DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,951,597

Phương Nam, Không Hề Thiếu Hào Kiệt - Phan Nhật Nam

Sunday, May 20, 201212:00 AM(View: 6692)
Phương Nam, Không Hề Thiếu Hào Kiệt - Phan Nhật Nam

Phương Nam, Không Hề Thiếu Hào Kiệt...



dien_hong_3




Như trận chiến không hề chấm dứt của ba mươi bảy năm trước, "Người Tù Kiệt Xuất Nguyễn Hữu Luyện (*)"lại thêm một lần xung trận. Nhưng lần nầy là mặt trận im lặng không tiếng súng, không va chạm vũ khí, chỉ do quyết tâm Kẻ Sĩ không khoan nhượng điều mưu toan hiễm độc, sự dối trá bày bức hại, và làm vấy nhục con người. Trận chiến của những con người muốn giữ gìn lương tri, phẩm giá bản thân, của Người Lính QLVNCH, cũng cho cả Miền Nam, và toàn thể Việt Nam khổ nạn. Cao quý và đáng kính phục biết bao, dù đã phải gánh chịu hơn 22 năm tù nơi Miền Bắc, thêm ba năm tù ở Miền Nam, nhưng Anh không hề mệt mõi trong trận chiến không cân sức giữa một Con Người và bên kia là bộ máy bạo lực bức hại toàn Dân Việt, và hôm nay Anh lại thêm một lần bắt đầu. Thế nên, chúng tôi muốn bày tỏ - Vâng, Chiến Hữu, Chúng Tôi luôn có mặt cùng Anh. Bởi, nếu vắng mặt sẽ là một tội rất lớn - Tội bỏ ngũ khi đồng đội hiến thân.

(*) Tính danh của Ký giả Lô-răng Phan Lạc Phúc viết về Nguyễn Hữu Luyện, người sĩ quan QLVNCH bị chế độ cộng sản Miền Bắc cầm tù lâu nhất: 1965-1987, chưa kể những hai hạn tù do "tội vượt biên" sau khi đã trở về lại Miền Nam.

1- Diễn tiến: Đến Mỹ lúc tuổi 60 sau những năm tháng tù dài bằng 1/4 thế kỷ ở những trại tù "chết người" như Trại Quyết Tiến trên đỉnh núi Tây Côn Lĩnh, "Cổng Trời" ở Hà Giang, biên giới cực bắc Việt Nam, nơi tổng số ngôi mộ nhiều hơn tập thể tù nhân. Nay, Người Lính Nguyễn Hữu Luyện lại thêm một lần xung trận để giữ vững nguyên tắc về "Tính Thiện-Sự Thật" qua vụ án không cân sức giữa cá nhân anh đối chứng với trường đại học bảo thủ, bề thế, mạnh cả tiền, lẫn thế lực - Đại Học Massachuchettes-Boston. Vụ án thành hình và diễn tiến như sau:


Khoảng mùa Thu năm 1998, khi đang theo học chương trình cao học với học trình "Khảo Cứu Độc Lập về đề tài American Studies 696" tại Đại Học Massachusettes-Boston (UMass-Boston), Nguyễn Hữu Luyện được biết về chương trình dự án biên soạn đề tài:"TÁI LẬP TÍNH DANH VÀ VỊ TRÍ TRONG CỘÂNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT LƯU VONG Ở HẢI NGOẠI - (RE)CONSTRUCTION IDENTITY AND PLACE IN THE VIETNAMESE DIASPORA"). Từ phần nghiên cứu đã thực hiện trong khóa học, anh nghĩ mình sẽ được hữu dụng đối với công tác thực hiện dự án. Khi nộp bài nghiên cứu đến Giáo Sư Kiang, giáo sư bảo trợ luận án, ông nầy đã chuyển đến anh một tài liệu về "Học Bổng Nhân Văn của Cơ Sở Rockeffeller tài trợ cho Kế Hoạch Khảo Cứu của Đại Học Mass- Boston" về đề tài kể trên. Sau một thời gian, Giáo Sư Kiang yêu cầu anh giới thiệu vài người có khả năng cáng đáng công việc nghiên cứu, anh trả lời có biết một số người, và họ có thể kêu gọi thêm một số người khác một khi chương trình được phổ biến.


Nguyễn Hữu Luyện thật sự đã xúc động mạnh mẽ khi đọc những chủ đề "Năm Thứ Nhất" của kế hoạch khảo cứu, bởi bản thân anh là nhân chứng sống, đã dự phần suốt giai đoạn trên của lịch sử Việt Nam với hoàn cảnh tù từ Bắc vào Nam (vì thêm "tội vượt biên" sau "tội Lính Biệt Kích"), những khắc nghiệt đọa đày "đi vùng kinh tế mới", thảm kịch vượt biên của chính gia đình anh, cũng như toàn thể Miền Nam sau 30 tháng Tư, năm 1975. Từ những lý do nầy, anh nghĩ rằng, bản thân quả xứng đáng để viết về những chủ đề của chương trình, nên luôn liên lạc cùng với giới truyền thông thuộc Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt vùng Boston để ngóng chờ thông báo về việc tuyển dụng nhân viên nghiên cứu. Nhưng quả tình chỉ là vô vọng. Tất cả hệ thống truyền thông gồm nhật báo, tuần báo, đài phát thanh, đài truyền hình của Người Mỹ gốc Việt vùng Massachusettes hoàn toàn không nhận được bất cứ quảng cáo, tin tức gì về chương trình hoạt động nghiên cứu của Trường Đại Học Mass-Boston.


