DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,951,122

Nhớ Vũ Cao Hiến - T.Vấn

Wednesday, May 30, 201212:00 AM(View: 18701)
Nhớ Vũ Cao Hiến - T.Vấn

Nhớ Vũ Cao Hiến



tu_khuc_t_van_net-content

 (Tranh : Trần Thanh Châu)



Quá khứ luôn luôn là một gánh nặng không dễ dàng rũ bỏ, dù người ta có cố gắng đến đâu. Nhất là thứ quá khứ dính liền với những chặng đường khổ nhục của một đời người, dính liền với những người một thời mình chia sẻ nhiều thứ. Quên không được thì đành phải nhớ. Mỗi khi có dịp, nỗi nhớ như vết thương chưa lành, lại tấy mủ, sưng mọng, làm đau nhức. Và mất ngủ.

Trong bóng tối của đêm, ngòai hồn ma bóng quế dật dờ, còn có những khuôn mặt người tình, bằng hữu, nhất là những người đã vội bỏ cuộc chơi lạc bước vào miền miên viễn chiêm bao. Một trong những khuôn mặt mà tôi nhớ nhất trong những đêm mất ngủ nghĩ về ngày tháng tù đày là Vũ Cao Hiến.

Thực ra, tôi biết Hiến (chứ không quen) từ trước khi đi tù. Năm 1972, lúc tôi còn thụ huấn tại trường ĐH/CTCT/Đà Lạt, Hiến là SVSQ khóa 23 Võ Bị. Anh qua trường tôi hát giúp vui trong một buổi nhạc hội . Đó là một giọng hát khiến tôi khó quên. Bài hát Hiến hát đêm đó cũng khó quên : Kỷ Vật Cho Em của Phạm Duy. Đời sinh viên sĩ quan với những kỷ luật khe khắt của quân trường, dù rất muốn nhưng tôi không có dịp để làm quen người sinh viên võ bị có giọng hát tuyệt vời ấy.

9 năm sau, tôi gặp lại Hiến trong nhà tù trại cải tạo Vĩnh Quang, thuộc tỉnh Vĩnh Phú, miền trung du Bắc Việt. Trại có hai khu : Vĩnh Quang A và Vình Quang B. Trại A gồm phần lớn an ninh tình báo, chiến tranh chính trị. Trại B gồm phần lớn các sĩ quan tác chiến ở các binh chủng dữ dằn : Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân. Tôi ( CTCT) ở A . Hiến ( BĐQ) ở B. Dịp Tết 1981, Ban văn nghệ trại VQ A thiếu người do một số đã được thả, nên bổ sung thêm một số có khả năng đàn hát ở trại VQ B. Khi ấy, Hiến đang bị biệt giam vì “ tội “ hát và phổ biến “ nhạc phản động “. Chúng tôi đề nghị ưu tiên Vũ Cao Hiến và một số anh em khác từ trại B ra trại A để bổ sung vào ban văn nghệ. Ra tới trại A, chàng sĩ quan BĐQ trắng trẻo thư sinh xanh như tàu lá vì nằm biệt giam lâu ngày và kiệt sức vì thiếu ăn. Nhưng điều đó cũng không ngăn cản được chàng nhanh chóng chinh phục anh em tù trại VQ A, như anh bạn tù Trần Lê Việt , một tác gỉa tù khúc đã viết “Trong nhóm tăng cường này, nổi bật là Vũ Cao Hiến. Cũng như Đào Đức Hùng tôi nhắc đến ở trên, Hiến là một giọng ca hay nhất tôi gặp trong tù, không điêu luyện như Hùng nhưng lại nhẹ nhàng đơn sơ dễ đến với người nghe. Anh cũng là tác giả của nhiều bài tù khúc được anh em ưa thích, lại được chuyển đến bằng giọng ca truyền cảm của chính tác gỉa, nên tác động của những bài nhạc ấy của Hiến rất lớn. Cuộc đời của Hiến kết thúc một cách buồn thảm. Sau khi ra tù một thời gian ngắn, anh vượt biên và bỏ xác trên đường, để lại bao thương cảm cho bạn bè.. . “ (Trần Lê Việt : Những hình bóng cũ).

