DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,869,973

Ngày Xưa Còn Bé - Duyên Anh (Chương 5,6,7,8)

07 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 7964)
Ngày Xưa Còn Bé - Duyên Anh (Chương 5,6,7,8)




Có hai thứ không thể giấu giếm được: Là khói và ái tình. Chả hiểu văn sĩ hay danh nhân nào đã "chế" ra câu này. Khói và ái tình giữ kín cách mấy nó cũng thoát được. Luyến đã biết tôi dan díu với nàng. Một sáng, có giờ "péc ma năng," nó lần về nhà trọ, hỏi tôi:

- Mày "lơn" được em chưa?

- Chưa.

- Đừng nói dối. Mày không giấu được tao đâu.

- Ai thèm giấu.

- Cổ áo mày kia kìa, con ơi!

Tôi ngạc nhiên, Luyến chỉ tay vào cổ áo tôi:

- Đứa nào thêu xanh đỏ ở mép dưới cổ áo mày đó?

Chiếc sơ mi trắng mới nhờ nàng giặt hôm kia, tôi lôi ra mặc, không xem xét gì cả. Bây giờ, Luyến nói dưới cổ áo có "đứa nào" thêu xanh đỏ, tôi vội vàng cởi một cái khuy vạch ra xem. Thấy hai chữ B.N. ôm ấp, ràng buộc nhau bằng chỉ màu. Tôi nóng bừng hai mang tai. Và chả khôn ngoan tí nào, tôi khai hết với Luyến như một nhà cách mạng tép riu, vừa gặp "cớm" đã hối hả "em trót dại từ nay em chừa không làm cách mạng chống đối nhà nước nữa."

Luyến võ đùi đét một cái:

- Tao đoán đúng ghê.

Tôi hỏi:

- Mày đoán gì?

- Tự nhiên mày dở chứng nói năng suốt ngày và "bao" tụi ông liên miên. Ông đoán chỉ có ái tình mới gây nhiều biến chứng thế.

Luyến xoa cái cằm chưa có râu của nó:

- Triết lý "mèo mù vớ cá rán" luôn luôn đúng ở mọi chân trời.

Nó hất đầu:

- "Dính" bao lâu?

Tôi ngoan ngoãn đáp:

- Hơn hai tuần.

- Tên em là gì?

- Tao chưa hỏi.

- Em hỏi tên mày chưa?

- Chưa.

- Mày gọi em bằng gì?

- Bằng...trống không!

- Đồ ngu.

- Thế gọi bằng gì?

Luyến ngẩn ngơ giây lát. Rồi gật gù:

- Khó thật. Tao chưa "lơn" em nào nên không biết gọi bằng gì.

Tôi hỏi:

- Ở nhà mày gọi vợ mày bằng gì?

Luyến sáng rực mắt:

- Bằng...mình nhưng khi tao có con, tao gọi bằng...mợ!

Tôi liếm mép:

- Tao gọi bằng "mình" được không?

Luyến nói:

- Được.

Nó vội xua tay:

- Mà không được đâu. Dân Hà Nội nó "đét" dùng tiếng của dân Thái Bình. Mày gọi nó bằng "mình," nó chê mày dân "cả quỷnh," nó hết yêu mày thì bỏ bố.

Luyến lại vỗ đùi đét một cái:

- Tao nghĩ ra rồi.

Tôi hối thúc:

- Gọi bằng gì?

- Bằng tên em.

- Nhưng chưa biết tên em?

- Thì hỏi.

- Hỏi sao?

- Đồ ngu! Thế mà cũng đòi yêu.

Tôi nhìn Luyến, ngâm nga thơ Xuân Diệu:

Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá,

Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì...

Luyến phì cười. Nó mách nước tôi:

- Mày viết thư hỏi tên nàng đi. B.N. phi Bảo Ngọc thì Bình Nguyên.

Tôi nuốt nước bọt:

- Tao muốn nàng là Bảo Ngọc.

Luyến bỏ rơi chuyện Bảo Ngọc, Bình Nguyên... Nó bỏ rơi luôn chuyện "dạy" tôi cách xưng hô với nàng. Luyến chép miệng:

- Thôi, mày làm lấy mà ăn cho nó ngon.

Nó nheo mắt:

- Còn món quà chợ?

Tôi ngập ngừng:

- Khoan đã.

- Khoan gì nữa! Nàng cho ăn thì phải ăn chứ. Mỗi sáng thả cái hộp bánh "bích quy" xuống, kéo chuối tiêu, hồng, cốm lung tung beng lên mà chén cho nó lên cân. Tao với mày thôi, nghe chưa?

- Ừ.

- Từ mai nhé.

- Ừ.

Luyến bỗng phá ra cười:

- Ông được cuộc thằng Thịnh rồi.

Nó đắc chí:

- Mẹ, tâm lý học cũng vất đi nếu thánh nhân không đãi. Thánh nhân mà đãi mèo mù vẫn vớ cá rán ngon. Thiếu gì những thằng rỗ huê, vổ răng, "lơn" nổi những em đẹp tuyệt trần.

Luyến kể công:

- Nhờ tao đấy nhé!

Tôi đinh ninh nàng đã yêu tôi rồi. Tại sao nàng lại yêu tôi. Xuân Diệu bảo:

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.


Thuộc thơ có lợi thật. Hễ "bí" nghĩa tình yêu, cứ đem thơ ra mà tự giải nghĩa. Tôi đã âm thầm "ăn quà" của nàng. Mỗi sáng, tôi thòng cái hộp "bích quy" xuống. Chừng chín giờ kéo lên, hộp "bích quy" của tôi đã đầy các thứ bánh trái. Nhưng tôi vẫn chưa dám hỏi tên nàng là gì. Mãi tối hôm tôi thấy, dưới bánh trái, có một mẩu giấy viết bằng bút chì như vầy:

"Này,

Mai đi Hải Phòng nửa tháng mới về cơ, có nhớ không? Hôm về, sẽ mua quà cho. À, đi cả Hải Dương luôn. Ăn bánh đậu xanh nhé! Cho biết tên đi. Sẽ gởi thư luôn.

Bảo Ngọc"

Tôi vừa biết tên nàng là Bảo Ngọc thì nàng lại đi xa. "Ôi, cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!" Tên em sao đẹp thế! Bảo Ngọc. Bảo Ngọc, con nhà Luyến đoán trúng ghê. Nó đã dạy tôi một "ngón." Tôi đem ra áp dụng liền nghĩa là viết thư cho nàng, xưng hô bằng tên.

"Bảo Ngọc,

Mai đi Hải Phòng, Hải Dương à? Long nhớ chứ. Chả nhớ Ngọc thì ai. Nhớ mua nhiều bánh đậu xanh đấy. Long sẽ nhờ ai giặt quần áo? Đừng quên Long nhé!

Long"

Có một dòng chữ còm mà tôi phải ráp, viết đi viết lại cả chục lần. Tôi chờ nàng thấp thoáng ở sân bên ấy, thòng cái hộp "bích quy" chở thư tình của tôi xuống. Nàng mở cửa sau ra nhận thư, trong lúc tôi tìm cách trốn tránh. Vũ Hoàng Chương diễn tả tâm trạng của anh chàng mới tập yêu viết thư tình và gởi cho người yêu thật hay:

Lá thư tình xưa nhớ lúc trao tay
Còn e ấp thuở duyên vừa mới bén
Ai dám viết yêu đương và hứa hẹn
Lần đầu tiên ai dám nói em anh
Nét thon mềm run rẫy gắng đưa nhanh
Lòng tự thú giữa khi tìm trốn nấp
Mươi hàng chữ đơn sơ, ồ ngượng ngập
E dè sao mươi hàng chữ đơn sơ
Màu mực tươi xanh ngát ý mong chờ
Tình hé nụ bừng thơm trong nếp giấy.

Lần thứ nhất trong đời, tôi đã viết một mẩu thư tình gởi một người con gái. Mèo mù "Thái lọ" vớ cá rán Hà Nội. Kẻ khù khờ là tôi đây, được thánh nhân đãi ngộ xứng đáng. Tôi đã biết thế nào là tương tư. Gió mấy hôm liền thật ít. "Xa nhau gió ít lạnh nhiều." Nàng xa tôi, xa căn nhà bên kia để đi mãi Hải Phòng, Hải Dương. Tôi đã mơ mộng được làm toa xe lửa, làm chiếc xe ô tô chở nàng đi. Và gần gũi, thiết tha hơn, tôi muốn làm một cái ghế cho nàng ngồi lên cho ấm áp.

"Giáo sư" Thịnh thấy tôi vui buồn bất chợt, tưởng tôi thất tình thật sự, an ủi tôi khiếp quá. Nó "phiệu" rằng nó đã mời hai nàng đi xi nê và hôn một nàng vào môi. Luyến cười khúc khích. Tôi phải nháy mắt Luyến mới "phanh" miệng nó lại. Chúng tôi mặc kệ Thịnh nói phét, ái tình dạy khôn tôi nhiều ghê. "Giáo sư" Thịnh dạo này tập sáng tác nhạc.

Nó làm bản "Duyên Anh" lâm ly ra phết. "Thu tan mơ, lá vàng rơi lác đác. Bao năm qua, tôi vẫn chưa quên nàng. Ai đi dứt cung đàn vương trên mái thơ, muôn kiếp hững hờ, duyên anh nhuốm hận sầu mơ..." Nó đã cùng tôi đem tới nhờ danh ca Quách Đàm, Kim Tước trình bày trên Đài phát thanh Hà Nội. Vào đúng đêm nàng xa Hà Nội, Quáng Đàm hát bản "Duyên Anh" của Thịnh.

- Sau đây bạn Quách Đàm sẽ trình bày bản nhạc đầu tay của nhạc sĩ Nguyễn Thịnh.

Nhạc sĩ Nguyễn Thịnh! Ôi "giáo sư" của tôi tài ba, hiển hách vô cùng. Tôi thèm tiếng "sĩ." Bao giờ người ta mới gọi tôi là thi sĩ, chẳng hạn? Giọng ca Quách Đàm ấm áp. Giọng ca đó bắt tôi "ghen" với Thịnh. Nàng mà biết Nguyễn Thịnh là tác giả nhạc phẩm "Duyên Anh," nàng sẽ hết giặt quần áo giùm tôi, hết cho tôi ăn quà, bánh. Nàng sẽ bỏ rơi tôi. Và tôi sẽ đi ăn mày! Chúng tôi ngồi im trên gác trọ nghe Quách Đàm hát nhạc Nguyễn Thịnh. Tất cả đều kính phục Thịnh. Dân "Thái lọ" đã có thằng làm nghệ thuật đấy. Bản nhạc chấm dứt, "giáo sư" Thịnh gật gù:

- Khi xuất bản tao đề tặng em.

Luyến hỏi:

- Em nào?

Thịnh kiêu hãnh đáp:

- Em..."em bên kia."

Luyến mỉm cười:

- Tên em là gì?

- Kim Liên.

Luyến quay sang tôi:

- Tên hay nhỉ, Long nhỉ? Một em tên Kim Liên, chắc em kia tên Nguyệt Nga.

Thịnh hí hửng:

- Đúng thế.

Luyến nháy tôi. Hai đứa cười thầm. Nhưng Thịnh đâu biết. Nó ba hoa:

- Một chiều đi với em, tao bèn có hứng sáng tác bài "Duyên Anh." Duyên Anh là tình anh, tình của anh, "mon amour, my love." Lại còn là sự may mắn của anh "ma chance, my chance." Tao may mắn thật, "lơn" sơ sơ là hai em mê tít thò lò. Lúc tối, khi chia tay, em Kim Liên hôn tao vào má. Hương tình của em ước má tao, tao nhất định không lau, để nó khô đi. Tao lãng mạn không?

Luyến xỏ ngọt:

- Lãng mạn nhất thế giới. Nhưng từ chiều, tao đâu thấy hai em?

Tôi phụ họa:

- Tao thấy hai em xách va li đi đâu ấy.

Thịnh nhún vai:

- Hai em về Nam Định. Chiều nay tao tiễn hai em ở bến xe. Mãi tối mịt xe mới chạy.