Ngày 11 Tháng Tư, năm 2000, Ông Lê Anh Tuấn, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt vùng Massachsettes chuyển đến anh một phong bì, và một thông cáo báo chí, do Trung Tâm William Joiner (một Ban của UMass-Boston) đã gởi tới ông bằng đường bưu điện. Dấu bưu điện đề ngày 4 tháng Giêng, 2000. Thông cáo ấy đề ngày 22 tháng 12, 1999, và ấn định hạn chót để nộp đơn ứng tuyển là 31 tháng giêng, 2000. Nguyễn Hữu Luyện và Cộng Đồng Người Việt vùng Massachusettes quả ở phải vị thế "nước ngập đến cổ" như trong cuộc tranh đua với một tập đoàn đang yên vị nơi an toàn, thuận lợi, trong lúc lũ lụt vùn vụt dâng cao.


Ngày 12 tháng Năm, 2000, Giáo Sư Peter Kiang chuyển đến anh qua đường email Thông Cáo Báo Chí đề ngày 15 tháng Tư, 2000, để thông báo về việc "đã tuyển chọn xong người" nghiên cứu chủ đề "Năm Thứ Nhất" của chương trình. Vài ngày sau, Ông Kiang trao thêm cho anh bản sao của Thông Cáo Báo Chí (kể trên), và cũng đã chuyển đến cho Ông Nguyễn Bình, Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt vùng Masschusettes bản văn tương tự. Nguyễn Hữu Luyện tin rằng, và tin đúng, thông cáo nói trên chỉ được gởi riêng cho anh và Nguyễn Bình mà thôi - nghĩa là tất cả những gì gọi là "vấn đề đã được phổ biến đến báo chí và quần chúng".


Quá đỗi ngạc nhiên và bất bình về vụ tuyển chọn, từ tháng Năm cho đến cuối tháng Mười, năm 2000, Nguyễn Hữu Luyện lắng chờ kết quả vận động của Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt (vùng Massachsettes), cũng như toàn thể người Việt rải rác khắp thế giới nhằm phản đối quyết định của Trung Tâm William Joiner, với hy vọng rằng trung tâm sẽ điều chỉnh việc tuyển chọn sai lầm của họ. Nhưng cuộc phản đối đã bất thành, nên ngày 27 tháng Mười, 2000, Nguyễn Hữu Luyện khởi tố vụ kiện.


Nếu xét về mặt thuần lý và cầu lợi, thì thật sự đây không là một vụ án lớn có hậu quả nghiêm trọng quyết định đến sinh mạng, tài sản vật chất của bất cứ cá nhân, hay số đông tập thể nào. Trường Đại Học Mass-Boston có tuyển dụng Nguyễn Hữu Luyện hay một người nào khác viết về đề tài "Năm Thứ Nhất - Với những kinh nghiệm trực tiếp về chiến tranh thực dân (nhiều cuộc chiến tranh); về trại cải tạo, và cuộc định cư tại những vùng "Kinh Tế Mới", và quá trình vượt biên ra khỏi Việt Nam sau 1975..." Phụ Bản 2, Trang 2, đính kèm Biện Minh Trạng (BMT) của NHL đối chứng với Biện Hộ của ĐH/UMass-Boston", chắc hẳn không là vấn đề, cũng không là vấn đề lớn đối với mỗi người, hay một cộng đồng người Việt nào trong đời sống hiện tại nhiều bận rộn, lo toan trên đất Mỹ nầy. Đối với người Mỹ chính gốc thì câu chuyện lại càng vô nghĩa, hoàn toàn không tác dụng. Nhưng đối với Nguyễn Hữu Luyện (và với chúng tôi sau khi được thông báo, tham dự vào vận động, diễn tiến vụ án) thì đây là VẤN ĐỀ SINH TỬ- BỞI NỖI ĐAU NẦY LÀ NỖI ĐAU CHUNG - Nỗi đau thương của hết tất cả người Việt trong, ngoài nước, dài theo vận mệnh lịch sử dân tộc. Chúng tôi không nói quá lời, bởi đây không phải mối đau riêng rẻ, mau chóng lướt qua của một cá nhân tại một tình huống đặc biệt nào, cũng không phải lần bị bách hại của một tập thể người có chung một số quyền lợi cố kết, liên hệ, cũng không là khổ nạn dài lâu riêng đối với khối người Việt Miền Nam, những công nhân, viên chức, quân nhân thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa và gia đình họ sau lần sụp đổ 30 tháng Tư năm 1975 - cho dù đây là tổng số lớn lao điển hình nhất. Không phải hoàn toàn như thế. MỐI ĐAU NẦY LÀ CƠN KHỐN NHỤC LÂU DÀI CỦA TOÀN DÂN TỘC VIỆT - KHÔNG LOẠI TRỪ MỘT AI (KỂ CẢ ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN)- KHI LỊCH SỬ BỊ CƯỠNG ĐOẠT, ĐÁNH TRÁO, VÀ VIẾT LẠI THẬM TỆ ĐÊ TIỆN TỪ MƯU ĐỊNH CHÍNH TRỊ CỦA TẬP ĐOÀN CẦM QUYỀN - ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, BỘ PHẬN CỦA ĐỆ TAM QUỐC TẾ. Công việc đáng bị kết án và cần phải trừ bỏ nầy do đảng cộng sản Việt Nam điều động, thực hiện với những người làm văn hóa của họ. Hai người tên Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Ngọc Hiến là hai trong số bốn thành viên được Trung Tâm William Joiner tuyển dụng để viết lại đoạn lịch sử lềnh đầy máu, nước mắt của hằng triệu người Việt lâm nạn, bởi cái chết và chiến tranh không hề phân biệt, buông tha, miễn thứ cho bất cứ thân phận người nào trên quê hương đất Việt. Hai nhân sự nầy là những hạt nhân vô cùng thiết yếu của quá trình tiếâm dụng, vấy nhục lịch sử mà đảng cộng sản Việt Nam đã hằng xử dụng, và xử dụng có hiệu quả từ ngày 3 tháng 2, năm 1930, ngày đảng thành lập, kéo dài cho hết thế kỷ qua, và hiện nay đang tiếp tục.