Năm đó, chúng tôi đã thực hiện được một chương trình văn nghệ để đời trước khi chính thức rã đám kẻ lên tàu vào Nam , kẻ lên xe qua Nam Hà. Với chủ đề “ Mùa Xuân và Quê Hương “, chúng tôi lập lờ những bài hát cũ của miền Nam 1975 với những bài hát sau này phổ biến ở Sài Gòn của một số nhạc sĩ trẻ miền Nam qua những lời dẫn giải cũng lập lờ không kém. Cán bộ trại khen hay, nhưng “ cao quá, khó hiểu “, anh em tù thì hoàn tòan thỏa mãn. Vũ Cao Hiến góp phần mình thật xuất sắc với bài Tình Quê Hương của Đan Thọ phổ thơ Phan Lạc Tuyên. Anh hát hay đến độ cán bộ trại dù thắc mắc về nguồn gốc bài hát nhưng ngần ngừ không dám hỏi sợ Hiến không chịu hát nữa.


tu_khuc-content



Kể từ đó, ban ngày Vũ Cao Hiến “ phải “ xách đàn ( tự chế ) đi hát cho cán bộ nghe những bản nhạc vàng, ban đêm anh cũng lại ôm đàn hát tù khúc cho anh em chúng tôi gậm nhấm nỗi buồn, nỗi hận. Anh Đỗ Xuân Tê, một cựu tù Vĩnh Quang, đã viết về nhạc của Vũ Cao Hiến dòng sáng tác của VCH nặng về ngẫu hứng, anh tự để cho cảm xúc tuôn trào, không gò bó khuôn sáo theo ước lệ và nếu để ý lời nhạc gần như được ghi lại và chuyển tải dưới dạng như kể lể thở than về những hoài niệm một thời, những ước mơ một thuở, lòng có bi phẫn nhưng óc vẫn lạc quan, tình huống có đắng cay nhưng chí khí vẫn hào hùng, dù có đau thương nhưng sẵn sàng chấp nhận. Hình như trong tâm tư người lính trẻ có sự chuẩn bị đối diện với những rình rập không tên, những thách thức của số phận và bằng sức mạnh của tâm linh tôi phục anh ở chỗ trong lúc cố vượt thoát những oái oăm của một thời xã hội nhiễu nhương, quyết không sống chung (nhưng vẫn khoan nhượng thứ tha) cho những kẻ có tâm địa thù dai sau ngày tàn cuộc . . . “ (Đỗ Xuân Tê : Vũ Cao Hiến với 13 Tù khúc khó quên).

Tháng 5 năm 1981, tôi và Trần Lê Việt lên tàu vào Nam, tiếp tục đời tù đày ở trại Z30A, Xuân Lộc. Vũ Cao Hiến và một số anh em khác ở lại, tưởng sẽ được về. Một năm sau gặp lại Vũ Cao Hiến ở Z30A Xuân Lộc, chúng tôi mới biết chỉ có một số được thả, số còn lại bị đưa về Nam Hà, trong số đó có Hiến.

Gần cuối năm 1983, tôi có tên trong danh sách cho về. Trần Lê Việt và Vũ Cao Hiến phải chờ vài tháng sau nữa mới nối gót tôi. Vũ Cao Hiến có một người vợ . . . chưa cưới, sau 9 năm vẫn chung thủy chờ anh. Hiến nhờ tôi đến nhà tập cho nàng hát những tù khúc của chàng để thêm vững lòng chờ đợi. Tôi hoan hỉ làm tròn trách nhiệm với bạn, dù nhà nàng ở rất xa nhà tôi và tôi không có một phương tiện đi lại nào ngòai . . . đôi chân khẳng khiu của mình.