Thịnh không dám "phiệu" thêm. Nó rủ chúng tôi đi ăn phở mừng cuộc đời nghệ thuật của nó. Đêm ấy, nó nghỉ chơi nhạc ở dancing. Nó kéo tôi đi chơi mảnh, khuyên tôi:

- Thất tình nên làm thơ, càng thất tình làm thơ càng hay. Tất cả thi sĩ trứ danh trên đời này đều bị ái tình nó đá đít hết.

Nó vẽ mộng ước:

- Mày làm thơ, tao phổ nhạc. Chúng ta chọn con đường nghệ thuật mà theo. Bằng cấp làm chó gì. Năm nay tao bỏ thi tú tài à...

Tôi nghe bùi tai quá. Đêm về, tôi thắp nến, hì hục làm thơ. Tìm vần, nghĩ hình ảnh cả tiếng không nặn nổi một câu. Cuối cùng đành đem thơ Huy Cận, Xuân Diệu ra...phóng tác. Nhưng dù cà phê phin có bắt con tim của tôi đập nhanh cách mấy để hai con mắt tôi không rũ xuống, tôi chẳng "sáng tác" nổi một bài thơ...thương nhớ người yêu. Đến gần sáng, tôi rúc vào giường, ngủ li bì tới trưa. Đánh thêm giấc ngủ trưa, tôi dậy, dắt xe đạp khỏi nhà trọ, lẽo đẽo "cuốc" trên những con đường ngập nắng hanh vàng. Lạ ghê, cuối đông mà bỗng dưng có nắng hanh vàng. Đấy, tôi đã tìm ra hứng thơ. Nắng hanh vàng và câu ca dao "Hà Nội ba mươi sáu phố phường, Hàng Mật, hàng Muối, hàng Đường trắng tinh, Từ ngày ta phải lòng mình..." Tôi gò lưng tôm đạp vội về gác trọ ngồi ở bàn học, rút thuốc Catab hút và...làm thơ. Hai tiếng đồng hồ sau bài thơ chép lem nhem trên mười bảy tờ giấy nháp được nắn nót cẩn thận như vầy:

Tôi là người học trò nghèo khổ
Em là con gái dậy thì xuân
Tôi với em nói chuyện đã bao lần
Sao vẫn thấy quanh tôi vây lạnh giá
Thuở chờ đợi, ôi thời gian rét quá
Tôi bảo em ngồi xích lại gần hơn
Ngồi gần hơn không có nghĩa là..."lơn"
Tôi ngù dại khù khờ em tôi ạ
Chỉ biết yêu chẳng hiểu gì sốt cả
Ngày em đi tôi khóc bởi tôi buồn
Một chiếc hôn, vâng chỉ một chiếc hôn
Tôi muốn lắm tiếc rằng không dám "gạ"
Em cứ hẹn nhưng em đừng hôn nhá
Để lòng buồn tôi dệt những vần thơ
Em xa tôi em có hiểu bây giờ
Tôi hút thuốc nhìn em trong khói thuốc
Nếu đêm nay em nằm mơ nghe được
Thì nhớ là "anh đã nói yêu em."

Tôi phì phào thuốc Catab, ngâm khe khẽ. Và bằng lòng lắm. Tôi sẽ đề tặng "Trìu mến tặng Bảo Ngọc, người em gái của lòng tôi." Câu tặng bay bướm này tôi "thuổng" của Nguyễn Minh Lang. Trong tập truyện đầu tay "Trăng Đồng Nội," Nguyễn Minh Lang đề tặng nữ ca sĩ Tâm Vân, "Trìu tặng Tâm Vân, người em gái của lòng tôi." Tôi thêm chữ "mến" vào cho nó khác. Tôi tin tưởng Bảo Ngọc sẽ cảm động sướt mướt. Một thi sĩ mới bước chân vào làng thơ, "chế" được bài thơ nào là giấu như mèo giấu kít. Khác hẳn những nhà thơ đã vào làng thơ lâu năm, sáng tác bài mới là bắt anh em nghe điếc cả lỗ tai. Và còn giải nghĩa những tư tưởng kín đáo trong bài thơ của mình nữa chứ. Tôi giấu kỹ bài thơ của tôi, phần sợ chúng nó chê mình thối, phần muốn làm ngạc nhiên "giáo sư" Thịnh. Tôi nghĩ cách gởi đăng báo. Hồi ở Thái Bình, nhà tôi đọc báo Giang Sơn của ông Hoàng Cơ Bình. Lên Hà Nội, tôi tiếp tục mua báo Giang Sơn và tôi quyết định gởi "thi phẩm" đầu tay của tôi cho báo Giang Sơn. Đây là sự mạo hiểm phi thường.

Tôi viết một bức thư cho người phụ trách mục "Thi ca học sinh" của báo Giang Sơn như vầy:

"Hà Nội, 7-2-19...

Kính thưa anh,

Em là độc giả trung thành của nhật báo "Giang Sơn, "tọa soạn và trị sự số... Hàng Trống, Hà Nội, hộp thư số...dây nói số... Hàng ngày theo dõi mục "Thi ca học sinh" do anh phụ trách, em lấy làm phục anh vô cùng. Thơ anh hay không thua gì thơ Huy Cận, ăn đứt thơ Thanh Nam và Hoàng Công Khanh. Em thèm được nổi tiếng như anh quá.

Hôm nay, em lấy hết can đảm viết thư tới ca ngợi và mong anh nhận em làm em nuôi. Sau đây em gởi anh "tác phẩm" đầu tay của em nhan đề, "Tình em, duyên anh" do chính em sách tác suốt một đêm liền. Em hy vọng anh khuyến khích em bằng cách cho đăng lên mục "Thi ca học sinh" để em mạnh dạn tiến bước trên con đường thì ca đầy hoa thơm cỏ lạ. Xin anh đừng từ chối. Anh trả lời em ngay.

Một kẻ ngưỡng mộ anh,

Vũ Văn Long

Bút hiệu Ngọc Long"

Tôi chép bài thơ của tôi thật đẹp. Dưới bút hiệu còn viết thêm câu: "Gác trọ một đêm nhớ người yêu." Tôi bỏ cả thư lẫn thơ vào phòng bì, dám tem và nhờ bưu điện chuyển giùm. Rồi ngày nào cũng đón mua tờ Giang Sơn, dở ngay trang trong coi mục "thư tín." Ba hôm, chả thấy tên mình đâu. Tôi e rằng nhà bưu điện chơi xỏ tôi, dìm một mình tôi ở ẩn. Tôi bèn chép lại thư và thơ. Và đích thân tới tòa soạn vào ty trị sự Giang Sơn bỏ vào thùng thơ của nhà báo.

Cuộc mạo hiểm đến đây mới sinh tử. Nhà mô phạm Nguyễn Bá Học dạy rằng: "Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi đường." Lúc bước chân khỏi cổng nhà trọ, tôi hăng hái đạp xe, tin tưởng bài thơ chứa chan yêu đương của mình lắm. Chừng tới hàng Trống, tim tôi đập lia lịa. Sự hăng hái biến mất nhường chỗ cho sự rụt rè. Tôi đạp xe thật chậm. Qua tòa soạn nhật báo Giang Sơn, tôi chỉ dám liếc mắt nhìn vào. Rồi nhấn "pê đan" cho xe vọt đi. Trong tòa soạn đông người qua. Dưới mắt tôi, lúc bấy giờ, mỗi người là một ông thánh con. Nhà văn, nhà báo đáng kính nể vô cùng. Lại là nhà văn, nhà báo sống bằng ngòi bút của mình thì càng đáng nể. Tôi tự hỏi làm thế nào ông Tam Lang mỗi ngày viết một bài "Hà nội, Hà ngoại"? Thì giờ đâu mà ông viết? Tôi "sáng tác" bài thơ cỏn con phải mất cả đêm, ấy là chưa kể mất công tìm hứng "nắng hanh vàng của cuối mùa đông lạnh lẽo." Tôi phục các nhà viết "phơi ơ tông" sát đất. Phục từ Thanh Nam, Hoàng Công Khanh, Nguyễn Minh Lang miền Bắc đến Thanh Thủy, Ngọc Sơn miền Nam.

Tôi vòng đi vòng lại con đường hàng Trống không biết bao nhiêu lần. Một đôi lần dựng xe bên đây hè, khóa kỹ, toan băng đường sang bên kia tòa soạn Giang Sơn. Cuối cùng, tim đập loạn cả lên, mắt mũi nóng bừng. Ngó trước nhìn sau rặt thấy những người dòm ngó, đợi mình trịnh trọng lôi phong bì chứa thơ và thư xin gia nhập làng văn nghệ của tôi tự bung ra (tôi không dám gấp thơ, cởi khuy áo nhét vào trong) bỏ vô thùng thư của tòa báo để cười ha hả. Tôi lại trở về gác trọ. Chiều lại đi. Lại về. Lại đi. Hàng chục lần đi về trong ngày.

Cuối cùng, tôi nghĩ được cách mới. Tôi dừng bên đây hè phố hàng Trống, xê xế đối diện với tòa báo Giang Sơn, gọi một thằng bé bán kem tới, cho nó năm đồng và nhờ nó băng qua đường bỏ giùm tôi bức thư.

Thằng bé gởi tôi "phích" kem. Nó can đảm lạ lùng. Nó chạy sang đường, anh dũng bỏ bức thư vào thùng thư, ngon như tôi ăn kem Cẩm Bình. Tôi mãn nguyện quá, tin tưởng vô biên. Biếu thêm thằng bé năm đồng nữa. Cuộc đời văn nghệ của tôi khởi sự thật vất vả, khốn nạn, chân lấm tay bùn. Tôi đạp xe, mang từ hàng Trống về nhà trọ một trời tin tưởng.






Bảo Ngọc vẫn chưa về. Nàng đi được một tuần rồi. Nhờ sự trông ngóng hộp thư "Thi ca học sinh" của báo Giang Sơn mà tôi bớt nhớ nàng. Nghệ thuật quan hệ tình yêu, "giáo sư" Thịnh đã nói: "Nghệ thuật thiếu chất mái thì khó thành nghệ thuật." Tôi tin ngay. Chất mái trong nghệ thuật của tôi là nàng Bảo Ngọc. Nhớ em anh làm thơ đấy, em ạ! Không có anh em đã tự giam mình vào bốn bức tường của "ngục tù" học đường. Có em anh trốn học để yêu em, nhớ em và làm thơ gởi đăng ở mục "Thi ca học sinh."

Bốn hôm, sau khi thằng bé bán kem bỏ thư của tôi vào thùng thư của tòa soạn nhật báo Giang Sơn, tôi đau khổ nhận được tin trả lời của phụ trách mục "Thi ca học sinh" như vầy:

"Ngọc Long - Anh đã nhận được thư và bài của em. Em khen anh nhiều quá. Cám ơn em nhé! Bài "Tình em, Duyên anh" của em không thể đăng được. Em bị "ảnh hưởng" Xuân Diệu, Huy Cận và Hồ Dzếnh nặng nề quá. Dường như em chép thơ của các thi sĩ này và sửa đổi vài chữ. Cố gắng đừng "thuổng" thơ của người khác, em nhé! Mà sao lại làm thơ ái tình? Em nên tả cảnh, tả vật đi. Anh sẽ nâng đỡ em. Thư luôn cho anh nhé, mầm non văn nghệ của anh."

Đọc xong mẩu "nhắn tin," mắt tôi hoa lên. Trái bóng xà phòng nghệ thuật của tôi đã vỡ. Tôi thề sẽ không làm mầm non văn nghệ. Không thèm làm văn nghệ. Hú vía, "nó" không lôi tên cúng cơm Vũ Văn Long của mình ra "nhắn tin." Chưa ai biết tôi làm văn nghệ cả.

Mấy hôm liền, tôi buồn bã vì nàng thơ không đãi ngộ tôi. Tôi đã chửi thầm "cái thằng" phụ trách mục "Thi ca học sinh" của nhật báo Giang Sơn thậm tệ. Và, mặc dù, truyện dài lịch sử tranh đấu "Đợi ngày về chiến thắng" của Anh Hợp đang tới hồi hấp dẫn tôi vẫn bỏ Giang Sơn, mua Tia Sáng đọc. Đó là cách trả thù, tôi nghĩ thế. "Giáo sư" Thịnh vẫn tưởng tôi ốm tương tư. Nó giục tôi làm thơ, làm nhanh lên kẻo hết cơ hội làm thơ. Tôi đã làm thơ. Và Thịnh đâu biết "cái thằng" khốn kiếp "ấy" nó đem tác phẩm đầu tay của tôi làm công việc...vệ sinh trên mục nó phụ trách.