Nguyễn Hữu Luyện không thể im lặng như Anh đã hằng phẫn nộ, không khuất phục Sự Aùc và Tính Không Thật của chế độ cộng sản suốt trận chiến đấu không khoan nhượng dài theo cuộc đờøi Anh.


2-Người và Việc - Lý của vụ án: Nguyễn Hữu Luyện không hề có thái độ, tinh thần quá khích "chống cộng" khi dựng nên vụ án mà bản thân, gia đình anh là nạn nhân trước tiên chịu sự khốn đốn về vấn đề tài chánh trong cuộc chiến không cân sức. Chúng tôi cũng không cố tâm thực hiện việc làm "bất cận nhân tình" khi nêu lên tính danh về những nhân sự, người tổ chức nên hiện tượng bất công bằng trong phạm vi văn học, và lịch sử - chính trị nầy. Chúng ta cần nói rõ về người, việc, và phần lý, tình của sự kiện.


Trước tiên, về Trung Tâm William Joiner, đơn vị thụ lãnh, điều động thực hiện chương trình khảo cứu "Tái Lập Tính Danh và Vị Trí Trong Cộng Đồng Người Việt Lưu Vong". Thành lập từ năm 1982 với mục tiêu "Nghiên Cứu Chiến Tranh (VN) và Những Hậu Quả Xã Hội" (gây nên từ (những) cuộc chiến tranh đó). Từ năm 1987, trung tâm đã bảo trợ nhiều cuộc trao đổi sinh hoạt văn hóa, giáo dục với Việt Nam (tất nhiên là Việt Nam cộng sản), điển hình việc mời hai nhà văn "nổi danh" Lê Lựu và Ngụy Ngữ thực hiện cuộc "thăm viếng lịch sử", đánh dấu lần trao đổi văn hóa của hai quốc gia, mà hai người kia là "đại biểu thuần thành" của quân đội hai miền Bắc, Nam Việt Nam. (Lê Lựu là thành viên của Hội Nhà Văn Hà Nội; Ngụy Ngữ vốn là một chuẩn úy đào ngũ thuộc QLVNCH, tác giả vài truyện ngắn được gọi là "văn chương phãn chiến"đăng trên một tạp chí văn học ở Sài Gòn trước 30 tháng Tư, 1975, Phụ Bản 6, Trang 7, đính kèm BMT của NHL). Sau thời gian dài trao đổi văn hóa với Việt Nam (cộng sản), Trung Tâm WJC có được kết luận chung cuộc khái quát về tình hình trong nước, và cộng đồng người Việt hải ngoại như sau: "Hiện thời, giới học giả ở Việt Nam không chú ý gì mấy về cộng đồng Người Việt hải ngoại - họ (giới học giả trong nước) đánh giá thấp tiềm lực kinh teá của tập thể nầy - vì tất cả chỉ nhắm vào ưu tiên tiêu thụ do thành phần ở hải ngoại nầyï đã xuất phát từ một quốc gia đã bị tàn phá tan nát do chiến tranh (chỉ thiếu chữ "Mỹ-Ngụy" là đủ cho cụm từ mà Hà Nội thường dùng để tố cáo nước Mỹ và VNCH - Người viết, PNN), mà nay đang cần tái kiến thiết hạ tầng cơ sở; và cũng do thái độ cố chấp chống đối chính quyền (trong nước) của một vài thành phần người tỵ nạn hiện sống trong cộng đồng lưu vong. Nhưng, điều nầy đang thay đổi". Trung tâm William Joiner tiếp tục có thêm lời đánh giá chẳng mấy tốt đẹp gì hơn: "Cộng đồng (Người Việt) lưu vong là những cá nhân, hay là những nhóm người bị trói buộc bởi lịch sử, họ sống trong "âu lo, thấp thỏm", và hiếm khi có được những niên biểu đầy đủ". Nhận định của Chaliand và Rageau, trích trong "Quan Điểm của Chương Trình Học Bổng Nhân Văn thuộc Cơ Sở Rockfeller năm 1999 - Trang 4, Đoạn thứ Nhất, Phụ Bản số 7, đính kèm BMT của NHL ". Vì Cộng Đồng Người Việt hải ngoại kém cỏi như thế nên chi Trung Tâm JWC và Đại Học Mass-Boston phải cậy đến những "học giả đáng tin cậy và có khả năng" từ trong nước.