Ngày Vũ Cao Hiến được thả về, tôi không biết, cũng không được gặp. Cuộc sống sau tù đầy gian nan quá, bấp bênh quá, không có thì giờ cho những “ buổi chiều về hát tình ca buồn nhất “ . Vả lại, Sài Gòn mênh mông xô bồ xô bộn, bạn bè gặp nhau trên đường chỉ kịp nói câu chào hỏi rồi đường ai nấy hối hả đi. Tôi không biết sau ngày ra tù, Hiến có còn cầm đàn được không và những bài hát mà tôi tập cho người vợ chưa cưới của anh thuộc được đến đâu. Một lần, gặp Hiến và mấy người bạn ở một quán cà phê khu Ngã Ba Ông Tạ, chúng tôi chỉ có thể chào hỏi nhau vài câu vì không khí quán quá ồn ào để có thể nói được những chuyện tâm tình như ngày còn ở trong tù. Nhìn vẻ mặt hốc hác của Hiến, tôi biết rằng cuộc sống cũng chẳng ưu đãi anh hơn tôi là bao.

 

tu_4_0



Sau đó, qua vài người bạn, tôi biết tin Hiến đã vượt biên. Bẵng đi một thời gian sau nữa, nghe tin anh đã bị mất tích. Mất tích như thế nào, tôi không biết. Lúc ấy, Sài Gòn sôi động với chương trình HO, cựu tù cải tạo được đi định cư ở Mỹ. Vũ Cao Hiến đã không chờ đợi được, hay nói như anh Đỗ Xuân Tê “ quyết không sống chung với những kẻ có tâm địa thù dai “. Và tôi , mải mê với những dự định làm lại đời mình khi cầm được tờ giấy xuất cảnh trên tay, quên bẵng hết mọi sự, cả khuôn mặt người bạn tù xấu số vừa ra khỏi trần gian này trong lúc vượt biển tìm tự do.

Tháng 2 năm 2005, có dịp đi San Jose giới thiệu sách của một người bạn tù, tôi gặp lại Ngọc Phi , nhà thơ hiền lành , bạn tù nhiều năm tại Vĩnh Quang. Phi khoe tôi một đĩa nhạc 13 bài tù khúc của Vũ Cao Hiến, do Đinh Quốc Trực ở Pháp thực hiện để tưởng nhớ Vũ Cao Hiến. Sau khi làm xong, Đinh Quốc Trực cũng lặng lẽ ra đi. Khi trang T.Vấn & Bạn Hữu thực hiện chuyên mục Tù Khúc, tôi đã được Ngọc Phi gởi cho một bản sao nhạc Vũ Cao Hiến. Trần Lê Việt cũng đưa cho tôi hai CD nhạc tù khúc, trong đó có vài bài nhạc của Vũ Cao Hiến do Trần Gia Tỏan hát. Trần Gia Tỏan nay cũng đã là người thiên cổ.

Thế là những dấu vết cuối cùng liên quan đến những bài tù khúc của Vũ Cao Hiến đã biến mất khỏi trần gian buồn bã này. Có còn chăng là những hồi ức về anh, về Đinh Quốc Trực, về Trần Gia Tỏan đọng lại ở những trái tim gìa nua của những bạn bè còn sống. Tôi không biết, người vợ chưa cưới năm nào của Vũ Cao Hiến có còn sống ở đâu đó, một mình hay với một người nào, hạnh phúc hay sầu khổ, hay có thể “ may mắn hơn “ đã nắm tay cùng anh đi xuống biển trong cuộc chạy trốn tìm tự do năm xưa . Và những cô em gái trẻ trung xinh đẹp của Vũ Cao Hiến ngày tôi vừa ra khỏi trại tù được gặp gỡ, bây giờ họ ở đâu, làm gì, có còn nhớ chút nào đến những người bạn của anh mình nay đã trở thành những ông già nặng trĩu cặp kính lão không còn tương lai để tha thiết nên chỉ đêm đêm ôm quá khứ mà hỏi “ bạn bè ơi sao cứ bỏ ta đi “.

Biết làm sao khác hơn được. Tiếng vọng chiến tranh chưa mất hẳn mà tiếng vọng tù đày vẫn mãi âm u khiến cổ họng đắng ngắt mỗi khi nghe lại điệu nhạc tù năm xưa .