Giữa những ngày bị người yêu bỏ đi xa, bị nàng thơ hắt hủi, danh ca Quách Đàm lại hát bài thứ hai của Nguyễn Thịnh. Đó là nhạc phẩm "Ươm mơ." Xuất xứ của nguồn cảm hứng "Ươm mơ" rất ly kỳ. Công tư Phát Diệm Trần Văn Thông tức Lý Thông có người bà còn ở phố Huyền Trân Công Chúa, gần gánh phở đầu đường nổi tiếng Hà Nội; phở gà Huyền Trân Công Chúa (Tiệm phở đường này đã theo tùy bút "Phở" của Nguyễn Tuân đi vào văn học sử.) Nhà người bà con của Thông có một nàng đẹp lắm. Thịnh nghe Thông khoe, hết chế giễu Thông, thân thiết với Thông như chưa bao giờ thân thiết ngần đó. Thịnh gạ Thông dẫn Thịnh lại nhà nàng. Thông nhận lời ngay. Mỗi tối, khi đèn phố Hà Nội vừa bật. Thông chở Thịnh tới nhà nàng để Thịnh đứng chờ ngoài cổng và một mình Thông vào.

Nhà nàng là cái vi la nhỏ có cây cỏ, chim muông. Thịnh đứng ngoài nhìn rõ Thông nói chuyện với nàng. Nó tin Thông, chiều chuộng Thông kỹ lưỡng hơn. Thịnh chỉ loáng thoáng thấy khuôn mặt nghiêng của nàng. Và suối tóc. Chỉ cần suối tóc, con nhà Thịnh đã "ươm mơ" được rồi. Thông nói rằng tên nàng là Bích, nàng mê âm nhạc và chết lịm nghe chim họa mi Quách Đàm hót bản "Duyên Anh." Nàng biết Thông quen nhạc sĩ Nguyễn Thịnh, cứ đòi làm quen. Thịnh sướng rên. Nó hí hoáy sáng tác bản nhạc "Ươm mơ" em Bích.

Thịnh học một khóa "nhạc điệu" với cụ Duyệt nên lý thuyết âm nhạc của nó tàm tạm đủ dùng. Thịnh đặt lời bản "Ươm mơ." Nó chép nhạc tuyệt đẹp. Nhờ Thông đem tặng em Bích. Thông đem đi liền. Một mặt nó nhờ vả Quách Đàm trình bày. Cái buổi tối Quách Đàm hát "Ươm mơ," Thịnh nhờ Thông báo cho Bích biết để nàng đắm chìm linh hồn vào tiếng nhạc "Ươm mơ." Thông ngoan ngoãn "tuân lệnh." Nó rời nhà trọ và biến mất cả đêm. "Giáo sư" Thịnh xách xe đạp léng phéng trước cửa nhà Bích. Cái xe của nó hôm ấy, dở chứng, tuột xích hoài. "Giáo sư" Thịnh phải lắp xích, tay đen như đít chảo. Lau rách cả cái mùi xoa mà vẫn không sạch. Nó đứng ngoài nhìn vào nhà Bích, nhờ nàng nghe "Ươm mơ." Bản nhạc vừa khởi xướng, Thịnh mở cửa tim. Nó ngỡ Bích đang xao xuyến. Bất chợt, tới câu "Khi trở về anh ươm mơ...", cổng nhà nàng tung ra. Bà mẹ ơi ới giọng Phát Diệm giục con cái nhanh lên kẻo muộn. Một cô gái lớn phóng từ nhà tới cổng. Bà mẹ mắng yêu: "Cái Bích hậu đà hậu đậu." Giáo sư Thịnh ngắm nàng. Điện đường, lúc đó, sao mà tỏ thế. Nó thấy đủ một nắm nốt rỗ trên khuôn mặt của nàng. Em Bích rỗ huê. Trăm hoa đua nở ở mặt em. "Kim Chung tối nay hay lắm." Ôi, nàng mê cải lương như công tử Phát Diệm! Người đẹp mê vọng cổ thì vẻ đẹp giảm đi chín mươi bảy phần trăm.

Thịnh ảo não trở về. Tối đó, nó cũng bó việc ở dancing. Con nhà Thông đã chơi khăm nó cú này. Thịnh "ươm mơ" trên đất...rỗ huê. Nó mở tung va li của Thông ra. Bản nhạc nó chép tặng nàng Bích trăm hoa đua nở, "min tờ ru ba xu một lỗ" nằm dưới đáy va li của Thông. Thịnh xé nát. Sáng sau, chờ Thông về, nó "lạy van" Thông đừng kể cho đứa nào nghe. Con nhà Thông "cay" Thịnh xỏ nó nhiều lần, đem đạo của nó ra hài hước nữa nên nó kể hết. Chìa khóa mở kho cười vô tận thứ tư là Nguyễn Thịnh, lý thuyết gia ái tình, kẻ tự phụ tán gái đẹp ngon như ăn phở. Chúng tôi cười nghiêng ngửa. Nhờ đó, tôi đỡ "đau khổ" những lời xỏ xiên mà con nhà phụ trách mục "Thi ca học sinh" đã "ghen tài" thơ của tôi, "dìm" tôi.

Nhưng Thịnh láu cá lắm. Ăn nước máy Hà Nội mấy năm nay, tất nhiên nó phải mòn dần sự chất phác, thành thật của dân đồng chua nước mặn. Nó bảo nó biết thừa chuyện Thông lừa nó, nó "tương kế tựu kế" xỏ Thông. Công Phát Diệm cãi bằng chết: "Mày xỏ ông thế nào nhỉ, kể xem?" Thịnh cười nhạt, thông vén màn bí mật bằng cách khoái chí kể rằng nó nấp ở một chỗ, nhìn nhạc sĩ Thịnh lắp xích. Nó còn thêm chi tiết: Chính nó đã vặn chùng xích xe của Thịnh. "Giáo sư" của tôi lắc đầu tỏ vẻ khinh bỉ đứa dựng chuyện. Thịnh kéo tôi đi ăn phở Hàm Long. Nó phân trần:

- Mày có thể tưởng tượng tao là dân "cả quỷnh" không?

- Mày "ăn chơi" ra gì?

- Với tài sáng tác nhạc và đánh đàn như tao, thiếu gì gái đẹp lăn sả tới đòi yêu tao mà tao phải thèm "lơn" con mặt rỗ như tổ ong bầu đó.

- Tao cũng nghĩ vậy.

- Cho mày rõ các em "ca ve" mê tao, ghen loạn xà ngầu. Tao "đá" các em sõng soài trên "pít" và "tăng gô."

Tôi nhận tôi thua kém Thịnh nhiều, thật nhiều. Riêng cái vụ nó đã trở thành nhạc sĩ, mà tôi chưa thành thi sĩ đã là điều khiến tôi đau khổ, ray rứt. Thịnh "hoa lá cành" về cuộc đời nghệ sĩ. Tôi thèm nhỏ rãi. Tôi tưởng tượng các ông Tam Lang, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng phải có những cuộc sống phi thường mà những người khác không có. Lòng tôi nao nao chuyện..."trở thành nghệ sĩ."

- Long ạ, mày đã làm thơ chưa?

Tôi chối biến:

- Chưa.

"Giáo sư" Thịnh khẩy mẩu thịt bò giắt răng bằng cái đầu tăm cho mẩu thịt bò nhỏ xíu bắn đi xa.

- Thất tình suông vẫn chưa thể làm thơ hay được.

Tôi hỏi nó, lòng rạo rực vô kể:

- Muốn làm thơ hay cần những cái gì?

Thịnh chậm rãi:

- Mày biết tại sao nhạc của tao Quách Đàm "phải" hát không?

- Tại sao?

- Vì trước khi sáng tạc nhạc, tao bỏ lối sống thông thường của mọi người. Nghệ sĩ là những kẻ sống riêng thế giới của họ. Vũ Hoàng Chương hút thuốc phiện bằng dọc tẩu ngà voi bọc vàng và nạm kim cương. Người ta bảo ông ấy không viết thơ bằng bút. Mà dùng kim tiêm, chấm vào thuốc phiện nguyên chất rồi viết trên giấy lụa tẩm nước hoa. Nên thơ ông ấy hay tuyệt cú mèo.

Thịnh gật gù:

- Đặng Thế Phong sáng tác bản "Giọt mưa thu" bất hủ trên giường bệnh nhà thương bố thí. Người ta bảo Đặng Thế Phong ho ra máu, bèn lấy bút chấm vào máu từ tim anh phọt ra, viết bản "Giọt mưa thu."

Chẳng biết Thịnh nghe được đâu những "giai thoại"hi hữu về các nghệ sĩ. Tôi say sưa...học thuộc lòng. Để lỡ mai mốt có trở thành nghệ sĩ, tôi còn trộ được những thằng muốn trở thành nghệ sĩ chứ.

- Dạo này tao sống khác xưa, mày nhận thấy không?

Tôi nhận thấy. Tóc nhạc sĩ Thịnh để dài không thèm húi. Luyến đã mỉa mai Thịnh: "Thợ húi tóc sẽ đưa thằng Thịnh ra tòa. Vì nó đưa ngành húi tóc đến chỗ thất nghiệp." Thịnh lại không thèm gội đầu. Và "triết lý" lau cổ, rửa hai cánh tay đã bị "triết lý" xuân thu nhị kỳ tắm rửa thay thế. Nhìn Thịnh ngồi trên giường gãi đầu, mái tóc nhẫy "bờ ri ăng tin" dựng đứng cả lên, tôi chả thấy nghệ sĩ ở cái "khổ" nào. Nhưng Thịnh lại bảo đó là lối sống phi thường của nghệ sĩ. Thịnh không thay bí tất. Nó mang bí tất tối ngày ròng rã. Đêm không thèm rửa chân và khi mục nó thay bí tất khác. Đó là lối sống phi thường của nghệ sĩ. Nó xuống nhà múc một thau nước đem lên gác. Lấy cái cốc múc đầy nước để riêng. Thịnh rửa mặt, rửa tay chân chán chê rồi mới đánh răng, nhổ nước vào thau. Nếu quên chưa vuốt tí nước lên mái tóc "đít vịt," nó thản nhiên vốc nước bẩn vuốt tóc. Và nói: "Nước còn sạch hơn cả mặt mình." Đó là lối sống phi thường của nghệ sĩ. Lối sống phi thường vượt bực là ăn chịu, ăn quỵt quà bánh. Thịnh la cà những quán phở, quán cà phê ăn uống rồi làm quen ghi sổ. Sổ ghi chừng ngàn bạc, nó quỵt luôn, tìm sổ mới ở quán mới ghi. "Nghệ sĩ nghèo nàn, đói khổ, cần ăn quỵt. Kẻ giàu sang không thuộc nòi nghệ sĩ, không có quyền ăn quỵt, ăn chịu."

Nghe "giáo sư" Thịnh "luận" về nếp sống riêng tư của nghệ sĩ, tôi lấy làm thích thú lắm. Nguyễn Tuân không hút thuốc phiện thì làm sao có "Tàn đêm dầu lạc?" Nguyễn Tuân là gã lãng tử khinh bạc nhất thiên hạ, khinh bạc hơn cả Cao Bá Quát. Ông ta nằm hàng tháng ở nhà cô đầu, đàn phách biên bông và sau mỗi ly rượu, ông ta đều ném vỡ ly tan tành, dù ông ta nghèo kiết xác. Tam Lang không chơi bời trác táng ở Huế thì làm sao có ký sự đĩ điếm "Đêm Sông Hương?" "Giáo sư" Thịnh còn nói đến Rimbaud, Verlaine, Beaudelaire... Tôi chỉ thích làm thơ hay thôi. Và làm thơ tức là...nghệ sĩ. Mà nghệ sĩ phải có đời sống phi thường. Theo "giáo sư" Thịnh, đời sống phi thường đó là ăn bẩn, ở dơ, ăn chịu, ăn quỵt và tập coi đời như củ khoai lang.