Chúng ta bàn tiếp về Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Ngọc Hiến, hai người được Trung Tâm JWC tuyển dụng. Đúng ra trung tâm đã tuyển dụng được bốn người, nhưng một trong số bốn người nầy là công dân Mỹ bản xứ, người thứ hai là một nữ giáo sư Mỹ gốc Việt, cô Đàm, Kiều Linh đến Mỹ từ lúc bốn tuổi. Cả hai dẫu hội đủ bằng cấp, học vị theo tuyển lựa nhưng hiễn nhiên không thể nào có đủ "kinh nghiệm, hiểu biết về chiến tranh, trại tỵ nạn, trại cải tạo- những đề tài của dự án Năm Thứ Nhất"- Và tất nhiên họ đã "bị hoặc được" loại bỏ theo như "kế hoạch" dự trù của trung tâm. Thế nên, chỉ còn lại Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Ngọc Hiến với mặt trận mở rộng thuận tiện quen thuộc. Bởi đây là lần thứ ba Trung Tâm William Joiner phục kích đánh bẩn dứt điểm cộng đồng người Việt. Lần thứ nhất tổ chức cuộc "gặp gỡ lịch sử của hai nhà văn Lê Lựu-Ngụy Ngữ " nói trên, lần thứ nhì xuất bản tuyển tập "Writing Between Lines - Viết Giữa Hai Lằn Đạn", một tuyển tập truyện ngắn được đánh giá "tập trung những cây bút tiêu biểu của hai miền Nam-Bắc, viết "trung trực" về chiến tranh Việt Nam" gồm 12 người viết văn phát xuất từ Hà Nội và mật khu Miền Nam trong tổng số 14 người. Trước khi bàn tiếp vụ việc liên quan đến Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Ngọc Hiến, chúng tôi cần phải nói rõ một điều (tưởng là thừa nhưng thật cần thiết đối với tâm lý người đọc hải ngoại): Những điều sắp trình bày sau "hoàn toàn không do cảm tính" của người viết đối với hai nhân sự đang đề cập, đời sống cá nhân họ và chúng tôi tuyệt đối không một liên hệ tâm lý, tình cảm, vật chất nào - Họ chỉ là những "cái cớ", đối tượng của vấn đề chung nên nay phải đề cập đến. Hai người nầy là viên chức văn hóa cao cấp của chính quyền Hà Nội, một người, Nguyễn Huệ Chi, cán bộ chính trị tư tưởng Khoa Giáo Trung Ương giảng dạy tại Trường Đảng Nguyễn Aùi Quốc (trường và báo Nhân Dân là hai cơ quan được xem ngang với cấp Bộ về tổ chức và chức năng; về mặt chính trị quan trọng như một Ban); người thứ hai, Hoàng Ngọc Hiến, giám đốc Trường Dạy Viết Văn Nguyễn Du. Từ những cán bộ văn hóa nầy, dưới điều khiển trực tiếp của Ban Tư Tưởng thống thuộc Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng/Bộ Chính Trị hình thành nên chính sách văn hóa của đảng cộng sản, chỉ đạo chính trị toàn thể 76 triệu người Việt Nam (không loại trừ ba triệu người Việt ở hải ngoại). Họ chỉ đạo tinh thần người Việt theo nguyên tắc "bất khả nghị của lý thuyết cộng sản" (mà cộng sản Việt Nam lại là người học trò thuần thành, tuyệt đối - hơn hẳn kẻ khai sinh, và giảng dạy cho mình-những đảng cộng sản Đức, Nga, Tàu)- Nguyên tắc ấy là: TÍNH ĐẢNG LÀ TÍNH TỐI THƯỢNG. Ta có thể nhắc lại một vài câu khẳng định bất hủ: "Muốn có Phong Trào Cách Mạng- Phải có Lý Thuyết Cách Mạng. Muốn có Lý Thuyết Cách Mạng- Phải có Đảng Cách Mạng". Hoặc: "Đảng là tất cả - PhongTrào Công Nhân (quốc tế) không là gì cả". Những ngôn ngữ nầy phần lớn của Lê-nin, các lãnh tụ cộng sản thế giới biến đổi đi đôi chút, nhưng ở Việt Nam, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẫn... thường lập lại không sai sót; cán bộ cao, trung cấp viết, nói lại đúng từ cách ngắt câu, dấu chấm. Chúng tôi không nói điều hài hước châm biếm. Sau đây là "lập thuyết" của Hoàng Ngọc Hiến về kỹ thuật viết văn,


... Trong tham luận "Viết Như Thế Nào" vừa nêu ra, có hai câu hỏi:


Khi ta viết, thì viết cho Người Đọc nào?

Khi ta viết, thì viết cho Mục Đích gì?
Trên đây là đề cương mà Bác Hồ đã gói trọn trong toàn bộ bài giảng của Bác. Đó là hai câu hỏi bao gồm hết tất cả các vấn đề.
Và HNHiến "giáo dục" tiếp về nghệ thuật viết văn:

... Dựa trên lời dạy của HCM về mục đích của những bài viết, thì mục tiêu của một nghệ sĩ cách mạng (người viết văn) là nhắm vào việc "cải tạo - giáo dục cách mạng xã hội". (Văn Học và Học Văn, Hoàng Ngọc Hiến, NXB Văn Học, Hà Nội 1999.)


Những nội dung như trên không là chữ nghĩa lý thuyết xuông, chúng biến thành nguyên tắc chỉ đạo hành động cho người cầm viết, lẫn người cầm súng (ở Miền Bắc trước 1975, và cả nước sau nầy). Thế nên lềnh đặc trong tất cả mọi văn hoá phẩm gọi là "văn hóa xã hội chủ nghĩa" ở Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua đã tràn đầy những chữ nghĩa tàn nhẫn dậy mùi máu.. Miền Nam từ vực thẳm thảm khốc của Mậu Thân, 1968 do "thành quả chiến thắng" của đạo quân xâm lược đi từ Miền Bắc, bôn tậïp từ mật khu về được Tố Hữu mô tả,


Đẹp như Huế đầu xuân dậy đỏ cờ

Miền Nam trong lửa đạn sáng ngời...