Vậy mà tôi lại lựa chọn chính mình làm công việc sưu tập, ghi chép , kiểm chứng những điệu nhạc buốt lòng ấy .

Liệu người chết có còn cảm giác để vui lòng ? hay cũng chỉ là an ủi người sống ?



T.Vấn

Lễ Chiến Sĩ Trận Vong 2012

 

Mời nghe nhạc:

Anh ở đây. Thục Vũ và Vũ Đức Nghiêm

http://www.youtube.com/watch?v=K66VwCYY-uc&feature=youtu.be

Việt Nam quê Hương Ngạo Nghễ. Nhạc: Nguyễn Đức Quang - Asia

http://www.youtube.com/watch?v=dXi3AXHT-kU&feature=relmfu

 

 




Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Wednesday, April 17, 20197:09 PM(View: 7)
Mỗi người dân Việt trong tâm thức đều mang niềm kiêu hãnh là con cháu Tiên-Rồng. Bởi lẽ theo truyền thuyết, hai linh vật siêu nhiên này là vật tổ của Việt tộc - Lạc Long Quân và Âu Cơ - đã từ lâu hiện hữu trong tâm khảm của chúng ta như thủy tổ của giống nòi. Một cách cụ thể, hai linh vật này đã hoá thân thành tổ phụ người Việt, mang thuộc tính cao qúy của giống Rồng-Tiên, có phép nhiệm màu có thể bay bổng, lặn sâu, làm mưa, làm gió hay “hô phong hoán vũ,” phò trợ thị tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách của thời tiết khắc nghiệt của nghề nông và sự xâm lấn, hủy diệt của các thị tộc khác. Hai Linh vật này xuất hiện trong thần thoại dựng nước, sản sinh ra thủy tổ người Việt dưới hình thức một bọc trăm trứng của loài chim hoá thân. Đó chính là tiền thân của Họ Hồng Bàng, với 18 đời vua Hùng dựng nước. Khái niệm vật tổ Tiên-Rồng hoá thân dưới dạng Giao long, Lạc Hồng, Phượng Hoàng... là những sinh vật cụ thể hoặc siêu nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh hoặc sinh hoạt đời
Monday, April 15, 20197:53 AM(View: 31)
Theo bản tin Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 09/4/2019: Quy hoạch báo chí ‘vi hiến’, sẽ ‘làm thất nghiệp’ hàng nghìn nhà báo? Theo tìm hiểu của VOA, tính đến giữa năm 2018, Việt Nam có hơn 1.100 cơ quan báo chí các loại, gồm 857 báo và tạp chí in, 195 trang báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương...” Báo Chí (Press) đã có từ xa xưa, kế đến là Truyền Thanh (Broadcasting) và Truyền Hình (Television - TV) thường gọi là Truyền Thông (Media), sau nầy có thêm Internet nên gọi là Truyền Thông Đại Chúng (Communication). Theo Wikipedia “Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet. Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là "seven mass media" (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến. Nó bao gồm: In ấn từ cuối thế kỷ 15. Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19. Điện ảnh từ khoảng năm 1900. Phát thanh từ
Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 45)
Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam. Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*) Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn. thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa. Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập! Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi. Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ. Có đôi ba người (cũng làm thơ) Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa. (Và thơ tình của những nhà thơ khác) Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng. Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”. Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương: “…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?” Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, mỗi người làm thơ. Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình. Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”. Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm. Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú. Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”.
Sunday, April 7, 20198:04 AM(View: 132)
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, Hè năm 1971, tôi rời Nha trang để theo khọc Khóa 3 Trung Cấp CTCT ở quân trường cũ tại Đà Lạt. Sau khóa học, tôi về phục vụ tại Đà Nẵng và sau đó trở lại quân trường nầy cho đến ngày mất nước. Trong quãng thời gian đó, tôi thường về Nha Trang, nơi chốn tôi “dừng bước giang hồ” khi lập gia đình. “Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đã
Wednesday, April 3, 20197:05 AM(View: 150)
Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (2009)