Trước hết, tôi tập lười biếng. Tôi không năng tắm gội, giặt giũ nữa. Mỗi buổi sáng Thịnh bưng thau nước lên, tôi múc riêng một cốc nước. Và hai đứa rửa mặt "tập thể" rồi đánh răng nhổ vào thau nước. Luyến không chửi Thịnh mà xỉ vả tôi hết lời. Mặc kệ nó, người nghệ sĩ phải biết ngồi xổm trên dư luận và coi đời như củ khoai lang. Đêm khuya, mót tiểu tiện, tôi ngại xuống nhà. Bèn lôi chai nước lục, đổ qua cửa sổ rồi mở "rô bi nê" cho nó chảy vào chai. Một sáng sớm, "đổng lý" Nguyễn Đệ khát nước khô cổ, mắt nhắm mắt mở, vớ chai nước tu ừng ực. Tu đã đời rồi nó mới thấy mùi khai. Nó nôn ói mà không thể ói được. Nó kêu ầm lên: "Đứa nào đái vào chai nước?" Tôi tỉnh bơ, Thịnh cười khoái trá. "Đổng lý" Nguyễn Đệ nghi Thịnh xỏ mình, vội vàng thu xếp hành lý, kiếm nhà trọ khác. Căn gác chỉ còn Luyến, Thông, Khải, Thịnh và tôi. Nhà đạo đức Đặng Xuân Côn, thỉnh thoảng tới chơi, giảng giải vài câu "Luân lý giáo khoa thư" hay biên vài dòng dọa nạt: "Long, mày trác táng vừa vừa chứ, mày không ghi tên học hành tử tế, tao sẽ mách bố mẹ mày đó."

Nhà văn nghệ coi...bố mẹ như củ khoai lang luôn. Mày cứ mách đi. Côn ạ! Ông sẽ nổi tiếng, sẽ đi vào văn học sử. Ông sẽ tặng văn học sử một giai thoại "đái vào chai nước lọc" như Nguyễn Tuân uống rượu đập tan ly, như Vũ Hoàng Chương viết thơ bằng thuốc phiện, như Đặng Thế Phong ghi nhạc bằng máu trào tự tim phổi mình ra. Tôi đinh ninh sẽ trở thành một thi sĩ trứ danh nên lười biếng hơn. Thay quần áo, vất vào một xó, rồi lại lượm những bộ sách ít cáu bẩn mặc diện, rồi lại thay, rồi lại mặc. Tôi cần phá kỷ lục ăn bẩn, ở dơ của "giáo sư" Thịnh. Tôi tiến bộ không ngờ.

Đầu rậm bù, cằm mép râu ria mọc chông tua tủa. Người yêu đi xa mất tích. Nàng bảo nửa tháng về mà chả thấy nàng về. Tôi buồn hơn, càng muốn trả thù "nàng" bằng cách sống thật phi thường như những nghệ sĩ tài ba trên trái đất. Cái thằng phụ trách mục "Thi ca học sinh" ở nhật báo Giang Sơn nó dìm tôi. Nó sợ đăng thơ của tôi, tên tuổi nó không còn. Tôi sẽ tiêu diệt nó. Nó phải về vườn quét rác hay đi bán lạc rang nên nó không dám đăng thơ tôi. Ngày xưa Hàn Mặc Tử đã bị đã kích nặng nề. Thế mà Hàn Mặc Tử vẫn trở thành bất diệt. Tôi thù những thằng "khốn nạn" phụ trách các mục văn thơ trên khắp các báo. Chính vì chúng mà bao nhiên văn tài, thi tài mãi mãi vô danh. Cuối cùng, đi làm các nghề bần tiện như thu thuế chợ, soát vé xe điện, làm "ét" xe hàng và bán thuốc ở các chợ ngoại ô...

Tôi "nghiên cứu" tiểu sử các thi sĩ mến yêu của tôi trong cuốn "Thi Nhân Việt Nam" của Hoài Thanh và Hoài Chân. Thấy nữ thi sĩ Anh Thơ chỉ học tới lớp ba ở Thái Bình và chữ Tây "đói kém" lắm. Hoài Thanh tiết lộ rằng Anh Thơ đã viết ngoài phong bì bức thư gởi cho ông "A monsiear l'institution Hoài Thanh" thế mà nữ sĩ làm thơ hay, được xếp thơ chung tuổi với Xuân Diệu, Huy Cận. Còn "thần tượng" Nguyễn Bính của tôi không hề học ở trường nào. Nguyễn Bính học ở nhà với chú. Tôi nghĩ, muốn đi vào văn học sử phải vất vả lắm, phải chiến đấu với bọn "khốn nạn", bọn "ngự sử", bọn "đao phủ thủ" nằm giữ các mục "văn nghệ bạn trẻ" và "thi ca học sinh." Ôi cái thằng phụ trách mục "Thi ca học sinh" ở nhật báo Giang Sơn, cái thằng ghen tài bần tiện đã toan giết một hồn thơ rực rỡ. Nó sợ bị thất nghiệp nên mới dìm bài thơ của tôi, trả lời ba que xỏ lá và lên mặt dạy dỗ tôi làm thơ. Đúng rồi, nó dìm bài thơ của tôi. Nó không xé đi đâu. Nó để dành, vài năm sau, nó sẽ đăng báo ký tên nó. Và bài thơ của tôi sẽ đưa nó vào văn học sử.

Nghĩ vậy, tôi hết buồn. Tôi sẽ không bao giờ làm mầm non văn nghệ. Chế Lan Viên xuất bản tập thơ "Điêu Tàn" năm mười sáu tuổi. Thi sĩ ghét mùa xuân của tôi đã tỉ tê khóc với cha, xin tiền cha đi in thơ. Cha của Chế Lan Viên nhạo "chàng." ấ y thế mà tập "Điêu Tàn" vẫn được xuất bản khổ nhỏ và được ví như những cơn gió hạ thổi từ vương quốc Chiêm Thành đến làng thơ Việt Nam. Chế Lan Viên đã giấu kỹ tiểu sử "chàng," không cho Hoài Thanh in ảnh vào "Thi Nhân Việt Nam." Người thi sĩ xót thương nỗi điêu tàn của Chiêm Thành xa xưa hay Việt Nam hôm nay đã là tấm ván trôi giữa dòng sông văn nghệ. Mà tôi là kẻ vừa tập bơi đã bị thằng "khốn nạn" quăng xuống nước. Tôi vớ tấm ván Chế Lan Viên, bơi vào bờ hy vọng. Tôi sẽ làm thật nhiều thơ, "phiệu" đủ thứ bệnh, học đủ thứ đàn để nã tiền cha mẹ tôi, các cô bác tôi để xuất bản thơ. Nhất định tôi sẽ xuất bản thơ. Và nhất định tôi sẽ nổi tiếng bằng Nguyễn Bính vì tôi học đến lớp...đệ tam, hơn nữ sinh Anh Thơ những tám lớp. Vừa sống phi thường vừa sáng tác thơ. Kết quả nửa tháng "đầu bù tóc rối, mặt mũi nhem nhuốc, chân tay dơ bẩn," lông mũi mọc dài ra giao duyên với râu lún phún, cặp mắt lúc nào cũng có dỉ, ba ngón tay cái, trỏ và giữa vàng khè chất "nê cô tin" của thuốc Catab, người tóp đi vì "tương thư thảo" miền Virginia và cà phê Martin, cà phê Giảng, cà phê Tùng, cà phê đá Mụ Béo, tôi đã sáng tác được bài thơ như vầy:

Từ dạo em lên Hà Nội học
Trọ trên căn gác số mười ba
Con đường tên gọi Ngô Thời Nhiệm
Hàng xóm nhà em lắm bước hoa
Một nàng con gái đã yêu em
Tình ái làm em nhức buốt tim
Nàng giặt giùm em quần áo bẩn
Bằng đôi tay đẹp rất thon mềm
Mỗi sáng em thòng dây xuống ngõ
Nàng cho quà bánh với thư xanh
Em quên trường học em quên hết
Chỉ nhớ ngàn năm chuyện ái tình
Và em bỏ lớp làm thi sĩ
Đầu tóc rối bù thuốc lá say
Gác trọ đêm đêm em sáng tác
Đèn khuya thay ánh sáng ban ngày
Khói thuốc vàng tay đời võ vàng
Đông tàn và sắp sửa xuân sang
Tết này em sẽ không về Thái
Kể chị yêu nghe chuyện của nàng
Xa cách nhớ nhiều thương lắm lắm
Đời em kể đã trót lang thang
Mẹ già em dại thôi từ biệt
Thi sĩ phiêu du mọi nẻo đàng
Mai mốt em vào văn học sử
Vinh quang phủ kín cả đời em
Chị ơi em chị là thi sĩ
Khối kẻ nhìn em sẽ phát thèm.


Tôi đã thưởng thức bài thơ của tôi một cách say sưa. Lần này thơ tôi không "ảnh hưởng nặng nề" Huy Cận, Xuân Diệu và Hồ Dzếnh nữa. Tôi trịnh trọng đưa bài "Đời thi sĩ" cho "giáo sư" Thịnh coi. Khi nó thầm thì đọc, tâm trạng tôi giống hệt tâm trạng nhà văn Lê Văn Tầm trong truyện ngắn "Nguội Điện" của Nguyễn Công Hoan. Tôi chỉ sợ "giáo sư" Thịnh sẽ bắt chước phê bình gia Việt Sĩ, xé bài thơ của tôi như xé tiểu thuyết "Tù mù" của Lê Văn Tầm trước mặt Lê Văn Tầm và nổi giận: "Xin lỗi các bạn, truyện của Lê Văn Tầm đọc làm quái gì cho bẩn mắt. Để tiền cho ăn mày còn ích lợi hơn bỏ ra mua sách của thứ Lê Văn Tầm." Tôi sợ Thịnh sẽ tàn nhẫn với thi tài của tôi. Chả là, Nguyễn Công Hoan mỉa mai một số những anh văn thi sĩ cỏ, thấy người ta viết tiểu thuyết cũng đòi viết tiểu thuyết. Lại còn làm xôm trò nữa chứ. Như anh chàng Lê Văn Tầm, trước ngày bỏ tiền túi xuất bản cuốn tiểu thuyết "Tù mù" mỏng teo thì đã viết hai, ba truyện ngắn ẩm ương đăng trên báo và ký bằng bút hiệu do anh ta chế ra. Đợi viết nổi cuốn "Tù mù," anh ta mới lôi tên cúng cơm Lê Văn Tầm in trên bìa sách và tổ chức một bữa cơm thịnh soạn mời Nguyễn Công Hoan và nhờ Nguyễn Công Hoan kéo thêm phê bình gia Việt Sĩ tới ăn uống để Lê Văn Tầm tặng bản quý "Tù mù," nhân thể, nhờ Việt Sĩ khen giùm một bài, hy vọng sẽ nổi tiếng. Bữa cơm thật ngon miệng. Việt Sĩ bảo đã đọc "bút hiệu" của Lê Văn Tầm và khen lấy khen để.

Mãi mãi, Lê Văn Tầm mới dám đưa "Tù mù" cho Việt Sĩ và chưa kịp mở miệng nói mình là tác giả "Tù mù," thì Việt Sĩ đã giáng một búa như đã viết ở đoạn trên, dù Nguyễn Công Hoan hích chân Việt Sĩ ra hiệu, Việt Sĩ vẫn tỉnh bơ, phê bình Lê Văn Tầm bằng mồm. Lê Văn Tầm tái mét mặt, miệng méo xệch. Nguyễn Công Hoan ví khuôn mặt và tâm trạng Lê Văn Tầm lúc ấy giống một sự "Nguội điện." Tôi đang chờ đợi một sự nguội điện, chờ đợi Việt Sĩ Nguyễn Thịnh chửi bới Lê Văn Tầm Vũ Văn Long. "Đồ khốn nạn, nó viết văn làm thơ thế này à? Hạng Lê Văn Tầm không thiếu gì trong xã hội An Nam ta. Thật đáng để cẩm phạt vì nó vừa bẩn lại vừa bẩn!"

Nhưng "giáo sư" Thịnh gật gù:

- Khá lắm, khá lắm!