Và Chế Lan Viên thêm vào màu đỏ hung hãn kia men say xác chết người Nam lâm tử nạn,

Tao đánh mầy hân hoan như sinh đẻ
Và linh thiêng như xây dựng kỳ đài

pnn1




Lời kêu gọi máu nầy không phải chỉ có ở thời điểm Mậu Thân 1968, nhưng đã dậy nên từ rất lâu với bài hát dục người vào chỗ chết, dựng sự nghiệp sát nhân - Điển hình với Tiến Quân Ca của Văn Cao,
Đường vinh quang xây xác quân thù

"Quân thù" đó không giới hạn chỉ là đạo quân viễn chinh quân đội Pháp của những năm 1945-54, nhưng khi cần đáp ứng cho một tình thế chính trị, ở một thời điểm khẩn cấp nào đó, người "nghệ sĩ cách mạng cộng sản Việt Nam" thấy ra "kẻ thù giai cấp" ngay chính trái tim của mình,

Ai về làng Bái Hạ
Nhắn "vợ chồng thằng thu"
Rằng,
Chúng bây là lũ quốc thù


"Vợ chồng thằng thu" kia chính là Ông, Bà Ngô Xuân Thu, bố mẹ sinh thành ra "nghệ sĩ cách mạng nhân dân", cũng là "thi sĩ tình yêu" Xuân Diệu của Hà Nội trước 1945, mà nay không xứng đáng gọi tên với một chữ viết hoa do đã trở nên đối tượng thù nghịch của đợt Cải Cách Ruộng Đất 1953, và phải được thanh toán không nương tay,

Giết! Giết! Giết!
Bàn tay không phút nghỉ
Để ruộng đồng thêm tốt lúa thêm xanh.

Những chữ nghĩa đồng tính với sự ác như trên của người cộng sản không hề cũ, sau năm 1975, chúng được gắn lên thây xác của những đối tượng mới - những xác trẻ con, phụ nữ (bởi đàn ông hầu hết ở trại cải tạo) vượt biên tấp vào bờ biển Vũng Tàu, cầu Rạch Chiếc, xa lộ Thủ Đức - với lời buộc tội ngang ngược "Bọn phản bội tổ quốc bỏ nước ra đi!" Những xác chết nầy chỉ được nhận về chôn với điều kiện - Thân nhân không được khóc, và trả "tử phí" với giá biểu, xác người lớn 1000 đồng, xác trẻ con 600 đồng, khoảng vài ba đô-la Mỹ!
Những nhân sự, người cầm bút Miền Bắc vào, ở hẳn Sài Gòn, miền Nam như Dương Thu Hương, Vũ Thư Hiên, Bảo Ninh, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Duy, Tiêu Dao Bảo Cự.. chẳng lẽ không biết về những "đối tượng kẻ thù"ø mới mẻ nầy, (Hãy đọc "Nhân ngày giỗ Nguyên Hồng, thấy xác chết người vượt biên trên Bãi Trước, Vũng Tàu" của Trần Mạnh Hảo)- Chuyện vừa xẩy ra trong thập niên 70, 80 kéo dài đến 90 dài theo bờ biển Việt Nam.

Tập đoàn công tác "văn hóa - lập thuyết" cho chế độ cộng sản Hà Nội, há không nghe tiếng gào phẫn uất của nông dân ở Thái Bình, Nam Định, chiếc nôi nuôi sống "cách mạng giải phóng dân tộc, và cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam" suốt chặng đường dài lâu hơn nửa thế kỷ, từ những ngày khởi nghĩa 1945. Với chữ, nghĩa của mình, những người thêm men "chủ nghĩa anh hùng cách mạng" cho chế độ độc tài, độc đảng ở Việt Nam há không biết cơn trào dâng khát khao dân chủ, tự do của người dân nơi Long Khánh, Komtum, Pleiku, Ban Mê Thuộc... Những con người đơn giản, trung hậu có thể đã hơn một lần "nuôi dấu, che chở cách mạng giải phóng Miền Nam". Các anh không nghe tiếng kêu đau của vị Sư già Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang vì xót thương sinh linh bị bách hại (nghĩa là gồm cả các anh- những con người vị tước đoạït mất phẩm chất khí phách, tự do kẻ sĩ mà tự thân không hay biết). Những người cầm bút Hà Nội có bao giờ nghĩ ra chiếc cùm Cha Thadéo Nguyễn Văn Lý trong hai mươi năm nặng nề và tàn nhẫn gấp bội phần so với vài ba tháng "quản chế" của Tiêu Dao Bảo cự? Chẳng lẽ người viết văn gốc Hải Phòng mới biết "phản kháng để đảng trở nên trong sáng" do thấm đòn tranh chấp quyền lợi của tập đoàn cầm đầu ở Hà Nội, còn "đám viết văn ở Bolsa, California chỉ là bọn chống cọng điên cuồng của "lũ ngụy sàigòn- nối dài (lưu ý, không viết chữ hoa dù danh từ riêng, vì không xứng đáng)" như Như Phong Lê Văn Tiến, Doãn Quốc Sĩ, Hà Thượng Nhân và hằng trăm người khác, kẻ chết tan xác (Dương Hùng Cường, Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường.. ), sống khắc khoải, đày ãi Nguyễn Thụy Long, Thụy Vũ.. không được quyền biết đau vì phận nghiệp viết văn hay sao? Có một ai trong đám viết văn ở Hà Nội, Miền Bắc kia nói lên một tiếng nhỏ về nỗi khốn nhục của những "văn hữu" Miền Nam phải gánh chịu sau 30 tháng Tư 1975 (do "tội" từ những chữ viết của mình), nếu không nói là thái độ hã hê thống khoái của kẻ được báo thù ty tiện. Nguyễn Khải, tổng thư ký hội nhà văn Hà Nội với "Tháng Ba Tây Nguyên" là một đặc trưng nổi bật nhất của những kẻ làm "văn chương- văn hóa nơi chốn thủ đô của phẩm giá con người kia".


Hitler sẽ chỉ là một gã lu loa vô hại nếu không có những con người "mộng tưởng" như Rudolf Hess giúp y thực hiện giấc mộng đại chủng tộc Đức; với kỹ thuật "lật ngược bộ não" con người, Goebbels đã tận dụng văn chương, triết học, điện ảnh, kỹ thuật truyền thanh để biến anh thợ sơn mồm mép kia nên người xô toàn thế giới vào cơn hung tàn Thế Chiến thứ Hai, giết 6 triệu người Do Thái, 5 triệu khác gồm người Gypsies, chủng tộc Slaves, kẻ đồng tính, đảng viên cộng sản. Cũng tương tự như thế, anh thanh niên tên gọi Nguyễn Tất Thành vốn học hành kém cỏi, phải tha phương kiếm ăn do gia đình phá sản vì lỗi từ người cha trong cơn say, bạo ngược cuồng khấu giết người; anh ta sẽ chỉ là một "kiều bào" như trăm ngàn người Việt khác sống lưu vong ở Pháp, và khi về già lộ hẳn tính cuồng dâm bệnh hoạn (hãy xem lại những hình ảnh ông Hồ ôm hôn trẻ nhỏ, thiếu nữ, sẽ thấy rõ ra bệnh dâm"ấu nhi dục" của con người nầy; không cần phải đọc hồi ký Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên về sự kiện ông ta im lặng đồng thuận cho bộ trưởng công an Hà Nội Trần Quốc Hoàn hiếp, giết cô Xuân người đã ăn nằm thai sinh ra con ông (sau đó, giết luôn những người liên hệ của cô để diệt đầu mối). Nhưng do từ chữ viết, lời ca, băng nhạc, phim truyện, sách vở giáo khoa, bích chương quảng cáo, ảnh thờ gia đình, lẫn cả đồ chơi con nít, thiệp chúc Tết- nghĩa là toàn bộ "văn hóa phẩm cách mạng" sản xuất tại Miền Bắc, (sau 1975 đối với cả nước) trong suốt nửa thế kỷ thế kỷ qua, và hiện nay vẫn đang tiếp tục - đã biến con người bệnh hoạn, hiễm độc kia đã trở nên bất tử, luôn hiện diện dẫu đã chết do bịnh già hơn ba mươi năm qua. Ta có thể kể ra vài lời xưng tụng:"Hôm nay trên đường hành quân ra mặt trận. Trùng trùng quân đi theo ánh sao lá cờ của Bác.."; hoặc, "Từ khi vượt núi qua đèo. Quân đi Bác vẫn nhìn theo tháng ngày.."; hay, "Bác theo lính Miền Bắc hành quân diệt Mỹ-Ngụy; Bác quan tâm chị em Miền Nam bị máy bay Mỹ ném bom nên "hành kinh" không đều"; Bác chăm sóc cho người lớn từ lọ "tương cà mắm muối"; bác lo từng đứa trẻ để "ai ai cũng được học hành". Tóm lại, Bác tham dự vào tận giấc ngủ, quyết định đến chuyện ăn nằm vợ chồng - Bác là "bản ngã thứ hai" thay thế toàn diện tâm thức lẫn cơ cấu sinh lý của triệu con người gọi là "nhân dân tiến bộ". Những chữ trong ngoặc kép kể trên thuần là "chữ của Bác", hoặc chữ ngợi ca Bác, mà theo thống kê của chuyên viên điều hành kỹ thuật tuyên truyền thế giới, thì họ Hồ là một trong những người được nhận sự tôn sùng nhất của nhân loại - Thành quả nầy không thể thiếu sự góp mặt của người cầm bút trong hàng ngũ "cán bộ văn hóa- văn công cộng sản". Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi là những "cán bộ" nầy-những cán bộ cốt yếu hàng đầu được thực chứng khả năng, lòng nhiệt thành phục vụ sau hằng 40, 50 năm công tác đảng. Chữ, nghĩa dưới ngòi bút của những con người nầy đã rơi xuống mức sa đọa tệ hại nhất, bởi cầm bút là "hiện thực cách thế sống Tự Do" gần như toàn vẹn nhất trong cuộc sống nhân sinh, nhưng những con người kia đã biến chữ viết nên thành một "phương tiện phục vụ, cung ứng" cho nhu cầu cuồng dâm, bạo ngược của kẻ cầm quyền thực hiện một chủ nghĩa đã bày ra đầy đủ tính bất nhân tàn hại cho toàn nhân loại và các dân tộc. Những Lenine, Staline, Ceaussecu, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh, Polpot.. Dân Tộc Việt chịu khổ nạn trầm luân đọa đầy nhất, bởi nay đang bắt đầu thế kỷ 21, nhưng ở Việt Nam vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt đầu mối nguồn bất hạnh lớn lao kia. Bởi "làm văn hóa lầm sẽ tác hại đến muôn đời" mà kẻ sĩ người Việt đã từ lâu hình như đã đánh mất chức năng cao quý thiêng liêng của mình, đồng thuận một cách rất đáng chê trách để trở nên thành "cán bộ văn hóa" của chế độ bạo ngược, phục vụ những kẻ cầm quyền vô lại. Một gã vô học, hung hăng, thô tục như Lê Duẫn qua "Thời Dựng Đảng" của ngòi bút Thép Mới đã biến thành "Anh Ba", với đầy đủ hào quang quyền lực, đến nỗi một người sắc sảo như Indira Gandhi phải ngỏ lời trầm trồ khen ngợi về tính chất huyền thoại!!


