DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,866,601

Mặt Trời Qua Đỉnh Thiêng - Hồ Minh Dũng

09 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 9475)
Mặt Trời Qua Đỉnh Thiêng - Hồ Minh Dũng




1.



Cuối cùng rồi cũng không ai vô công rỗi việc để ý đến đời tư ông Vĩnh Ly. Đời ông, xét về mặt đại sự, chẳng có gì đáng nói, chỉ có một điều ông khác người là có số đào hoa. Đường chỉ ở những đầu ngón bàn tay trái của ông có hình xoắn ốc, tận cùng trung tâm lại xòe ra một hoa thụy nhiều cánh, ở ngón tay cái có đường vân tay ấy trổ ra một nhánh, tựa như móc câu. Người thầy tướng số có thể vin vào đó mà biết được đường tình hanh thông hay trắc trở, bế tắc hay có lối thoát. Riêng cái vành tai dày và dái tai dài của ông, thêm vào đó cái chóp mũi nằm ngạo nghễ trên đỉnh nhân trung lúc nào cũng ửng đỏ, đã biết phủ tạng ông bẩm sinh đã cường tráng, yêu người, yêu đời, trái tim không ngừng chan hòa với ngoại cảnh.
Đời, đối với ông Vĩnh Ly, thật đơn giản. Không buồn, không vui, không dài, không ngắn. Tất cả đều vừa phải. Sự thừa, thiếu là do lòng dạ con người nghĩ ra. Nước cạn mà chở thuyền lớn, núi trọc làm sao lót ổ cho đại bàng nằm, đời người như gửi thì tiếc chi thân cù mộc mà gây khó dễ cho phận cát bìm leo.
Ngay cái ngày triều đại nhà Nguyễn sập đổ không kèn không trống, ông cũng không lấy gì làm buồn. Chẳng những không chia sẻ nỗi đau tưởng chừng như trời long đất lở ấy, ông còn ra đồng thả diều, cánh diều chao liệng vô tận giữa thanh không vời vợi ấy đưa ông về một cõi khác, đơn sơ hào hiệp hơn. Mộng lòng mới chớm, biết gửi nơi đâu, ngoài một khoảng trời đầy mây và cánh đồng phiêu du mượt mà cỏ non. Cha mẹ ông đứng dưới lũy tre làng nhìn thằng con vô tích sự rong chơi. Cha cất tiếng gọi: ”Con ơi, về nhà. Cả một cơ đồ đổ, mai đây tay lấm chân bùn, con vui chi mà ham chơi?” Mẹ nói: ”Về đi con, gia biến quốc vong rồi, không sướng ích chi mô”. Cái ngày đại tang ấy, lãng đãng đi qua đời ông, không phải người dưng nước lã, ông cũng quấn một vành tang trên đầu, nhưng mảnh khăn ấy chít thêm một vài nụ hoa. Tạo hóa sinh ra, ông là một người tình cảm, giàu tưởng tượng, mà tưởng tượng ngay trên nỗi đau khổ của chính mình.
Ông có một người bạn vong niên, ở cùng xóm, học cùng trường, chơi thân với nhau từ lúc ấu thời. Lớn lên, không biết vì sao bạn nương thân chốn thiền lâm. Bạn xa rời trần tục lúc còn để chỏm. Những hôm trời quang theo cha vào ngồi trên bờ tịch điền ở Tây Lộc, nghe tiếng chuông chùa thánh thót nơi bạn ở vọng ra. Chao ôi, bạn gửi gắm vào đó biết bao nhiêu lời. Tu là cõi phúc tình là dây oan. Chiếc chiếu đời dọn toàn mâm phàm phu tục tĩu. Cốt lõi đời như sông sâu biển cả khó dò. Tình đời đen mà phận người mỏng, mạo hợp tâm ly. Cuối cùng, như cây lạc diệp tùng chờ cho đến mùa đông rụng lá để kiến mối đùn lấp.
Có hôm bạn đầu trọc nhẵn thín, mặc quần áo cà sa rộng thùng thình, tay nắm chặt cành mẫu đơn, ra thăm ông tận mấy mẫu ruộng riêng của nhà vua này. Ruộng đang mùa trổ đòng đòng. Bông lúa nàng hương thơm ngát. Đã bao đời rồi, từ những hạt thóc mà cha nàng Từ Dũ đã lặn lội về phương Nam xa xôi mang ra đây để bữa ăn hoàng thượng thêm phần mặn mòi, nay vẫn còn xanh.
Từ đầu xa, bạn đã cất tiếng gọi:
“Cố tri ơi, còn nhớ bần tăng chăng?”
Quỷ thần ơi, thằng bạn mới ngày nào còn đánh bi, đánh đáo, cùng nhau bắt bướm hái hoa, cởi áo quần chạy lòng ngòng đuổi chuồn chuồn cho cắn vào rốn để biết bơi. Mới ngày nào ông đá vào đít nó, bắt nó cõng ông trên vai làm tướng quân đi hái hoa lau trên đồi tạm gọi là đồi Hoa Lư... Thế mà bây giờ, sao lạ vậy cà. Thế gian thay trắng đổi đen quả thật không sai.
“Bần tăng xin lỗi sự đường đột này nhé, cố tri còn nhớ ta không?”
“Nhớ, sao quên. Mày là thằng Trần Môn, bạn tao.”
“Phải. Môn đây, nhưng bây giờ đem thân vào chốn trầm hương kinh kệ, không nên kêu tao mày. Xưa khác, nay khác rồi.”
“Ừ, ừ, xưa khác nay khác, biết thế. Nhưng tình bạn hết rồi sao?”
Chú tiểu nhìn gió thổi ruộng lúa dấy lên từng vồng, ánh mặt trời rải xuống, hắt lên, làm rực sáng những lá thiên tuế bên vệ đường. Nói:
“Không hết. Tình còn, bần tăng mới đến đây thăm nhau.”
“Vậy thì xin mời về nhà. Đây là chốn ruộng nương sợ không vui.”
“Bần tăng đã tu, sao dám tìm đến chỗ vui. Ra thăm cố tri, trước thỏa lòng mong ngóng. Đức chí tôn đại từ bi trước khi ngồi dưới lá bồ đề rụng tầm tã, cũng có những bạn hiền vọc nước giỡn trăng bên bờ sông Hằng Hà. Buổi gặp nhau đây có một lời mạo muội thêm là, những con hình nhân kia sao không phân biệt đàn ông hay đàn bà?”
Ông Vĩnh Ly cười:
“Đã gọi là bù nhìn, cần chi phải có giống. Đó là cha tôi làm để hù chim.”
“Chim chóc cũng là kiếp sinh linh, biết đâu kiếp trước cũng là
người, sao lại nhẫn tâm hù?”
“Nếu không sẽ bị tội phạm thượng. Có khi cha tôi bị đuổi về. Bạn đã biết, tôi dòng tôn thất, việc vun đắp ngai vàng, không giống người thường.”
Đã đến lúc chú tiểu gãi đầu, nét mặt thấp thoáng một nét buồn:
“Sợ chim ăn bớt thóc của nhà vua sao?”
“Không phải, chim muông là giống vong ân, không nên để chúng lảng vảng đến gần, có khi ỉa đái lên lúa không chừng.”
“Chuyện của đời thì bần tăng không dám xía vào. Ngặt vì, chùa bần tăng nương thân gần đây, sau giờ hương khói kinh kệ cũng ra nhìn trời nhìn đất cho lòng hội nhập tinh hoa, những hình bù nhìn cũng trong tầm nhìn, bần tăng cần phải phân biệt, để tránh hậu hoạn về sau.”
Ngày đó, ông Vĩnh Ly đã mười sáu tuổi, trong giấc mộng ban đầu đã thấy mình đứng trước đám tóc lũ con gái trong xóm kết lại thành một chiếc võng ru ông vào miền đất phiêu bồng mù mịt không lối ra. Tâm hồn bạn trong hơn ông nhiều.
Cha ông lại kết những con bù nhìn thuộc về giai cấp phong lưu. Những gì có dính dấp tới triều đại phải ngời ngời ánh hoa đăng. Cha ông dù là mang dòng máu cành vàng lá ngọc, nhưng cũng chỉ một cái đầu dính trên cổ, không thể liều cho đám hình nhân ấy mặc rách rưới như ông kẹ hay ông ăn mày mà người thường làm. Chẳng những không rách rưới mà còn phải chít khăn là áo lượt, chân đi hia, tay cầm gậy trúc bệ vệ như vị võ quan đang đứng điều quân giữa trận mạc. Bạn quyết tâm xa lánh chốn bụi hồng đưa ra điều kiện khó thay!


2



Khi hết thời, không được nối nghiệp ông cha coi tịch điền thì về làm dân. Bao nhiêu vàng bạc châu báu cha ông để lại không dễ gì ăn tiêu hết. Vĩnh Ly kéo dài cái vinh quang của tiền nhân và chia sẻ hào phóng cho những cuộc tình của mình.
Vốn dòng họ mà gia phả đã đúc bằng vàng khắc câu vạn đại dung thân, lại có học, ngoài cái chóp mũi có hơi ửng đỏ, ông không có một khuyết tật nào khác. Một mẫu đàn ông như vậy chán chi vợ.
Cố nội, ông nội, cha ông đã nhiều vợ rồi, ông còn nhiều hơn. Để cho bà con thân tộc dễ nhớ, ông đặt những người vợ ấy bằng những cái tên đã ăn sâu vào tiềm thức mọi người: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Rồi bắt đầu lại Tý-em, Sửu-em, vân vân... Nếu bà nào thích cái thú văn chương thì cứ việc thêm giáp, ất, bính, đinh, canh, thân, mậu, kỷ vào trước. Bà Giáp Tí, cô Bính Dần, chị hay cô Bính-Dần-em cũng thể thống như ai. Thời buổi mà thiên hạ xầm xì ngoài ngõ là ngũ kinh đã tảo địa rồi, nhưng ông Vĩnh Ly trị gia được lớp lang, đề huề như thế không phải ai cũng làm được.
Mười bốn người vợ của ông trừ bà chánh thất ra, cũng đúc mười ba thiên tình sử, trước khi người đàn bà về làm vợ, ông cũng gieo vào ở đâu đó một cuộc tình đầy, cố tạo ra những mộng ước xa xôi, những choáng váng dập dềnh, có khi nâng hình bóng kia lên ở một nơi cao vòi vọi mà kẻ tầm thường không với tới. Tình yêu đâu phải vật thể lồ lộ trước mắt, có thể rờ mó tới mà là một làn khói thấp thoáng mơ hồ chân trời góc bể. Đàn bà, theo định nghĩa của ông: đem cái hư ảo phả lên một lớp, như son phấn và nước hoa. Như một cái đìa phủ đầy chuôm gai. Như vườn thượng uyển chằng chịt hoa cỏ, nỡ tâm nào dẫm chân lên. Tình yêu, đâu phải đứng xa là hạt kim cương, đứng gần là giọt nước mắt? Đối với ông, ngược lại, lúc gần, mới chạm được cái ngũ sắc cầu vồng, hào quang long lanh tinh kỳ của nó. Biết bao nhiêu cuộc tình đã đến rồi ở lại luôn, trong đời ông.
Trước khi nhắm mắt lìa đời, người mẹ gọi riêng ông vào lâm sàng, trối: ”Con thấy cái gương cha con trước mắt, đa mang thêm lụy thân, mẹ cũng vì những cái rìa ấy mà lòng không yên suốt đời”. Xin lỗi vong hồn mẹ, không phải lời vàng ngọc mẹ lúc lâm chung nước đổ lá môn, nhưng trái tim mẹ sinh ra cho con đây có nhiều ngăn, nhiều hộc quá, dồn chứa mãi không vừa. Chỉ một lần ông khấn trên mộ mẹ như thế, rồi quên.
Bà Nguyệt Cầm là một tiểu thư đài các, cháu mấy đời của quan phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành, vừa đúng tuổi trăng rằm, từ phủ vương hầu, bước lên xe tứ mã kết đầy hoa tứ thời lồng lộng tía đỏ trắng vàng về làm vợ ông. Đó là người vợ đầu tiên cha mẹ cưới cho để giữ nếp gia phong thể giá. Lòng bà Nguyệt Cầm cũng sáng như trăng sao, từ khi tóc mới chớm ngang vai, lời từ mẫu đã vẳng bên tai, đàn ông ba thiếp bảy thê, đàn bà chung thủy một bề nuôi con. Cụ đại thần nhà ta bảy mươi tuổi còn mời cả hàng trăm quan lại đương triều đến nếm chén rượu vu qui, nhìn chú rể chống gậy lòng chan hòa nghĩa khí bước chậm chạp theo sau cô dâu. Người xưa đã thế, nên khi biết chồng có mười cái hoa thụy nằm ấp ủ giữa những vân xoắn ốc của mười đầu ngón tay, bà nói: ”Thiếp không phải là hoa thải, hương thừa, chẳng qua sợi xích thằng buộc chân mà ngọc ẩn bóng cây tùng, chàng đừng vì cái lũ quạ mổ diều tha mà quên nghĩa nặng tào khang.”
Ngày ấy tâm hồn ông còn thênh thang như mây bay, tiếc chi lời thề vàng đá:
“Quân tử u hự đã đau. Nàng chỉ nói thế, lòng ta đã thấm.”
Và không bao giờ ông có mới nới cũ. Ông không bạc tình coi bà như chén cơm nguội phòng khi đói lòng.
Như đã nói trên, mười ba người vợ nối tiếp trong đời ông Vĩnh Ly đều có một trang lịch sử riêng. Người vợ thứ hai của ông, bà Ất Sửu, không ai khác hơn là cô Bùi Thị Thôi, người mà bà Nguyệt Cầm đem theo khi về nhà chồng để đỡ đần công việc và chị em có nhau lúc tối lửa tắt đèn.
Không ngờ, một ngày kia. Thôi trèo lên cây bưởi hái mấy trái cho bà chủ xơi, vừa bị kiến vàng cắn, vừa bị gai xóc. Kiến và gai lại cắn xóc vào một nơi mà ngày xưa mẹ cho lũ chuồn chuồn kim cắn vào để biết bơi qua sông rạch. Ngồi dưới gốc cây, cô khóc thút thít như bị oan ức. Phát ra lời ai oán giữa trời đất mênh mông:
“Tụi bây đoản hậu như ri, tao ghét nhất!”
“Thế thì ghét ai nhì?”
Cô giật mình ngó lui thấy ông chủ Vĩnh Ly đã đứng từ bao giờ. Chao ôi, con gái vô duyên, dám vén áo lên mà gãi rốn giữa thanh thiên bạch nhật. Chiếc rốn của đứa con gái lúc dậy thì mà Vĩnh Ly thấy được buổi chiều nắng quái hôm đó là vực thẳm. Bên dưới vực, thường là miền đất trù phú thiên nhiên ưu đãi, chỗ những loài cây nở hoa thơm mà không có ong bướm nào dám đến gần. Vực thẳm còn âm vang vọng dội lên vô vàn âm giai lẫn lộn giữa chốn thiên đàng và địa ngục. Lại còn vùng đất ở chung quanh vực thẳm ấy, bừng ửng lên một thứ ánh sáng diệu kỳ trà trộn giữa mặt trăng và mặt trời. Lần đầu tiên trong đời, cô như đứng trong giàn hỏa thiêu, khói lửa mịt mù. Đôi mắt của ông ấy chiều nay quái đản.
“Nhìn gì cháu mà dữ thế, ông?”
“Ta muốn Thôi coi ta là kẻ được ghét thứ nhì.”
“Không, cháu không dám!”
Cô gái ở nhà quê thật thà, cha mẹ mất sớm, được nhà quan đem về nuôi, làm sao hiểu được câu nói đầy ngụ ý của ông chủ đa tình. Ông ngồi xuống cạnh cô, phân trần:
“Thôi cứ coi ta như kiến như gai thì ta vui hơn. A, Thôi ơi, biết đời nào mà ta được vinh hạnh đó hè.”
“Trời đất, răng ông lại ví von rứa được. Cháu không hiểu.”
“Thế kiến và gai làm tổn thương Thôi có nhiều không? Cho ta đếm coi bao nhiêu vết.”
“Làm chi rứa ông, bà thấy được, cháu biết nói làm răng?”
Bỗng bất ngờ ông cầm lấy tay cô gái, giọng đượm buồn, như sắp khóc:
“Bà ấy đi chợ rồi. Thôi ơi, sao chiếc rốn của em kỳ cục thế, biết đến đời nào ta mới quên. Cây bưởi này do ta vun xới, không ngờ hại em. Em bị bao nhiêu vết, vén áo lên, anh hôn bấy nhiêu lần. Em tha cho sự đột ngột này, chính ta cũng không ngờ, nói ra những lời này với em, tận đáy lòng.”
Phận hẩm hiu, tưởng chừng như số phận dắt mình vào con truông hoang vắng suốt đời, ngờ đâu Thôi có những lời đường mật ấy rót vào tai. Tiếng người sao nghe tựa như gió se sẽ lay qua cành đào, thánh thót hơn cả giọt mưa thu rơi bên hiên, đầm ấm hơn cả tiếng chim gọi nhau về tổ. Và ngọn gió chiều nay không ngừng mang hương thơm phả ngập vào mái tóc cô, má môi và cả thân hình cô không bỏ sót một chỗ nào, cơn gió chướng ấy chẳng mấy lúc trở thành bão táp đưa cô bay lên một nơi lạ lùng chưa từng biết đến, cho đến khi mở mắt ra, nhạt nhòa trong màn lệ, thì tấm thân cô đã nằm trần truồng trên những lá bưởi khô...
Ngay buổi sáng hôm sau, Thôi chạy ra chợ Bao Vinh, mua chín miếng trầu đã têm sẵn về đặt lên dĩa, mặc bộ quần áo đẹp nhất mà Nguyệt Cầm mới may cho khi theo nàng về nhà chồng, để lên mâm, mang đặt trước mặt nàng, thưa:
“Bà ơi, cháu mang tội với bà rồi!”
Nguyệt Cầm trố mắt ngạc nhiên:
“Tội với tình chi đây?”
“Cháu lấy chồng!”
“Lấy chồng? Lấy khi mô mà tao không biết? Ai?”
Thôi xúc động không nói được, vận dụng trí não một hồi lâu mới chỉ được tay trỏ lên bức hình bán thân của ông Vĩnh Ly treo trên tường. Nguyệt Cầm thở dài, nước mắt ràn rụa:
“Thôi, biết mô rứa mà chị em mình ở với nhau lâu.”
Chín tháng mười một ngày sau, Thôi đẻ. Đứa con trưởng của Vĩnh Ly chào đời không cất tiếng khóc oe oe như những đứa khác. Cô mụ miệt vườn nở nụ cười tươi như đóa hải đường báo tin cho ông: ”Điềm lành đây anh, thằng bé này lớn lên coi trời như ngọn rau má.”. Ly trông thấy cô mụ trẻ trung, duyên dáng, má lại lúm đồng tiền, khóe mắt đưa tình y như nàng Tiểu Kiều đất Đông Ngô tả trong sách Tàu, liền buông câu: ”Thế em, chần chờ chi mà không đúc cho riêng mình một khối tinh hoa như thế?” Cô mụ lượn lờ vòng quanh lưỡi câu: ”Phận em hèn, có ai thèm để ý?” Ly khôn ranh: ”Đời con gái không nên tắm bến đục. Cái thân mượt mà của em đáng giá ngàn vàng phải ngâm mình ngọc ngà trong dòng nước trong.” Cô mụ càng tinh khôn hơn: ”Ai mà không muốn như rứa, dòng nước trong đó là anh đây phải không?”
Chẳng bao lâu sau, Vĩnh Ly hẹn cô mụ ấy ở ngã ba Ngoẹo Giàn Xay, cô đi xe kéo, chàng đi ngựa. Hai người vào quán bên đường ăn bánh bèo, uống nước chè xanh no nê, rồi cả hai lên ngựa, phóng qua những đồi núi bạt ngàn.
Con ngựa lông màu cánh cam, bờm phơn phớt tím in vó mình xuống những miền hoang vu. Con đường nó chạy gập ghềnh khúc khuỷu hơn qua những khu ruộng lúa ở Tây Lộc nhiều, sức nặng trên lưng gấp bội nhưng không làm nó chột dạ, bởi vì nó nghĩ đến một sự đền ơn, na ná như sự hoài mong tối thượng của con người, được qua tàu con ngựa cái.
Vòng quanh triền núi Ngự Bình, vô chùa Trà Am, lên Từ Hiếu, vội vàng ghé qua đền tế trời Nam Giao, để mắt lướt nhìn cảnh giang sơn cẩm tú trên đồi Vọng Cảnh, quay về rừng tràm nghi ngút hương thơm Dương Xuân, rồi cột ngựa, ngồi nghỉ chân dưới gốc thông già ngập phấn vàng bên lăng Tự Đức. Vĩnh Ly nói:
“Em thấy không, anh đưa em đến động hoa vàng.”
Cô gái hai mươi tuổi đời chỉ bó mình quanh quẩn trong vòng sinh nặng đẻ đau, đem tấm lòng của mình trang trải cho những em bé chào đời, nay choáng ngợp trước cảnh sắc bao la, gục đầu vào ngực chàng, thổn thức:
“Anh chở em đi mô, nhồi lên nhồi xuống, mệt đừ!”
Cũng một bài bản cố hữu như ngày trước chiếm đoạt nàng Thôi, Ly nói càng thiết tha hơn:
“Thôi để anh bù lại cho em. Ơ kìa, phấn thông rơi xuống ngực em nhiều, ngứa lắm. Phấn này độc hơn phấn hoa vông đồng, không chừng hai vú em sưng vù lên.”
“Răng không phủi cho em, nhè nhẹ tay kẻo em nhột nghe.” Cô gái nói trong hơi thở.
Thế là suốt buổi chiều, và cả đêm hôm ấy, hai người sống trằn trọc bên nhau, giữa màn trời chiếu đất. Hai bà Giáp Tý và Ất Sửu không biết chồng đi đâu, đốt đuốc chia nhau đi khắp những nhà quen biết hỏi thăm không thấy. Sáng tờ mờ hôm sau mới thấy ông chồng quần áo lấm lem, mặt mày ngơ ngác cỡi ngựa về. Cuộc tình của người vợ được mang tên Bính Dần đến với ông như thế. Thử hỏi trên đời này có mấy ai được một mối tình đầy ngoạn mục như ông.


3



Một ngày đẹp trời, ông Vĩnh Ly ngồi trong căn nhà cổ kính nhìn đàn cá lia thia lượn vòng quanh trong chậu thì nghe tiếng chó sủa ngoài cổng. Đứa bé giúp việc vào báo tin cho ông, đại đức Thích Hoài Ân đến thăm.
Vị đại đức này không ai khác hơn là người bạn vong niên Trần Môn ngày nào. Từ ngày giao trả những thửa tịch điền lại cho dân thường, ông không còn nghe được tiếng chuông, tiếng mõ trong chùa mà bạn ông đã phát nguyện chôn chặt cả một thời trai trẻ. Bao nhiêu tháng ngày chồng chất, bây giờ tóc trên đầu ông đã muối tiêu. Bạn, nếu không xuống tóc thì cũng thế thôi. Gặp nhau lần này, bạn không còn gọi xưng bần tăng, cố tri như ngày xưa, mà lại tao mày như hồi còn thơ ấu.
Đại đức Hoài Ân mở màn:
“Cứ gọi nhau như xưa, vui hơn. Mười mấy năm nay không gặp mày, tao cũng nhớ. Thế nào, mày sống ngoài trần có gì lạ?”
“Không buồn, không vui, sàng sàng thôi. Còn mày? Rũ được bụi rác không cho dính vào thân, chắc thanh thản?”
Bạn nở nụ cười mệt mỏi:
”Con thuyền bát nhã chòng chành, mái chèo tao lỏng, sóng gió ba đào lại dữ dội, tự xét mình không tới được bến phúc. Tao đến đây, báo cho mày biết, chỉ nay mai thôi, tao sẽ ra khỏi chùa.”
“Mày nói chơi hay nói thiệt?”
“Nhờ lượng tù bi của đức Phật chí tôn, tao vái xin cho tóc trên đầu được mọc lại, sao dám đem ra làm chuyện chơi. Thấy đời mày đùm đề vợ con mà yên vui trong cảnh thư nhàn, câu tu tâm vẫn còn ý nghĩa. Thôi, đừng nhắc chi đến tu hay không tu. Ngày rằm này, tao nhờ mày đến đón tao về nhé. Tóm tắt là như thế.”
Ông Vĩnh Ly cảm kích:
“Bạn cần chuyện chi, tôi cũng chiều theo. Ở lại đây ăn với tôi bữa cơm. Con vợ Mậu Ngọ của tôi nấu cơm chay không thua gì các ni cô.”
“Chợ Bao Vinh độ này còn bán mực tươi, sứa biển không? Lâu quá tao thèm một dĩa mực xào với khóm, một chén sứa trộn dưa leo, chấm với ruốc trộn ớt tỏi.”
“Yên chí, chợ còn đông thì không thiếu món gì.”
Sau bữa ăn, Trần Môn bồn chồn hỏi bạn:
“Bóng xế chiều đã đuổi sau lưng tao, liệu khi về có 'móng' nào ngó ngàng không?”
Ông Vĩnh Ly soi thấu tim gan bạn, an ủi:
“Còn nước còn tát, nồi nào úp vung nấy, chớ lo toan.”
Khi tiễn đưa ra cổng, bạn còn quay lui, hỏi ông; khẩu khí lại vướng vít mùi quạnh quẽ trong chốn thiền đường:
“Cố tri còn giữ lại con bù nhìn ngày xưa hù chim trong tịch điền không? Bần tăng này vẫn thấy hình bóng chúng canh cánh bên lòng!”
“Trời đất, ngai vàng còn đổ được, lương đống triều đình còn ra tro, huống chi mấy con bù nhìn đứng bên bờ ruộng.” Độ ấy xa nhau, chờ mãi không thấy bạn nhắn tin đến đón về đời, ông Vĩnh Ly đích thân đến chùa hỏi, sư cụ chủ trì cho biết vị cựu đại đức tính khí thất thường, trong một đêm khuya, xách khăn gói, nương theo ánh trăng hạ tuần về thế tục rồi. Chẳng biết bạn xiêu lạc phương nào, lòng ông đau như kim châm. Dừng chân chốc lát dưới bóng thiên tuế, nhìn mấy thửa ruộng ngày xưa, lúa nàng hương đang thời trổ đòng, vô số loài chim, dường như chim én, lượn vòng chung quanh.


H
ồ Minh Dũng


Mời nghe nhạc:

 

Tình Ca. Phạm Duy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn