(View: 39)
Theo bản tin Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 09/4/2019: Quy hoạch báo chí ‘vi hiến’, sẽ ‘làm thất nghiệp’ hàng nghìn nhà báo? Theo tìm hiểu của VOA, tính đến giữa năm 2018, Việt Nam có hơn 1.100 cơ quan báo chí các loại, gồm 857 báo và tạp chí in, 195 trang báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương...” Báo Chí (Press) đã có từ xa xưa, kế đến là Truyền Thanh (Broadcasting) và Truyền Hình (Television - TV) thường gọi là Truyền Thông (Media), sau nầy có thêm Internet nên gọi là Truyền Thông Đại Chúng (Communication). Theo Wikipedia “Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet. Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là "seven mass media" (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến. Nó bao gồm: In ấn từ cuối thế kỷ 15. Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19. Điện ảnh từ khoảng năm 1900. Phát thanh từ
Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 51)
Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam. Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*) Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn. thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa. Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập! Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi. Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ. Có đôi ba người (cũng làm thơ) Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa. (Và thơ tình của những nhà thơ khác) Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng. Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”. Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương: “…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?” Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, mỗi người làm thơ. Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình. Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”. Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm. Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú. Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”.
Sunday, April 7, 20198:04 AM(View: 137)
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, Hè năm 1971, tôi rời Nha trang để theo khọc Khóa 3 Trung Cấp CTCT ở quân trường cũ tại Đà Lạt. Sau khóa học, tôi về phục vụ tại Đà Nẵng và sau đó trở lại quân trường nầy cho đến ngày mất nước. Trong quãng thời gian đó, tôi thường về Nha Trang, nơi chốn tôi “dừng bước giang hồ” khi lập gia đình. “Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đã
Wednesday, April 3, 20197:05 AM(View: 153)
Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (2009)