Tôi bèn "run như thần tử thấy long nhan:"

- Khá sao?

- Thơ mày có hồn, mày sẽ làm thơ hay không thua gì Nguyễn Bính.

- Thật hả?

- Thật chứ đùa à? Đã thi sĩ nào làm bài thơ đầu tay chứa chan tình cảm như mày đâu. Cái lối viết thư gởi chị là lối của Nguyễn Bính. Họ Nguyễn có bà chị thân yêu là "chị Trúc." Còn mày có chị quái đâu mà cũng chị chị, em em rối tinh thế?

- Tao có bà chị họ.

- Đẹp không?

- Đẹp lắm.

- Sao tao không biết?

- Bà ấy ở Hải Phòng cơ.

- Giới thiệu tao nhé, nhớ đấy nhé! Thơ mày hay lắm. Mày sẽ làm lu mờ những thằng thi sĩ bé con đang đăng thơ trên báo chí Hà Nội. Bài này dài quá không phổ nhạc được. Mày sáng tác một bài lục bát đi, tao sẽ phổ nhạc và nhờ Quách Đàm hát.

Tôi sướng rên, sướng rên mé đìu hiu. Đời tôi lên hương rồi. Một nhà nghệ sĩ lỗi lạc có nhạc hát ở đài phát thanh Hà Nội đã công nhân tôi là thi sĩ. Tôi tình nguyện sống chết cho nàng thơ, cho nghệ thuật.




Tôi sẽ đi lang bạt kỳ hồ, sẽ bắt chước Hàn Mặc Tử, đêm ba mươi tháng chạp đáp chuyến xe vét về nhà ăn tết với bộ quần áo rạch bạc màu sương gió và hôi hám. Và mẹ tôi sẽ hỏi tôi như mẹ Hàn Mặc Tử hỏi Hàn: "Va ly của con đâu?" Tôi sẽ đáp "Con cầm cố lấy tiền trả tiền cơm hết cả rồi." Mẹ tôi lắc đầu thương xót. Ôi, đời thi sĩ nghèo khổ quá. Nghèo khổ và khốn nạn. Cổ kim Đông Tây không có thi sĩ nào sung sướng? Càng những thi sĩ lừng danh càng khổ sở. Những anh nhà giàu, chức tước cao sang, thấy người ta làm thơ cũng làm thơ đâu phải là thi sĩ. Và thơ của những anh này, Cao Bá Quát liệt vào dòng thơ Thi Xã lênh đênh trên con thuyền Nghệ An. Các thi hào, thi bá trong trời đất mênh mang đều nghiện rượu và hút thuốc phiện. Lý Bạch chết vì rượu. Không, chàng chết vì tương tư Dương Quý Phi. Thi sĩ đã hạ đo ván ông vua Đường Minh Hoàng mê Dương Quý Phi nhưng nàng lại "yêu trộm" Lý Bạch. Trái tim nàng chỉ rung động khi nhìn chàng viết thơ, đặt bài ca cho nàng múa hát. Rimbaud, Verlaine, say be bét. Rồi kẻ đi buôn bán nô lệ kiếm tiền uống rượu, kẻ chết dưới gầm cầu còn "quỵt" tiền chủ "ba." Tản Đà chếnh choáng tối ngày. Cao Bá Quát "tiêu khiển một vài chung láo lếu" trong suốt đời thi sĩ của chàng. Trần Tế Xương kết cú nhất "cao lâu thường ăn quỵt, thổ đĩ lại chơi lường" song lúc nào cũng phong lưu tài tử. Cái nghèo của thi sĩ kể ra không hết. Vừa nghèo vừa bị ái tình hành hạ, thi sĩ béo tốt, sạch sẽ, bảo bao sao nổi. Anh nào có tí tiền thì bị người yêu cho rơi để đi lấy chồng bác sĩ, thương gia. Nhà thi sĩ vội vàng bất cần đời tung tiền vào những trò chơi trác táng, ăn bẩn ở dơ, rồi hóa thành chúa chổm. Kết luận thi sĩ là bọn đói rách, tang thương. Anh nào no lành, không bị ái tình đầy đọa, không bị đói meo, thơ anh ấy hạng bét.

Cứ như tôi ấy. Chưa ăn bẩn, ở dơ, thơ tôi tầm thường quá. Giá cái thằng phụ trách mục "Thi ca học sinh" nó không ghen tài tôi, nó trịnh trọng đăng bài thơ của tôi thì tôi cũng đành phủ nhận thi phẩm đầu tay của mình, đào cái huyệt chôn bút hiệu kỷ niệm Ngọc Long của tôi dưới ba thước đất. Tôi không hài lòng cho bài "Tình em, Duyên anh" của tôi vào văn học sử! Bài "Đời thi sĩ" mới xứng đáng. Ôi, mai này tôi không về Thái Bình, không nhận tiền của bố mẹ, tôi sống với ngòi bút của tôi, tôi hút thuốc phiện dài cổ cò hay nghiện rượu cháy phổi, chắc chắn, thơ tôi sẽ còn rực rỡ, truyền cảm và thiết tha gấp ngàn lần Vũ Hoàng Chương. Nghĩ vậy, bèn nổi hứng làm bài thơ như vầy:



GIANG HỒ

(Tặng Nguyễn Thịnh, người đã khuyến khích thi tài của tôi.)

Giang hồ quen thói vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo
Nguyễn Du, ôi, tuyệt cú mèo
Mơ làm Từ Hải ta theo chân người
Mẹ già như chiếc lá rơi
Em thơ thôi nhé, không lời chia ly
Cha nghiêm ví thể hòn bi
Tang bồng hồ hải biết gì nữa đâu
Ngàn xưa cho tới ngàn sau
Bước chân lãng tử "vó câu gập ghềnh"
Ta là kiếp én lênh đênh
Trên truyền nghệ sĩ bồng bềnh nổi trôi
Uống say, uống để quên đời
Hút thêm, hút nữa thế thời phù du
Rượu nồng, thuốc phiện, gái tơ
Nằm trong cái túi giang hồ bạn ơi
Làm quan thì cũng thế thôi
Cũng ăn, cũng ngủ có lời thêm chi
Giang hồ lê bước chân đu
Yên đương là lãi, tinh si là lời
Nghĩ xem, chí lớn trên đời
Mấy ai đã lấp đầy đôi mắt huyền
Uống say và hãy hút thêm
Bạn, ta thoát tục ngả nghiêng trận cười.


Vũ Văn Long

(Gác trọ cuối mùa đông. Làm sau khi uống cạn hồ rượu đầy cùng tri kỷ.)

Tôi lại đưa Thịnh coi. Và vẫn hồi hộp như lần đưa bài "Đời thi sĩ." Thịnh đọc xong, mặt nó nặng chình chịch. Và giọng nó thiểu não:

- Thơ mày buồn quá!

- Thơ tao buồn?

- Ừ, đời mày sẽ khổ sở, vì bài thơ này vận vào đời mày.

-Thơ tao buồn?

- Ừ, sao mày hỏi đi hỏi lại thế?

- Tao tưởng thơ tao buồn như...bánh đa ỉu!

- Bánh đa ỉu sao được? Thơ mày cảm xúc tràn đầy. Đọc lên chỉ muốn khóc. Nhưng bài này già nua quá.

- Già nua à?

- Già nua quá. Nếu không biết mày, đọc bài "Giang hồ" người ta sẽ tưởng mày là ông già khụ khị.

Thịnh cất giọng ngâm sang sảng:

- Người đẹp vẫn thường hay chết yểu, Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai.

Nó gật gù:

- Nghệ sĩ giống người đẹp, giống tướng tài. Càng đẹp, càng tài hoa, càng dễ chết non.

Thịnh lim dim đôi mắt:

- Mỹ nhân tư cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.

Và lê thê nỗi sầu của nó:

- Thi sĩ như mày, nhạc sĩ như tao rồi cũng sẽ chết non, Long ạ! Những kẻ tài hoa trên trời đất đều chết non hết. Để người đời chiêm ngưỡng và tiếc thương. Thơ mày già tức là tại mày đau. Tư tưởng mày yếm thế tựa Cao Bá Quát. Tao khuyên mày nên làm thơ ca ngợi tình yêu tươi trẻ như Xuân Diệu.

Tôi sẽ chết non, tôi sắp chết non. Nhưng tôi là kẻ tài hoa. Tôi chả cần sống lâu. Tôi sung sướng. Tôi tập nghề rượu chè bằng khởi sự uống bia...hơi. "Giáo sư" Thịnh đưa tôi đi quá xa niềm ước mơ của tôi. Nó đòi hỏi tôi phải làm thơ bồng bế, tươi mát như Xuân Diệu. Bổn phận của tôi là phải nghe lời nó răm rắp. Không nghe lời nó, nó tức giận, nó chê thơ tôi dở thì tương lai nghệ sĩ của tôi như rách mướp.

Một hôm, đọc ở tuần báo nọ mẩu chuyện khôi hài. Chuyện kể rằng có một nhà phê bình văn nghệ hễ thấy tác phẩm nào ngoài những tên Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng là ông ta chê hạng bét hết. Có anh văn sĩ sáng tác một truyện ngắn ký tên Khái Hưng viết trước ngày bị Việt Minh thủ tiêu. Nhà phê bình khó tính đọc từng dòng, khen từ cái dấu phẩy đến cái chấm. Để ông ta khen chán chê, khen hết ngôn ngữ, anh văn sĩ mới thú thật truyện ngắn mà nhà phê bình tưởng của Khái Hưng là do anh ta sáng tác. Nhà phê bình bèn "chửi" từ cái chấm đến cái dấu phẩy!

Công tử Phát Diệm, mông xừ La Bơ của chúng tôi, chắc chắn, ghen tài Nguyễn Thịnh. Nên, mỗi lần nói tới nhạc Nguyễn Thịnh, hai đứa đều bĩu môi, bỉ thử. Tôi thì hãnh diện có thằng bạn như Nguyễn Thịnh. Được đi chơi với nhà nhạc sĩ, đâu phải dễ dàng. Tôi sợ Thông, Khải nhổ nước miếng vào thơ, nên tôi láu cá, ký mập mờ hai chữ X.D. dưới mỗi bài thơ đã chép cẩn trọng trong cuốn vở bìa cứng. Công tử Phát Diệm đọc những bài thơ yêu đương của X.D. và hỏi tôi:

- X.D. có phải là Xuân Diệu không mày?

- Còn ai nữa.

- Thơ Xuân Diệu làm trong kháng chiến hả?

- Ừ.

- Hay quá, ông chép hết mới được.

Và công tử Phát Diệm chép hết thơ tôi, thuộc lòng nhiều bài rồi đứng ở cửa sổ, nhìn sang "nhà bên kia" ngâm rống. Nhưng hai nàng chưa về. Công tử Phát Diệm gởi thơ tôi cho mây ngàn bay. "Giáo sư" Thịnh thấy Thông ngâm thơ dữ dội quá, cũng ngứa miệng:

- Thơ ai mà tuyệt vậy?

- Xuân Diệu đó.

- Hèn chi.

- Xuân Diệu yêu thì nhất thiên hạ rồi.

- Mày chép ở đâu?

- Thầy Nguyễn Uyển Diễm đọc riêng cho tao chép.

Thông "phiệu" chuyện trước mặt tôi. Tôi mỉm cười khi Thông nháy mắt. Vì nó "phiệu" mà "giáo sư" Thịnh, nhà tâm lý ái tình, tay nghệ sĩ cự phách có nhạc hát ở đài Hà Nội đã ngồi cả buổi, chép thơ tôi qua bản chép của công tư Phát Diệm. Tôi không dám tiết lộ sự thật, lặng yêu cho "người đời" chiêm ngưỡng mình. Nước máy Hà Nội, thật sự đã làm chú học trò tỉnh đồng chua nước mặn láu cá hơi nhiều. Tôi được hưởng vinh quang âm thầm mà chưa nghệ sĩ lớn nào được hưởng. Kẻ sống chung nhà, ngồi chung bàn ăn, ngủ chung giường chiếu với tôi, ca ngợi tôi, ao ước được như tôi mà không biết tôi là gã thi sĩ khốn nạn đã có bận muốn tự tử vì cái thằng phụ trách mục "Thi ca học sinh" của nhật báo Giang Sơn ghen tài, sợ bị thất nghiệp nên âm mưu giết một thiên tài bằng cách trả lời tôi phũ phàng, tàn nhẫn. Nhưng dù sao, tôi cũng không gởi thơ đăng báo. Tôi nhất định bắt chước Chế Lan Viên, góp đủ năm mươi bài thơ để in tập thơ đầu tay của tôi. Giữa lúc vinh quang hứa hẹn đó thì Bảo Ngọc "về nhà." Tôi ao ước được ở Hải Phòng, ngồi nhìn mặt trời lặn xuống biển Đồ Sơn để ngâm thơ Huy Cận:

Khi bóng hoàng hồn phủ núi xa
Khi nguồn tâm tưởng vướng chân. Và
Khi không cầm được anh ngồi khóc
Ấy lúc em tôi đã tới nhà.