Và cụ thể, gần đây, những người ở Hà Nội, ở Việt Nam như Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Ngọc Hiến đã nghĩ, lý luận, viết như thế nào về thực tiển Việt Nam "tụt hậu"(chữ của người cộng sản) xuống hàng nghèo đói thứ tư kể từ dưới lên của thống kê mười nước nghèo nhất thế giới. Người "làm văn hóa Miền Bắc" nghĩ gì về tình trạng giáo dục tan nát với hiện tượng lớp học trẻ con ngay tại Hà Nội ngồi trên đòn thấp đặt lên đất; thầy, cô giáo kiêm luôn nghề bán hàng rong trước cửa lớp; và cơ quan chính quyền nhận được chỉ thị "tận dụng huy động đồ cứu trợ của nạn nhân bão lụt" (thật sự là hành vi ăn cướp giữa ban ngày - ăn cướp trên thây chết của đồng bào mình - tương tự như "lệ phí" đóng trên xác người vượt biên hai mươi năm trước), gồm 10 triệu Mỹ kim của Liên Hiệp Quốc, và 10 triệu của cộng đồng người Việt hải ngoại - Nhưng, cộng đồng lưu vong nầy vẫn không có tiềm năng kinh tế và sống trong sợ hãi lo âu (không nói rõ sợ ai, và lo âu điều gì)". Bản nghiên cứu của JWC không vô cớ, và tự nói nên những lời nầy, chúng chỉ thành hình do "chỉ đạo" có hiệu quả theo trục Hà Nội- Boston với những "sứ giả- những nhà văn hóa thuần thành, trung trực" xuất phát từ trường đảng Nguyễn Ai Quốc.


3- Không Phải Khi Nào Chính Nghĩa Cũng Thắng.


Cuối cùng, vụ kiện diễn ra không như suy nghĩ giản dị, trung trực của Nguyễn Hữu Luyện, và UMass-Boston đã bác bỏ những cáo buộc của anh với biện hộ thực tiển: "Tất cả sự tố cáo của Nguyên Đơn chỉ là: "Trường Đại Học tuy đã rao báo, nhưng tự hậu chỉ tuyển dụng những người khác vào "chức vụ công tác" (đây là chương trình học bổng) mà ông ta không hề nộp đơn ứng tuyển". Không mướn một người nào đó vì người ấy đã không nộp đơn ứng tuyển không phải là một hành vi phạm pháp. Giống như 270 triệu người khác trên toàn quốc (nước Mỹ) đã không nộp đơn ứng tuyển vào chức vụ này, Nguyên Đơn chẳng có quyền gì để kiện chúng tôi."


Chúng ta không thể không cảm thấy xa xót với câu trả lời nhẫn tâm bất chấp nhưng thực tiển kể trên. Và chúng ta làm gì được đối với một việcï đã rồi, qua sự kiện "những hành vi đã hoàn tất trước khi thông báo". Hóa ra, khi cần thiết vào Việt Nam thì có tuyên cáo long trọng: "Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17, và Ngô Đình Diệm là con người thần kỳ- TT Dwight Eisenhower"; khi chuẩn bị rút đi thì có đánh giá kinh miệt: "Sài Gòn ví như một ổ điếm khổâng lồ- TNS Mike Mansfield", và "đám tướng lãnh ở đấy chỉ là một đống rác- Đại sứ Maxwell Taylor"; cuối cùng cần buộc Miền Nam mau chóng đi vào lần sụp đổ cuối cùng, 1975, thì tuyên bố thẳng thừng: "Không nên cho chúng (Chính phủ Sài Gòn) thêm một đồng xu nào nữa". Cách nói tàn tệ của Abzug, dân biểu Hạ Viện Mỹ, nổi tiếng do thái độ thù ghét, chống đối chính quyền, quân đội Miền Nam.Và nay, cần viết lại lịch sử Việt Nam để yên ổn giải thích sự thất bại của mình (do đánh giá sai bởi chủ quan, và yếu đuối đối với kẻ thù hiểm độc, bất nhẫn coi khinh bạn bè), nên tuyển dụng ngay những kẻ gây nên "tình trạng lưu vong" của ba triệu người Việt hải ngoại, để từ đó sẽ có những câu kết luận soạn sẵn: "Cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại chỉ là tập họp những di dân vì lý do kinh tế, hoặc có tộâi với nhà nước Việt Nam, kém văn hoá, không viết nên được niên biểu sinh hoạt cho tập thể mình, sống âu lo, và sợ hãi ngày mai vì không có tiềm năng kinh tế...". Những người như Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huệ Chi đã, và đang hợp thức hóa, chính thống hóa những nhận định nầy có sự tiếp tay của những người Mỹ - Kẻ luôn muốn chứng tỏ vị thế tối thượng của mình trong tất cả mọi tình huống - Ở đây, họ thủ đắc thêm quyền hạn từ quá trình hành xử, hoàn tất, và cho phép tay sai thực hiện Sự Aùc.


Khi Thượng Đế đã bị giết thì Con Người còn lại gì? Người Mỹ đang giải quyết chương trình nầy với văn minh kỹ thuật tối ưu của họ một cách vụng về, rất nhiều lầm lẫn.(*)


Cuối cuộc, và dù cay đắng đến bao nhiêu chúng tôi vẫn phải bày tỏ cùng Anh (hay nhắc nhở cho chính bản thân, và tất cả bằng hữu, những tấm lòng chung thủy sắc son)- Cái giá đầu tiên mà Kẻ Sĩ, người Chiến Đấu phải trả là sự thiệt hại của chính bản thân, và nỗi đơn độc thăm thẳm trên đường đi, giữa bóng đêm trùm lấp. Vụ án của Anh (hay của chung chúng ta) sẽ vô cùng giản dị, dễ giải quyết, có khả năng thâu đoạt thắng lợi, nếu như quỹ vận động có một khoảng tiền tương đối vừa đủ cho án phí. Tương tự như thế, chính phủ Thái sẽ không thể nào ngang ngược, lật lọng trong vụ xét xử Lý Tống, nếu toàn bộ ba triệu người Việt trên toàn thế giới đồng lòng trong một ngày tẩy chay tất cả hàng hóa, dịch vụ có liên quan đến, của, từ Thái Lan - Phải, chỉ một ngày thôi cũng đủ. Lý Tống ắt trở về cùng chúng ta.


Thế nhưng, Chúng Tôi luôn có mặt cùng Anh. Dẫu cái chết. Dẫu vũng tối. Vì Quê Nhà đang mãi giữa đêm dày.


Mùa Lễ Chiến Binh Mỹ

Phất phới Cờ Hoa bay
Quê Hương sâu mạch đất
Máu xương lớp lớp rây.





phan nhật nam

Mời nghe nhạc

Bạch Đằng Giang - Nguyễn Hồng Nhung, Diễm Liên:

http://www.youtube.com/watch?v=-Nk51dRi5fE&feature=relmfu

Hội Nghị Diên Hồng - Asia

http://www.youtube.com/watch?v=WJZLGtFxSTg&feature=relmfu

Xuất quân – Asia.

http://www.youtube.com/watch?v=2HXTVANmOow&feature=related


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, April 17, 20197:09 PM(View: 20)
Mỗi người dân Việt trong tâm thức đều mang niềm kiêu hãnh là con cháu Tiên-Rồng. Bởi lẽ theo truyền thuyết, hai linh vật siêu nhiên này là vật tổ của Việt tộc - Lạc Long Quân và Âu Cơ - đã từ lâu hiện hữu trong tâm khảm của chúng ta như thủy tổ của giống nòi. Một cách cụ thể, hai linh vật này đã hoá thân thành tổ phụ người Việt, mang thuộc tính cao qúy của giống Rồng-Tiên, có phép nhiệm màu có thể bay bổng, lặn sâu, làm mưa, làm gió hay “hô phong hoán vũ,” phò trợ thị tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách của thời tiết khắc nghiệt của nghề nông và sự xâm lấn, hủy diệt của các thị tộc khác. Hai Linh vật này xuất hiện trong thần thoại dựng nước, sản sinh ra thủy tổ người Việt dưới hình thức một bọc trăm trứng của loài chim hoá thân. Đó chính là tiền thân của Họ Hồng Bàng, với 18 đời vua Hùng dựng nước. Khái niệm vật tổ Tiên-Rồng hoá thân dưới dạng Giao long, Lạc Hồng, Phượng Hoàng... là những sinh vật cụ thể hoặc siêu nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh hoặc sinh hoạt đời
Monday, April 15, 20197:53 AM(View: 39)
Theo bản tin Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 09/4/2019: Quy hoạch báo chí ‘vi hiến’, sẽ ‘làm thất nghiệp’ hàng nghìn nhà báo? Theo tìm hiểu của VOA, tính đến giữa năm 2018, Việt Nam có hơn 1.100 cơ quan báo chí các loại, gồm 857 báo và tạp chí in, 195 trang báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương...” Báo Chí (Press) đã có từ xa xưa, kế đến là Truyền Thanh (Broadcasting) và Truyền Hình (Television - TV) thường gọi là Truyền Thông (Media), sau nầy có thêm Internet nên gọi là Truyền Thông Đại Chúng (Communication). Theo Wikipedia “Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet. Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là "seven mass media" (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến. Nó bao gồm: In ấn từ cuối thế kỷ 15. Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19. Điện ảnh từ khoảng năm 1900. Phát thanh từ
Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 51)
Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam. Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*) Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn. thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa. Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập! Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi. Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ. Có đôi ba người (cũng làm thơ) Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa. (Và thơ tình của những nhà thơ khác) Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng. Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”. Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương: “…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?” Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, mỗi người làm thơ. Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình. Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”. Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm. Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú. Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”.
Sunday, April 7, 20198:04 AM(View: 137)
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, Hè năm 1971, tôi rời Nha trang để theo khọc Khóa 3 Trung Cấp CTCT ở quân trường cũ tại Đà Lạt. Sau khóa học, tôi về phục vụ tại Đà Nẵng và sau đó trở lại quân trường nầy cho đến ngày mất nước. Trong quãng thời gian đó, tôi thường về Nha Trang, nơi chốn tôi “dừng bước giang hồ” khi lập gia đình. “Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đã
Wednesday, April 3, 20197:05 AM(View: 153)
Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (2009)