Tôi sẽ khóc ra nước mắt. Nước mắt không ra, tôi đem dầu Nhị Thiên Đường của mẹ tôi, bôi đầy mắt là sự nhớ thương người yêu bắt buộc sẽ lâm ly. Bảo Ngọc về! Đó là tin trấn động đối với gác trọ của chúng tôi, tin này quan trọng hơn tin quốc trưởng Bảo Đại "quang lâm" Hà Nội, Luyến xỏ Thịnh:

- Người yêu của "bạn" Thịnh vừa về. Yêu cầu "bạn" Thịnh "kều" quà bánh cho anh em ăn đi.

"Giáo sư" Thịnh bèn ôm đàn, đứng ở cửa sổ, "tay đàn miệng hát" bản "Nghệ sĩ với cây đàn" của Nguyễn Văn Khánh.

- Nối dây tơ đồng, em ơi hãy giúp cho ta đường đời, cho ta lên tiếng yêu đương vài lời. Đời mà thiếu em ta kém vui...

"Giáo sư" Thịnh của tôi ca vừa dứt, mông xừ La Bơ "tái bản" liền "Nghệ sĩ với cây đàn" ngay tại cửa sổ:

- Đói ba hôm ròng, em ơi hãy giúp cho anh vài đồng, cho anh ăn cháo không anh hết hơi. Đời mà thiếu em anh chết toi...

Công tử Phát Diệm cười hể hả. Dĩ nhiên là một cuộc đấu khẩu xảy ra giữa tài năng Nguyễn Thịnh và "vi ô lô nít" Đồng Văn Khải với bản "Chiều ơi" bất hủ. Luyến và tôi làm khán giả. Tôi muốn chúng nó cút hết đi. Để căn gác còn mình tôi, còn mình tôi thôi, tôi sẽ tỏ tình cùng Bảo Ngọc sau mấy mươi ngày xa vắng. Nhưng bọn khốn kiếp đang cãi nhau cù nhầy. Công tử Phát Diêm làm đòn xóc, thọc mông xừ La Bơ một cú, đâm "giáo sư" ái tình Thịnh một cú.

Luyến lại xỏ Thịnh:

- Mày bảo em yêu mày, còn chờ gì chưa "kều" quà cho tụi tao ăn, Thịnh?

"Giáo sư" Thịnh lúng túng:

- Toàn cô hồn chờ cháo lú, bố em cũng không dám cho quà.

Luyến nháy tôi. Tôi không thích trêu chọc ai sốt cả. Tôi đang nhìn vào khoảng trống để hình dung ra Bảo Ngọc, người yêu của tôi, để hít hà bánh đậu xanh Hải Dương. Một thi sĩ, tác giả những bài thơ ký X.D. mà "đời" cứ tưởng của Xuân Diệu như tôi, ngồi "trầm tư mặc tưởng" thì nó phải vĩ đại và thiêng liêng lắm. Trong những phút giây tôi sống cho riêng tôi, bỗng chúng nó ơi ới:

- Mới về hả em?

- Nhớ em quá!

- Đi đâu thế?

- Quà của anh đâu?

- Em đẹp và duyên dáng ra đấy nhé!

Nàng xuất hiện ở cửa sau. Mông xừ La Bơ và công tử Phát Diệm "lơn" hung hăng phát khiếp. Giáo sư Thịnh lắc đầu. Tôi bịt tai, nhắm mắt. Rồi ngơ ngác khi Luyến gọi:

- Long, Long!

- Gì?

- Em hỏi mày.

Tôi nhảy bổ ra cửa sổ. Nhìn xuống. Tim rung động hết cỡ. Nàng cười, Thịnh gạt phăng tôi, tranh chỗ đứng:

- Con nhà Luyến xỏ mày đấy.

Thịnh thả lời:

- Mới về hả, nàng tiên của tôi?

Thông tiếp:

- Nàng tiên...nâu!

Luyến bắt đầu ra hiệu cho tôi hạ "tình địch" ngay tại chỗ đi. Tôi đang phân vân, thì Khải nói:

- "Nó" hỏi thằng Long chứ có hỏi chúng mày đâu.

Luyến to tiếng:

- Đúng vậy. Thằng Long "kều" quà cho chúng tao ăn với.

Nó kéo tôi tới cửa sổ. Nàng lại cười. Tôi ấp úng:

- Ngọc mạnh giỏi?

Nàng gật đầu. Luyến thúc khuỷu tay vào mạng mỡ tôi. Tôi trở nên bạo dạn:

- Hải Phòng vui không?

- Vui.

- Bánh đậu xanh đâu?

- Thòng dây xuống đi.

Nàng chạy tọt vào nhà. Luyến giúp tôi sửa soạn "cần câu quà gái" thật nhanh. Khi Luyến thòng cái hộp bích quy xuống, nàng đã khệ nệ bưng ra vô số quà bánh. "Giáo sư" Thịnh, mông xừ La Bơ và Công tử Phát Diệm tròn xoe mắt "chiêm ngưỡng" tôi. Luyến kéo cái hộp bích quy ba lần. Nàng nhìn tôi đắm đuối:

- Mai nhé!

Rồi khuất bóng. Khải nắm chặt cánh tay tôi:

- Tao đi học đàn để "lơn" gái, kéo bài "Chiều ơi" cụ Duyệt khen ầm mà vẫn chưa "lơn" được em nào. Mày dạy tao "lơn" gái nhé, Long nhé!

Thông nuốt nước bọt ừng ực:

- Con nhà Long "tâm ngẩm đá ngầm chết voi." Yêu nhau tự thuở nào đó, hả mày? Bố khỉ, tử vi nó có cung...đào hoa chắc.

Luyến chìa tay, dùng ngón trỏ khẽ ngoắc:

- Yêu cầu bạn Thịnh "thanh toán" tiền thua cuộc.

Nó vuốt râu tưởng tượng, đắc chí:

- Đã nói, "mèo mù vớ cá rán" là triết lý của muôn đời mà. Thánh nhân phải đãi kẻ khù khờ chứ.

Mông xừ La Bơ cảm khái:

- Ông muốn làm mèo mù đấy.

Công tử Phát Diệm cười lớn:

- Còn ông, ông sẽ là kẻ khù khờ.

Riêng "giáo sư" tâm lý và ái tình Nguyễn Thịnh buồn thiu. Mãi nó mới vớt vát:

- Thằng Long một em, tao một em, còn cá rán đâu cho chúng mày.

Công tử Diệm nhún vai:

- Có cá rán của mày ở Huyền Trân Công Chúa rồi, em Bích rỗ huê ấy, để cá rán ở đây cho tao.

"Giáo sư" Thịnh cay cú lắm nhưng giả vờ im lặng để diễn tả sự khinh bỉ công tử Phát Diệm của mình. Thịnh bị "kê" nặng nề quá khiến Luyến tỏ ý xót thương. Và nó át giọng cả bọn:

- Ồn ào quá!

Công tử Phát Diệm "dọa" bâng quơ:

- Còn con cá rán thứ hai của tao đấy nhé!

Mông xừ La Bơ nheo mắt:

- Cho ông ăn "ké" với.

Nó xỏ Thịnh:

- Nghệ sĩ gặm tí xương chăng?

Thịnh buồn rầu bước xuống nhà. Tôi đi theo nó vì tôi sợ nó mang tâm sự anh chàng Lang trong cái tích "Trầu cau" hát bài "Ôi ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu" thì bi đát quá. Hai chúng tôi ra bờ hồ Hoàn Gươm, ngồi trên ghế xi măng nhìn mặt nước hồ cau mày giận dữ mỗi lần có chiếc lá khô rơi xuống.

Trời lạnh nhưng Thịnh ăn kem. Nó đau đớn hỏi tôi:

- Từ nọ tới nay, may "mờm" tao hả?

Tôi ngạc nhiên:

- "Mờm" cái gì?

- Mày "đóng kịch" cả với tao. Mày là...là thằng đểu, thằng xỏ lá, lừa dối bạn bè.

- Sao mày nói thế?

- Mày là thằng khốn nạn, mày đưa ông vào "xiếc" làm trò cười cho mày.

- Ơ hay...

- Mày đừng giả vờ. Tao đối với mày tận tình mà mày nỡ xỏ tao.

Tôi chẳng hiểu gì cả, vội vàng thề sống thề chết:

- Đứa nào lừa dối mày, xỏ mày, cả nhà nó ngộ nạn.

Thịnh cười mỉa mai:

- Đứa nào chứ đâu phải mày.

Tôi đoán chừng "giáo sư" của tôi ghen. Bèn hỏi:

- Mày "cay" tao "lơn" mất em của mày hả?

Thịnh nổi điên:

- Em nào của tao? Ông thù mày vì mày "lơn" gái có "mả," mày cứ giả vờ học ông.

- Tao mà có "mả" tán gái, tao sẽ bị xe điện cán chết vỡ sọ.

Thịnh nguôi nguôi giận:

- Thế mày "lơn" em cách nào?

Tôi đáp:

- Tao không "lơn." Cho đến nay, tao vẫn chưa biết cách "lơn" gái. Mèo mù vớ cá rán đấy.

Thịnh ngó thẳng vào đôi mắt tôi:

- Mày nói thật à?

- Thật.

- Sao em biết tên mày?

- Tao viết thư cho em.

- Mày... uống thuốc liều à?

- Không, em viết thư cho tao trước. Em tên là Bảo Ngọc.

- Mày làm cách nào mà em viết thư cho mày?

- Em đi Hải Phòng, em viết thư chia tay.

- Tại sao em viết thư cho mày?

- Em yêu tao!

- Tại sao em yêu mày?

- Vì tao là mèo mù, tao khù khờ. "Tôi khờ khạo lắm ngu ngơ quá."

Thịnh vỗ vai tôi, thân mật:

- Mày hết khù khờ rồi, Long ạ. Mày "kền" lắm. Trai Thái Lọ không thèm "lơn" mà gái Hà Nội cứ nhảy tới đòi yêu là mày đã nêu cao tên tuổi Thái Lọ.

Nó nói khẽ:

- Mày dạy tao cách...mèo mù của mày đi!

Tôi chả biết cách...mèo mù ra sao mà dạy Thịnh. "Giáo sư" của tôi đã từ chức và bằng lòng xuống làm hạng học trò, tôn tôi lên ngôi sư phụ ái tình.

Tôi kể chuyện nhờ Bảo Ngọc giặt quần áo, nhận quà của nàng, nhận thư của nàng và viết thư cho nàng. Thịnh nhất định không tin. Nó cứ van nài tôi chỉ dẫn cho nó phương pháp tán gái. Cuối cùng, nó nhờ vả tôi "lơn" giùm nó em thứ hai. Buồn cười quá. Một tay triết lý ái tình, dạy thiên hạ yêu nhau mà rốt cuộc lại phải nhờ tôi "lơn" gái hộ. Tôi hãnh diện nhận lời. Thịnh càng tin tôi "giấu nghề." Nhưng bây giờ, nó khắng khít với tôi hơn cả Luyến. Tôi rút ra một nhận xét: Con gái yêu mình không cần mình biết đánh đàn, ngâm thơ hay là nghệ sĩ. Tại sao Bảo Ngọc yêu tôi? Tôi chưa hiểu nguyên do. Để tôi sẽ hỏi nàng, sẽ nắm tay nàng, sẽ hôm trên tóc công chúa Jean Simmons và hỏi: "Tại sao em yêu anh, em yêu dấu?" Và nàng sẽ chỉ cười. Để tôi cảm thơ Xuân Diệu:

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.






"Long ơi,

Chiều mai Ngọc mời long đi xi nê Đại Nam, Long phải đi đấy nhé! Nếu Long không đi, Ngọc giận không giặt quần áo giùm Long nữa đâu. Chờ Ngọc ở cửa rạp đấy nhé! Nhớ đấy, đúng bốn giờ.

Yêu Long

Ngọc."

Cả gác trọ biết tin người yêu của tôi mời tôi đi xi nê. Chúng nó bàn tán kinh khủng. "Giáo sư" Thịnh buồn hiu. Luyến đã trở thành cụ Khổng Tử với triết lý "mèo mù vớ cá rán" của nó.

Bây giờ, đến lượt công tử Phát Diệm "giáo dục" tôi cách chiều chuộng người yêu. Về khoản này, Thông "cừ" hơn Thịnh. Vì nó đã có đào, đã quất ngựa truy phong để nàng Kiều rỗ huê của nó tháng đợi năm chờ mòn mỏi.

Thông hỏi tôi:

- Mày biết mày sẽ phải làm gì khi ngồi bên em trong rạp xi nê chưa?

Mông xừ La Bơ "kê" luôn một viên gạch Bát Tràng vào miệng Công tử Phát Diệm:

- Con nhà Thông có đi xi nên đâu mà đòi dạy nó. Mày chỉ biết "làm gì" khi ngồi bên con sen trong rạp cải lương.

Lý Thông gân cổ:

- Đã có thời ông đưa em vào xi nê.

Khải cười xỏ:

- Đưa nàng tiên rỗ huê của mày hả?

Công tử Phát Diệm gật gù, thách thức:

- Mày muốn không?

Mông Xừ La Bơ nhún vai:

- Muốn gì?

- Muốn tao tố cáo chuyện mày "đào mỏ" con sen của bà chủ trọ!

"Giáo sư" Thịnh vốn cay cú cái nghệ thuật kéo vi-ô-lông bản "Chiều ơi..." của mông xừ La Bơ, đang buồn hiu bỗng tươi tỉnh:

- Sao, đứa nào "đào mỏ" con sen nhà bà chủ trọ?

Công tử Phát Diệm đáp cộc lốc:

- Thằng Khải!

Khải tức Mông xừ La Bơ bĩu môi khinh bỉ:

- Tao đâu có nghề "đào mỏ". Nghề ấy của thằng Thông, tao không có tiền lẻ, đưa giấy trăm cho con Lời, nó trả lại tao. Nghề vay tiền đi coi cải lương vẫn là nghề của thằng Thông. Đứa nào không tin cứ gọi con Lời lên mà hỏi.

Lập tức con sen nhà bà chủ trọ được "giáo sư" Thịnh gọi lên. Nó khai rằng "đổng lý" Nguyễn Đệ vay nó hai chục hứa trả thành bốn chục nhưng đã quỵt luôn. "Đổng lý" rời nhà trọ không thèm trả nợ con sen. Công tử Phát Diệm hai lần vay nó, trả vốn lãi đàng hoàng. Mông xừ La Bơ vênh vang hỏi con sen:

- Còn tao, tao cho mày tiền mấy lần?

- Cậu cho cháu mỗi lần, cậu lại bắt cháu giặt một lô quần áo!

"Giáo sư" Thịnh ôm bụng cười. Nó đắc chí:

- Người nghệ sĩ luôn hào hoa.

Nó đuổi con sen xuống nhà. Đó, cái xã hội học trò đi trọ học nhỏ nhoi của chúng tôi đó. Có xã hội nào dễ thương hơn không? Công tử Phát Diệm bị một vố nặng nề, mông xừ La Bơ cũng không kém bi đát. Riêng Thịnh hãnh diện nhất vì hiên ngang rút cái giấy hai mươi đồng bà đầm xòe trả nợ cho "đổng lý" Nguyễn Đệ. Tôi bảo Thịnh:

- Thằng "đổng lý" có tâm hồn nghệ sĩ.

Chỉ Thịnh và tôi hiểu ý nghĩa bốn tiếng "tâm hồn nghệ sĩ". Không khí...bới móc nhau trôi đi rất nhanh. Cái xã hội học trò đi trọ học lại gần gũi nhau.

Công tử Phát Diệm trở về vấn đề "làm gì khi ngồi bên em trong rạp xi nê." Tôi nóng lòng muốn biết vấn đề này. Bèn nói:

- Chúng mày đừng "kê" nhau nữa.

Và nhớ lời khen của Thịnh, tôi say diễn tả:

- Tao "lơn" được gái Hà Nội là niềm hãnh diện chung cho gác trọ này. Vậy chúng mày hãy giúp tao ý kiến.

Thông giơ tay trước:

- Tao có ý kiến.

Khải quay mặt đi:

- Nhớ đừng xui con nhà Long "vay" tiền em đấy nhé!

Thông cười xòa:

- Yên chí. Này nhé, mày cần mua kẹo chewing-gum. Mày bóc kẹo, đưa lên miệng nàng. Kẹo Chewing-gum là miếng trầu của câu chuyện tình ái trong rạp xi nê.

Tôi hỏi:

- Rồi sau đó?

Thông làm điệu bộ:

- Mày giả vờ đặt tay lên vai em thế này này... (Nó đặt tay lên vai tôi). Em không hất ra thì mày trườn tay dài ra, ôm cả hai bờ vai em (nó ôm tôi). Đấy là tay phải. Còn tay trái mày thò sang nắm bàn tay em.

Trong chúng tôi, dễ chừng, chưa có đứa nào "ngồi bên em" cả. Luyến đã có vợ. Mà vợ thì không phải là người yêu. Nó có yêu vợ nó trước khi lấy đâu. Ông cụ nó cưới vợ cho nó đấy chứ. Nên tất cả đã lắng tai nghe công tử Phát Diệm "luận đề về..." ngồi bên em trong rạp xi nê.

- Rồi sao nữa?

- Uống hương tình trên môi em.

Đến đây, Thịnh xua tay:

- Không nên đi xa hơn, cầm tay em là đủ đẹp rồi.

Công tử Phát Diệm lắc đầu:

- Mày lầm, Thịnh ạ! Nguyễn Bính bảo "Một trăm con gái thời nay ấy, Đừng nói ân tình với thủy chung." Em nào yêu mình, cần phải đưa em đi thật xa.

Tôi hỏi:

- Đến đâu?

Thông thản nhiên đáp:

- Khách sạn Ha-Le!

Khải bỗng nổi hứng, đồng ý kiến với Thông. Ít khi Mông xừ La Bơ "chịu" Công tử Phát Diệm, dù hai đứa cùng là chìa khóa mở kho cười vô tận. Nó khuỳnh tay, ôm một người tưởng tượng:

- Đúng, đưa em đến đó tiện nhất, gần Âm Nhạc Học Xá của tao.

Thịnh chêm vào một câu tàn nhẫn:

- Để nghe mày cò cử bài "Chiều ơi..." hả?

Khải "chơi" lại liền:

- Không, tao sẽ hát cho em nghe bài "Ươm mơ" theo điệu sầm sà sầm sịt!

Cuộc "kê" nhau, "móc" nhau lại tái diễn. Và không đứa nào nghĩ tới chuyện giúp ý kiến tôi. Công tử Phát Diệm bị dồn vào chỗ bí, cuối cùng, đành thú nhận chưa hề đi coi xi nê, chưa hề ngồi bên một em nào đẹp đẽ, thơm tho trừ nàng tiên rỗ huê của nó. Tuy nhiên, Công tử Phát Diệm ngỏ ý thèm được đi với Bảo Ngọc. Nghĩa là, những anh học trò tỉnh nhỏ lên Hà Nội trọ học đều mang cái "mặc cảm nhà quê". Mỗi anh tự tạo ra một câu chuyện "phi thường" để nói phét, để "trộ", để chứng tỏ nước máy Hà Nội đã làm các anh hết chất nhà quê. Biết đâu, chuyện quất ngựa truy phong của Công tử Phát Diệm chả là chuyện phịa. Nếu là chuyện phịa, Công tử Phát Diệm hơi ngu. Tại sao nó không phịa thêm nàng tiên của nó đẹp lẫy lừng? Không, nàng tiên của nó phải rỗ huê anh em mới tin, chứ đẹp, anh em bỏ ngay. Nó sành tâm lý. Ở đời mình với tay không tới mà người khác với tay tới, mình bắt buộc phải ghen. Tôi đâm ra thương Công tử Phát Diệm, nhủ thầm sẽ gắp cho nó con "cá rán". Vì nó cũng là mèo mù, cũng khù khờ, cần được thánh nhân đãi ngộ.

Đấu khẩu một lúc mỏi mồm, Luyến đi viết thư gởi cho vợ, Mông xừ La Bơ tới Âm Nhạc Học Xá. Công tử Phát Diệm phóng vê lô xô lếch lên cầu Gỗ uống cà phê. Thịnh rủ tôi đến phố Duy Tân ăn kem Cẩm Bình. "Trời càng lạnh, ăn kem càng ngon." Nó bảo thế. Nhưng tôi muốn ngâm nga tách cà phê phin, phì phà mấy điếu Cotab cho nó có vẻ...nghệ sĩ. Thịnh chiều tôi. Bây giờ, nó bám sát tôi vì nó hy vọng "em thứ hai" sẽ về tay nó. Thịnh gạ tôi:

- Hay chiều mai mày "cho" tao đi xi nên với em nhé?

- Lỡ em giận thì sao?

- Em đâu biết. Tụi mình tình cờ gặp nhau trong rạp.

- Ngồi gần nhau à?

- Ừ.

- Em mời tao, chắc em sẽ mua vé.

Thịnh móc túi, cử chỉ rất mã thượng:

- Đừng để em mua vé. Tao mua sẵn ba cái. Mày giữ hai. Khi em đến mày đưa em vào. Tao chờ hết phim thời sự tao mới vào.

- Trong rạp tối, làm sao mà giới thiệu mày với người yêu của tao?

- Tao giả vờ mượn mày cái "pô gam".

- Lỡ em thấy có mày, em giận tao, em bỏ về thì sao?

- Em không giận mày đâu. Tao biết em yêu mày lắm mà.

Thịnh nói câu này bằng giọng hết sức đau khổ. Tôi đành chiều nó mà nhận lời đề nghị của nó. Thịnh dặn tôi:

- Đừng vui miệng kể chuyện ở gác trọ nghe.

"Giáo sư" ái tình, nhà nghệ sĩ tài ba của tôi sợ trở thành chìa khóa cười thừ tư. Chiều hôm sau, Thịnh và tôi tới rạp hát Đại Nam sớm nhất. Nó anh dũng mua ba cái vé hạng nhất. Tôi nhớ, bữa ấy, rạp Đại Nam chiếu phim "Les aveniures de Tom Sawyer". Chúng tôi đi uống cà phê, mắt dán vào đồng hồ đeo tay. Thời gian như bị què chân. Nó bước châm đến sốt ruột. Ngồi mỏi đít, tê chân, hút gần hết bao Cotab, tâm hồn lử đử mà mới quá ba giờ rưỡi một chút.

Hai nhà nghệ sĩ lang thang bên đây hè phố Duy Tân, lòng hướng về bên kia trông chờ một màu áo. "Trông chờ một màu áo về đây ấp ủ trái tim côi giữa mùa đời lạnh lẽo." Ái chà, tôi có triển vọng viết văn chương mõ nữa.

- Liệu em có đến không hả, Thịnh?

- Không ai dại dột đùa với ái tình đâu.

- Có gì, tụi mình cứ vào coi phim nghe chưa? Rồi về, tụi mình "trộ" chúng nó. Nói thật là em chơi xỏ, tụi nó cười chết.

Thịnh triết lý còm:

- Rốt cuộc ở đời, thằng nào cũng có một lần làm chìa khóa mở kho cười vô tận.

Nó đoan chắc:

- Yên chí, tao sẽ kín miệng.

Tôi ngó đồng hồ. Còn thiếu năm phút mới đầy bốn giờ. Tại sao Bảo Ngọc tới muộn vậy? Tôi nhìn bên kia rạp Đại Nam. Ngẩn ngơ. Nàng đến tự bao giờ, đang ngó trước nhìn sau kiếm tôi. Nàng đi với em nàng.

Chắc thế. Con cá rán mà Công tử Phát Diệm nhận phần đấy. Người con gái mà "giáo sư" Thịnh đang nhờ vả tôi làm quen giùm đấy. Tôi vỗ vai Thịnh:

- Em đã tới.

Thịnh vui niềm vui của tôi:

- Đâu?

- Kia kìa, em đi với em của nàng.

Thịnh biến sắc mặt:

- Hỏng rồi!

Tôi hỏi:

- Sao, hỏng cái gì?

"Giáo sư" Thịnh, nhà tâm lý ái tình, gã thanh niên tự hào ăn nước máy Hà Nội hai năm, có bằng tú tài phần thứ nhất, đàn nhạc giỏi, "ca ve" mê như điếu đổ, gạt đi không hết gái đẹp, cũng có phút ngơ ngác như một dân "cả quỷnh" chính hiệu. Sấm sét ái tình mạnh thật. Nó làm Thịnh quên cả sự nói phét và hiện nguyên hình là một cậu học trò tỉnh nhỏ lên Hà Nội trọ học.

- Tao quên đề phòng.

- Đề phòng ai?

- Đề phòng em của tao. Có ba vé, giờ tính sao. Số vé mình mua chắc nó bán xa rồi. Tao hết hy vọng ngồi cạnh em.

Nó nuốt nước bọt ực một cái tiếc rẻ:

- "Ngàn năm một thuở", mày là mèo mù luôn luôn vớ cá rán. Ông đang muốn làm mèo mù giống mày đây.

Thịnh móc túi, cử chỉ rất mã thượng:

- Thôi, mày đi coi với các em đi. Nhớ lựa lời giùm tao nhé! Hỏi tên em của tao là gì rồi về cho riêng tao biết.

Tôi cầm ba vé hạng nhất, ngần ngại chưa dám băng sang đường. Thịnh khuyến khích tôi. Tôi thu hết can đảm, chạy nhanh, suýt bị xe đạp cán. Nàng đã thấy tôi, mỉm cười chào đón.

Nụ cười của Bảo Ngọc không làm cho tôi sung sướng như tôi đã tưởng. Mà chỉ làm tôi ngượng ngập, run sợ. Giá có Thịnh bên cạnh tôi? Nàng trách nhẹ:

- Long đến muộn quá!

Tôi thộn mặt ngó nàng rồi ngó xuống đôi giày. Và, chả hiểu phải làm gì, tôi cúi xuống thắt dây giày. "Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá" mà. Tôi không biết chào hỏi em nàng. Em nàng, đúng rồi. Vì nàng này bé nhỏ hơn nàng của tôi.

- Ăn kẹo đi!

Bảo Ngọc đưa cho tôi thanh kẹo Chewing-gum. Tôi quên cả lời dạy dỗ của công tử Phát Diệm. Đáng lẽ tôi phải mua Chewing-gum mời nàng. Thì tôi lại chìa tay nhận kẹo của nàng. Tôi trở thành kẻ thụ động, một thứ mèo mù chính hiệu thuốc ho bà lang Trọc. Tôi trông thấy rõ ràng em gái Bảo Ngọc tới "ghi sê" mua vé. Mà tay tôi cứ thọc vào túi quần mân mê ba cái vé hạng nhất của "giáo sư" Thịnh. Thế rồi, Ngọc ngoắc tay. Tôi ngoan ngoãn theo sau nàng như một cậu em họ ở nhà quê mới lên Hà Nội, được bà chị dắt đi xi nê.

Trong bóng tối và "ngồi bên em", tôi không biết làm gì. Nhớ mang máng lời công tử Phát Diệm. Nhưng tôi sợ. Tôi sợ thật. Đành thủ hai tay kín trong túi quần và đôi mắt nhìn thẳng lên màn ảnh. Bảo Ngọc hỏi câu nào tôi trả lời câu ấy. Nàng cứ hay nhỏ to chuyện trò với em nàng khiến tôi ngỡ nàng đang "chê" tôi "cả quỷnh". Thỉnh thoảng, Bảo Ngọc vỗ nhẹ vai tôi. Tôi nhát quá, thành thử, không cảm được cái mê man của sự vuốt ve của người yêu. Tôi biết tên em gái nàng là Thu rồi. Ngọc nhắc "Thu" luôn miệng, Tom Sawyer "lơn" gái còn giỏi hơn tôi, nó biết trổ tài mọn đi trên hàng rào y hệt người làm xiếc cho nàng của nó phục tài. Còn tôi, tôi ngồi câm nín. Và ngu ơi, ngốc ơi, mèo mù ơi, tôi say mê theo dõi những hành động của thằng Tom Sawyer hơn là chú ý đến Bảo Ngọc.

- Long buồn gì, hả?

- Không.

- Tại sao không nói?

- Nói gì?

- Nói chuyện với Ngọc.

Nàng khích tôi. Khốn nỗi, tôi quên hết cả những vần thơ tán gái, những vần thơ bồng bế của Xuân Diệu, Nguyễn Bính rồi. Nàng bóc kẹo, đưa tận miệng tôi. Thú thật, tôi xấu hổ hơn là cảm động, rung động. Tai tôi nóng bừng. Trống ngực đánh thình thịch:

- Long học trường nào nhỉ?

- Minh Tân.

- Lớp mấy?

- Đệ tam.

- Quê Long ở đâu?

- Thái Bình?

Thái Bình! Nhiều thằng bạn Hà Nội của tôi nghe tôi bảo ở Thái Bình, chúng nó đã tròn mắt bỉ thử. Tôi khai quê hương mình với Bảo Ngọc, đâm ra lo. Ngại nàng chê dân Thái Lọ "con tâu tắng buộc bờ te tụi", nàng bỏ rơi tôi thì đời sẽ ê chê, cay đắng. Nhưng nàng lại đặt bàn tay (chắc thon mềm) lên vai tôi:

- Tại sao Long không chịu cúp tóc?

Tôi xuất thần nói một câu nặng tính chất lãng tử tài hoa:

- Vì Long là nghệ sĩ!

Nàng hơi to tiếng (bởi ngạc nhiên):

- Nghệ sĩ!

- Vâng.

- Đừng vâng nữa, Long ạ! Long đánh đàn à?

- Không, Long làm thơ. Thơ Long hay như thơ Xuân Diệu.

- Tuyệt quá, tưởng Long chơi violon.

Thu góp lời:

- Gác "nhà" Long có ông nào kéo bài "Chiều ơi..." cứ như sẩm ở bến xe.

Tôi buột miệng:

- Mông xừ La Bơ đó.

Ngọc hỏi:

- Tây lai à?

Tôi giải thích cái "điển cố" La Bơ. Hai nàng châu đầu vào đầu tôi nghe. Chuyện gác trọ được kể thầm trong bóng tối. Bây giờ, tôi mới biết tôi ngồi giữa hai nàng tiên, hai nàng tiên không rỗ huê.

Tôi không nhìn rõ được sự cảm phục trên khuôn mặt hai người con gái Hà Nội, vì... tôi không dám nhìn hai nàng, khi bỗng dưng, cao hứng khoe mình làm thơ hay như Xuân Diệu, Nguyễn Bính. "Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá." Làm thơ là được rồi, cần gì phải làm thơ hay như Xuân Diệu, Nguyễn Bính. Bảo Ngọc vẫn đặt bàn tay mềm mại (tôi biết mềm mại rồi, bởi tay nàng không làm đau vai tôi) lên vai tôi. Qua chiếc pullover dầy, chiếc sơ mi, hơi ấm tự bàn tay nàng lan tỏa "bờ vai" của tôi. Lửa tình đó. Nàng nhỏ nhẹ:

- Làm thơ có khó không hả Long?

- Dễ mà.

Thu chộp lấy cánh tay tôi:

- Long dạy Thu làm thơ nhé?

Tôi hãnh diện đáp:

- Long sẽ đưa Thu vào... văn học sử!

Con mèo mù đã quên nỗi nhút nhát, quên nỗi xấu hổ. Nó không còn biết chung quanh nó có những cái gì. Nó khởi sự rung động như dẫy núi xa "khởi sự nhạt sương mờ" khi mùa thu tới.

Một em truyền lửa tình từ vai, một em truyền lửa tình từ tay. Tôi thấy tôi giống ông Táo ghê. Trời ơi, em Thu chắc cũng "mê" tôi rồi. Kẻ hát bài "ôi ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu" sẽ là "giáo sư" Thịnh. Thu kéo cánh tay tôi xích lại gần nàng.

Cứ y hệt thơ Xuân Diệu ấy, "có nhiều bận em ngồi xa anh quá, Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn".

- Làm thơ có cần chi không?

- Cần sống phi thường.

- Sống phi thường là sống thế nào?

- Là...

Tôi "phanh" dòng tư tưởng...nghệ sĩ rất vội vàng. Chao ôi, nói thật cho Thu biết cuộc sống phi thường, có lẽ, nàng bóp nát tay tôi. Cuộc sống phi thường của một nghệ sĩ gồm các mục ở dơ, ăn bẩn, đầu bù tóc rối, mặt mũi nhem nhuốc và chuyên môn ăn quỵt, uống rượu, hút thuốc phiện, chỉ nên thảo luận với "giáo sư" Thịnh bên tách cà phê đen vào gói thuốc Cotab.

- Là gì?

- Là... là... mơ mộng ngày đêm. Riêng con trai muốn làm thơ hay, phải để tóc vài tháng không cúp. Những anh tóc ngắn, làm thơ cả đời, may ra mới được một bài đăng vào mục "Thi ca học sinh." Còn rặt thơ con cóc.

- Long đã đăng thơ ở báo nào?

- Thơ hay không thể đăng trên các nhật báo. Long sẽ xuất bản một tập thơ "giấy phép kiểm duyệt số... do Nhà Thông Tin Bắc Việt cấp ngày... tháng... năm... in tại nhà in.... Ngoài những bản thường còn in riêng thêm trăm bản trên giấy quý để riêng tặng các thân hữu."

Thu ngẩn ngơ chẳng biết tôi nói gì. Nàng bèn phục tôi quá. Đến lượt Bảo Ngọc bắt tôi dạy làm thơ. Anh sẽ dạy cả hai em làm thơ. Anh sẽ thưởng thức luôn hai khúc cá rán. Vì anh được là mèo mù. Đến đây, không em nào "gãi" đúng cái "chỗ ngứa" nghệ sĩ của tôi nữa. Tôi đành ngồi thộn ra, đành ngó lên màn ảnh coi thằng Tom Sawyer nghịch ngợm với thằng Huckleberry Finn. Tôi đã trở thành kẻ nô lệ của ánh tình. Em xích...vai, em xích tay. Nhưng tôi thì câm nín, thì cứ làm tượng gỗ, làm phỗng đá, chẳng biết "làm ăn" gì hơn.

- Long họ gì nhỉ?

- Vũ.

- Vũ Văn Long, Ồ, tên hay ghê đi ấy.

- Còn Ngọc?

- Vương Bảo Ngọc.

- Thế Vương gì... Thu?

- Vương Phượng Thu.

- Tên hay quá!

Bảo Ngọc nhấc bàn tay lên, vỗ mạnh vai tôi:

- Thế tên Ngọc có hay không?

Tôi gật đầu:

- Hay chứ.

Như vậy, những mẩu chuyện tầm phì, không ăn nhằm gì với nhau đã thầm thì trong bóng tối, cho đến lúc bóng tối biến đi. Chúng tôi ra về. Hai nàng hẹn tôi dịp khác.

Tôi chia tay nàng ở cửa rạp Đại Nam, chia tay ở giữa đám đông khán giả. Rồi tôi vù nhanh sang bên kia đường, đứng ngó hai nàng. Tôi mua một gói kẹo. Tôi biết tối nay tôi sẽ có vô số chuyện kể cho Thịnh nghe. Và chuyện hay nhất sẽ là chuyện Phượng Thu.


Duy
ên Anh
(còn tiếp)


Mời nghe nhạc:

Liên Khúc Dân Ca. Hạ Vy, Tâm Đoan, Minh Tuyết

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn