DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,870,033

Trang sử cũ bị sửa chữa? - Vũ Ánh (phần 1)

10 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 4583)
Trang sử cũ bị sửa chữa? - Vũ Ánh (phần 1)
Trang sử cũ bị sửa chữa?




vu_anh
nhà báo Vũ Ánh








Cái "bệnh tự nhận mình là nhân viên tình báo, C.I.A" để khoác lác với nhau cho vui thường chỉ xuất hiện trong chốn tù đầy thời Cộng Sản mới chiếm được Miền Nam Việt Nam. Thời buổi ấy "hot news" nhiều lắm. Nằm trong những nhà tù CS ở rừng sâu núi đỏ, thâm sơn cùng cốc, nhưng có một số nhỏ sĩ quan tù cải tạo loan những tin chắc nịch làm như họ từng là tham vụ báo chí của Jimmy Carter hay Ronald Reagan không bằng. Trong môi trường tù đày này, ông nào tự xưng là trưởng lưới, là trưởng toán Thám Sát Tỉnh (PRU), F-101, CIA là ăn trùm dù rằng không người nào có thể phối kiểm nổi hành tung của các ông ấy trước ngày vào tù. Chỉ có người nào tinh ý lắm, hiểu rõ cách tổ chức chính quyền VNCH lắm thì mới phát hiện ra là mấy ổng phịa để làm cho những "hot news" thêm quan trọng và chứng tỏ mình cũng quan tâm đến tình hình chứ không phải lúc nào cũng chỉ lo cho cái bao tử. Nhưng vì anh em cũng thường dựa vào những "hot news" để sống qua ngày nên họ cũng chỉ cười rồi bỏ qua khi thấy thực tế không phải như vậy, bởi vì tù cải tạo thực ra không sống bằng thực phẩm mà sống vì tinh thần và niềm hy vọng.




Trong số những ông tung "hot news", anh em chúng tôi không ưa nhất là những ông vừa khệ nệ gánh quà thăm nuôi của gia đình vào trại sau buổi gặp mặt đã vội rỉ tai: "Tới rồi, đem quà ra ăn thả giàn đi. Bọn mắt lưới của tôi nói Mỹ đã đạt thỏa thuận bốc chúng ta từ trại này trong một ngày rất gần". Một ngày rất gần của mấy ông tung "hot news" thuộc loại "tình báo" này có khi tới 14, 15 năm sau lận.




Chuyện tình báo trong trại tù làm tôi nhớ lại một tác phẩm xuất bản thời gian gần đây, đó là cuốn "Biến Động Miền Trung" mà tác giả là một sĩ quan quân đội VNCH chuyển sang ngành cảnh sát đặc biệt, ông Liên Thành. Tôi theo dõi "Biến Động Miền Trung" từ thời mà ông còn cho đăng từng loạt một trên tập san Biệt Động Quân, một tập san rất bề thế của các cựu binh trong binh chủng Biệt Động Quân xuất bản ở quận Cam. Tại sao? Cũng chỉ vì tôi cũng từng là chứng nhân rất sát cận với vụ biến động này ở thành phố Đà Nẵng vào năm 1966 nên muốn biết những gì đã xảy ra ở Huế, một cố đô với tình hình chính trị rất phức tạp được dùng làm nền cho "Biến Động Miền Trung" của tác giả Liên Thành. Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam và Quảng Ngãi là những thành phố không xa lạ gì với tôi thời chiến tranh. Tôi qua lại, lưu cư ở các thành phố này thường xuyên vì vai trò phóng viên mặt trận cho Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia.




Tuy nhiên, càng đọc sâu vào tác phẩm, tôi càng thắc mắc nhiều hơn. Trong nhiều đoạn tường thuật của tác giả Liên Thành. Tôi có cảm tưởng ông là Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia kiêm nhiệm Giám Đốc Trung Ương Tình Báo VNCH hơn là một phó Trưởng Ty phụ trách Cảnh Sát Đặc Biệt Thừa Thiên và Huế. Tôi cho rằng một phần khá quan trọng trong "Biến Động Miền Trung", tác giả Liên Thành viết không được cẩn trọng và lời lẽ cũng ba hoa không kém mấy ông thường tung "hot news" trong trại tù CS mà chúng tôi đã trải qua. Nhưng điều nguy hiểm là lời lẽ không cẩn trọng của tác giả Liên Thành lại nhằm hủy diệt sinh mạng chính trị của nhiều người trong đó có những tu sĩ Phật giáo mà ít đưa ra được những chứng cớ khả tín.




Tôi không biết tác giả Liên Thành có đi tù CS không mà ông lại viết một tác phẩm lịch sử giống như tung "hot news" trong tù CS như vậy. nhưng chúng tôi biết khá rõ về tổ chức hành chánh, quân đội và cảnh sát VNCH. Tuy Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa là những chế độ dân chủ nửa vời, nhưng về mặt tổ chức tương đối chặt chẽ và mỗi chức vụ đều có "bản mô tả công việc" đàng hoàng. Các viên chức chính phủ, quân đội hay cảnh sát không thể lạm quyền với nhau được. Tôi lấy ví dụ, trên trang 51 của "Biến Động Miền Trung", tác giả Liên Thành ghi: "Tôi là Thiếu Tá Liên Thành vừa được Trung Tá Tỉnh Trưởng bổ nhiệm vào chức vụ Phó Trưởng Ty CSĐB vào 10 giờ 30 ngày hôm nay 6-6-1966". Trên trang 48, tác giả Liên Thành lại viết về một lệnh của Trung Tá Phan Văn Khoa, Tỉnh Trưởng Thừa Thiên kiêm Thị Trưởng Huế:




"Và hôm nay là ngày 6-6-1966 trong quyền hạn của một tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm Thị Trưởng Huế, tôi bổ nhiệm:




-Thiếu tá Phạm Khắc Đạt làm Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên và Thị xã Huế.




-Thiếu úy Liên Thành, Phó Trưởng Ty, phụ trách CSĐB.




Tôi chưng hửng, mình có nghe lầm không? Khoảng 5 phút sau buổi gặp mặt chấm dứt. Chúng tôi rời khỏi phòng hội, tôi có hỏi ngay Trung Tá Tỉnh Trưởng:




-Sao khi hồi Trung Tá không nói trước, em là lính sao chỉ huy cảnh sát được, khó quá.




Trung Tá Tỉnh Trưởng:




-Trong những ngày sắp đến tình hình sẽ rất khó khăn, hoặc là mình đánh gục bọn chúng, hoặc là bọn tranh đấu đánh gục bọn mình, tôi cần những sĩ quan như em và Đạt. Phải cố gắng hết sức để hoàn thành nhiệm vụ, nếu cần thêm lực lượng tôi sẽ tăng cường thêm một đại đội nữa".




Trước hết, Trung Tá Phan Văn Khoa không có quyền bổ nhiệm một trưởng ty và phó trưởng ty cảnh sát. Quyền đó thuộc về trung ương.




Sau đó cần phải nói rằng Trung Tá Phan Văn Khoa bị đánh gục, nhưng không phải do "bọn tranh đấu" như lời ông nói mà do Việt Cộng trong Tết Mậu Thân. Việt Cộng vào thành phố tàn sát dân lành, ông bỏ đi trốn, sau đó mất chức vì một câu tuyên bố ngớ ngẩn với báo chí ngoại quốc. Tuy tác giả Liên Thành viết như trên, nhưng có phải những lời tác giả viết ra là do Trung Tá Phan Văn Khoa nói hay không hay là ông tường thuật sai hoặc cho đến nay ông vẫn còn xúc động vì chuyện bổ nhiệm này nên có những lời lẽ quá đáng ấy?




Tuy vào giữa thập niên 60, chiến tranh đã bắt đầu lan rộng, tình hình quân sự vùng I Chiến Thuật cũng khá nghiêm trọng, nhưng tôn ti trật tự hành chánh vẫn được tôn trọng. Chiến tranh súng đạn chưa vào tới thành phố, nhưng cố đô có rất nhiều vấn đề nhạy cảm liên quan đến đảng phái chính trị, tôn giáo, hoạt động nội thành của Việt Cộng và tình trạng quân phiệt. Dù như vậy, những nguyên tắc về bổ nhiệm vẫn được tôn trọng. Năm 1966, khi đài phát thanh Đà Nẵng mới được thành lập, Tướng Nguyễn Chánh Thi trực tiếp can thiệp vào việc bổ nhiệm một quản đốc. Đầu tiên ông Thi cử một trung úy vốn trước khi bị gọi động viên là giáo sư trường trung học Phan Chu Trinh, nhưng sau đó Tổng Giám Đốc Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia là Trung Tá Vũ Đức Vinh không đồng ý với lý do người được Tướng Nguyễn Chánh Thi cử nhiệm không phải trong ngành truyền thông và không có kinh nghiệm gì về truyền thông cả. Vụ này cũng tạo ra một cuộc khủng hoảng nhỏ giữa trung ương và địa phương. Nhưng sau đó một người vừa ở trong ngành, vừa được Thị Trưởng Đà Nẵng, BS Nguyễn Văn Mẫn vừa được tướng Thi đồng ý là ông Lê Văn Sâm được bổ nhiệm vào chức vụ Quản Đốc, nhưng nghị định bổ nhiệm vẫn do Bộ Thông Tin ký với sự thỏa thuận của Tổng Giám Đốc Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia, chứ nghị định không phải do Tướng Nguyễn Chánh Thi hay Thị Trưởng Nguyễn Văn Mẫn ký.




Tôi nêu ra trường hợp này để thấy rằng ngành cảnh sát quốc gia vào thời điểm đó thuộc Bộ Nội Vụ, nhưng người đứng đầu ngành cảnh sát quốc gia lúc đó có cấp số tướng lãnh. Ty Cảnh Sát Quốc Gia (sau gọi là Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh) tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế trực thuộc Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Cho nên việc bổ nhiệm các trưởng ty hay phó ty đặc trách Cảnh Sát Đặc Biệt đều thuộc quyền Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia chứ không thuộc quyền tỉnh trưởng. Những ty khác tại các tỉnh cũng vậy, chẳng hạn như trưởng ty canh nông do Bộ Canh Nông bổ nhiệm. Trưởng ty Thông Tin tỉnh là do Bộ Thông Tin bổ nhiệm. Tỉnh trưởng có thể đề bạt nhưng việc cứu xét và chuẩn thuận cũng như bổ nhiệm vẫn là do trung ương.




Thực ra, vấn đề bổ nhiệm tác giả Liên Thành vào chức vụ Phó trưởng ty Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế đặc trách cảnh sát đặc biệt không có vấn đề gì lớn lao cả. Thế nhưng vì chính tác giả Liên Thành đã quan trọng hóa vấn đề cho nên nó trở thành lớn mà thôi. Trong suốt thời gian của chế độ VNCH từ 1954 cho tới ngày 30 tháng 4, 1975, có không thiếu gì những lần cử nhiệm vào các chức vụ cả ở hạ tầng lẫn thượng tần không đúng chỗ, không đúng việc, không thuộc lãnh vực chuyên môn của đối tượng được cử nhiệm chỉ vì người này thuộc hàng ngũ "con ông cháu cha" hay quen biết chứ chẳng có tài cán gì cả. Đó là thiểu số, nhưng nguyên tắc hành chánh lúc nào cũng phải được tôn trọng.




Vì thế, tôi vẫn không tin rằng việc Thiếu tá Phạm Khắc Đạt và Thiếu úy Liên Thành được Trung Tá Phan Văn Khoa "cử nhiệm" vào hai chức vụ quan trọng trong một bộ chỉ huy cảnh sát tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế mà trung ương (Bộ Nội Vụ và Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia) lại không biết một tí gì.




Trong cuốn sách "Huế ơi! Oan nghiệt" tác giả Bảo Quốc Kiếm đã viết ở trang 20: "Tôi còn nhớ rõ là khi đề nghị một số quận đoàn trưởng Xây Dựng Nông Thôn, đại tá Tôn Thất Khiên không muốn chấp nhận, nhưng ông đã phải ngả nón chào thua trước quyết định của Bộ Xây Dựng Nông Thôn". Nên nhớ, đó chỉ là chức vụ ở quận của một ngành quan trọng về dân vận nhưng hay bị coi thường mà còn như thế, huống chỉ ở cấp tỉnh với một ngành đặc biệt được chú ý như ngành cảnh sát! Bây giờ, đặt ngược lại vấn đề nếu quả thật có chuyện Trung Tá tỉnh trưởng Phan Văn Khoa "bổ nhiệm" chứ không phải đề nghị bổ nhiệm hay bổ nhiệm tạm thời các chức vụ ở Ty Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế thì đây chỉ là chuyện xé rào, một hành động dẫm chân, lộng quyền chứ không có gì vinh hạnh cả.




Thành thử khi viết lại một tác phẩm đại loại như "Biến Động Miền Trung", tác giả rất cần sự thận trọng, vì đây không phải là chuyện hư cấu mà đây là chuyện thật, có nêu tên riêng của từng nhân vật. Nếu tác giả không có cái nhìn chính xác và khách quan, tác phẩm trở thành chuyện tào lao, cố tình sửa lại lịch sử và phủ nhận sự thật. Viết một tác phẩm lịch sử, càng bớt dùng tĩnh từ trong câu cú và nhận định riêng của mình bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu vì chính điều này làm cho người đọc tin tưởng hơn rằng tác giả không nói dối, hoặc ít nói dối.




Nhưng đáng buồn là trong tác phẩm "Biến Động Miền Trung", tác giả Liên Thành phạm phải rất nhiều lỗi lầm, những lỗi lầm khiến độc giả khó tin vào những điều ông nói ra. Ngay cả thời điểm theo buổi binh nghiệp của ông, cũng không có gì nhất định. Bằng chứng là nếu cứ đối chiếu lời lẽ bất nhất và những so sánh "thời của ông" và những nhân vật mà ông nêu ra, người ta có thể nghĩ tác giả Liên Thành có tới 3 năm sinh: 1940, 1943 và 1946. Nhưng chuyện khôi hài là nếu ông sinh năm 1946 thì khi ông vào học khóa 16 trường Bộ Binh Thủ Đức ông mới có 13 hay 14 tuổi? Mà trường bộ binh hay luật động viên không chấp nhận những "thần đồng" quân sự. Người đọc không đủ kiên nhẫn để tính toán tuổi tác theo kiểu này, nhưng khi một người nào đó nghĩ rằng tác giả không nói thật, ưa thổi phồng và nhất là tác phẩm gây đụng chạm mạnh, sẽ có người bực quá ngồi rị mọ tính toán ra những điều mà trong giây phút cao hứng người viết đã phóng tay thiếu thận trọng khi viết về mình. Giây phút cao hứng như tác giả "Biến Động Miền Trung" rất nguy hiểm vì nó thường phản lại ông. Bình thường, thành tích của một người làm tình báo thật thường được những đương sự giấu nhẹm, nhưng nếu phải viết thì cũng phải nghiên cứu rất kỹ ngay cả lý lịch của mình. Nhiều người nói cuộc đời thật ngắn ngủi, nhưng cá nhân, tôi cho rằng cuộc đời mình dài quá và khi đã ở tuổi từ 65 đến 70 rồi, không có cách nào nhớ hết những biến chuyển đã xảy ra trong đời mình, nhất là trong biến cố 30 tháng 4 năm 1975, sổ sách ghi chép đã thất lạc hay cho vào mồi lửa vì sợ CS tìm ra tung tích mất rồi.




Tôi lấy một thí dụ khác ở trang 350 của "Biến Động Miền Trung" khi tác giả viết:




"Tôi ký lệnh bắt giữ mệ Bửu Thân, các mệ trong hoàng tộc xôn xao: Mệ Liên Thành bắt mệ Bửu Thân rồi, Hoàng tộc can thiệp, nhưng... xin lỗi pháp bất vị thân không thể chiều lòng mấy mệ được."




Tôi là một anh Bắc kỳ rau muống nhưng là rể xứ Huế nên cũng biết sơ sơ tại sao người ta gọi người này, nhân vật nọ trong Hoàng phái là mệ. Nhưng khi đọc đến nhóm chữ "Mệ Liên Thành", tôi đã phải tham khảo những người thân trong gia đình bà nhạc tôi và một số người bạn Huế, vì tôi chỉ nghe nói tác giả Liên Thành là cháu Kỳ Ngoại Hầu Cường Để.




Tôi có một ông bạn thân người Huế, dòng Thân-trọng, anh là người suốt đời rong chơi, ít khi nào để ý đến thời sự, nhưng bạn tôi chứa một bụng những nhân vật tên tuổi lẫn không tên tuổi trong Hoàng phái. Khi tôi hỏi anh là tại sao có người trong Hoàng phái mà tên hiệu lại khác nhau, bạn tôi trả lời sau cái cười khịt khịt: “Tau nói mi nghe, cái xứ Huế của bọn tau nói về các dòng họ nổi tiếng thì có đến một ngàn trang cũng không đủ mà nếu có nói thì khi nghe xong mi cũng tẩu hỏa nhập ma mất. Mi chỉ cần biết như thế này, đó là những người trong Hoàng phái bắt đầu bằng chữ (hiệu) Liên thì không phải là dòng chính. Còn cái ông Liên Thành mà mi nói tau biết từ lúc ông ta chưa làm cảnh sát đặc biệt. Nhưng tình hình ở Huế vào những năm từ 1965 đến sau Tết Mậu Thân 1968 mờ mịt lắm, viết loạng quạng thiên hạ cười cho thúi óc.”




Khi còn ngồi ghế trung học ở Chu Văn An, vị giáo sư dạy sử địa chúng tôi là giáo sư Bùi Đình Tấn cũng đã có lần giải thích về Hoàng tộc từ thời Minh Mạng lên ngôi. Ông bắt chúng tôi ghi và học thuộc bài thơ dưới đây:




Miên hường ưng bửu vĩnh




Bảo quí định long trường




Hiền năng kham kế thuật




Thế thụy quốc gia xương




Hồi đó, học thì chỉ biết học như vậy để có một khái niệm về dòng họ triều Nguyễn. Nhưng khi tác giả Bảo Quốc Kiếm viết cuốn “Huế ơi! Oan nghiệt,” ông giải thích rõ hơn: “...Khi vua Minh Mạng lên ngôi, ông sợ tranh chấp về sau nên đã viết ra một bài Đế hệ cho dòng vua chính, mười bài Thân phiên cho mười anh em khác.” Bài thơ nói trên chính là bài Đế hệ được ghi trong Kim sách, nhưng trong đó vì kỵ húy nên chữ Minh đã được đọc trại đi là Miên, chữ Hồng được đọc trại đi là Hường. Ông Bảo Quốc Kiếm còn cho biết dòng của Hoàng Tử Cảnh thì được ghi trong Ngân sách:




Mỹ duệ tăng cường tráng




Liên huy phát bội hương




Lệnh ghi hàm tốn thuận




Vỹ vọng biểu khôn quan




Một vài người Huế không biết hay không nghiên cứu luật lệ của Vương triều thì cứ thấy Hoàng phái thì gọi bằng Mệ, nhưng hầu hết những người hiểu tôn ti trật tự vương triều đều cho rằng những người không phải là dòng vua chính được ghi trong Đế hệ thì không thể gọi là “Mệ” được. Theo trật tự nói trên thì tác giả Liên Thành là cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để mà Cường Để cũng chỉ là Hoàng thân thôi nên ngay cả cụ thân sinh ra tác giả cũng không thể gọi bằng mệ được. Người ngoài có thể lầm gọi tác giả Liên Thành là Mệ, nhưng tác giả Liên Thành thì không thể nào lầm. Ông tự gọi ông là Mệ cũng không ai cản, nhưng như thế ngay trong Hoàng phái có thể đã cáo buộc ông là phá luật lệ Vương triều dù rằng triều Nguyễn không còn trị vì nữa.




Thật ra, đây cũng chỉ là một sự vi phạm về luân lý, đạo đức Hoàng tộc nhưng một tác giả viết sách liên quan đến những sự kiện lịch sử như tác giả Liên Thành thì thiết tưởng cũng không nên để cho những sai sót như thế xảy ra. Sai sót nhỏ nhưng nó có thể làm thương tổn nghiêm trọng đến niềm tin của độc giả đối với những điều mà tác giả viết trong sách sau này.




Khi muốn mô tả mình là người không bị ảnh hưởng bởi người thân trong việc thi hành luật pháp dù có sự can thiệp của Hoàng tộc. Tác giả Liên Thành nên nhớ rằng Hoàng tộc đông lắm, phải nói rõ Hoàng tộc đứng ra can thiệp ngăn cản luật pháp gồm những ai, chứ không thể tổng quát hóa trong trường hợp này được vì nó bất công đối với những người trong Hoàng phái nhà Nguyễn, tội cho họ chứ?




Khi đọc Biến Động Miền Trung, tôi cứ ngỡ là tác giả chỉ nói tới rối loạn miền Trung, đặc biệt là tại các tỉnh Thừa Thiên-Huế-Đà Nẵng-Quảng Nam từ đầu năm 1966 với các nhân vật nổi tiếng thời bấy giờ là trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I, bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn thị trưởng Đà Nẵng, đại tá Đàm Quang Yêu tư lệnh Biệt Khu Quảng Đà và thiếu tá Tôn Thất Tương phụ tá của đại tá Yêu. Nhưng đọc hết cuốn sách, người đọc chỉ thấy phần lớn tác giả Liên Thành mô tả công việc tình báo của ông và đổ lỗi cho một số nhân vật, một số tu sĩ Phật Giáo là Việt Cộng, rồi ông lại còn liên hệ Biến Động Miền Trung vào với vụ tổng tấn công Tết Mậu Thân ở Huế. Để làm gì? Theo tôi, phải chăng chỉ để ông dễ dàng cáo buộc những người mà ông không thích là Việt Cộng hay tay sai, một lối trút trách nhiệm dễ dãi trong khi chính mình làm lỗi hoặc thiếu trách nhiệm?





cs_0

vc_1

Liên Thành





Quả đúng như vậy, nếu đọc trang 34 của Biến Động Miền Trung người đọc sẽ thấy Liên Thành biểu lộ sự dễ dãi khi cáo buộc người khác:




“Tôi chưng hửng hỏi Trần Văn Rô:




- Chuyện gì vậy?




Rô trả lời:




-Tối hôm qua, mày bắn sập chùa Sư Nữ ở Cầu Lim, gần đàn Nam Giao phải không?




Tôi trả lời:




- Có, tao có gọi pháo binh yểm trợ, vì tụi tao đụng nặng với Việt Cộng, nhưng tụi tao đánh nhau bên kia sông, trong núi, đâu phải bên này. Chuyện này tau vô can. Đoàn biểu tình kéo về Huế.”




Cái cách viết này là viết tiểu thuyết chiến tranh chứ không phải viết lịch sử. Khi tác giả Liên Thành xác nhận gọi pháo binh bắn yểm trợ, và pháo binh bắn sai tọa độ để làm sập chùa Sư Nữ gây ra một cuộc biểu tình phản đối thì dù trực tiếp hay gián tiếp ông cũng can dự vào vụ này chứ sao lại nói là vô can? Mà khi họ đã biểu tình để phản đối thì họ cần phải có lời giải thích của cấp chính quyền có thẩm quyền là ông quận trưởng chứ đâu lại có chuyện giải tán một cách dễ dàng như vậy. Cuộc hành quân có đụng nặng mà tác giả Liên Thành nói là cuộc hành quân nào, trung tá tỉnh trưởng có biết hay không hoặc ông ta có được báo cáo không?




Và khi về đến quận thì tác giả Liên Thành (lúc đó đang là địa phương quân) đã thấy có hai phái đoàn điều tra của Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo và ty cảnh sát có mặt để điều tra. Ông viết:




“Sự việc sáng tỏ. Tôi gọi bắn yểm trợ ở tọa độ 76.... (trục hoành độ) nhưng vì cả pháo đội đang có sòng xì phé đến hồi gay cấn lúc tôi gọi tác xạ, viên thượng sĩ già mắc dịch làm xạ bản tác xạ đang thua bạc hấp tấp viết số 76 thành 70 có tí râu nên trục hoành độ đã rời qua phía Đông đúng 6 cây số, đạn rơi trúng phóc vào chùa sư nữ ở Cầu Lim. Cũng may chỉ sập nóc chùa, các vị sư nữ đêm đó kéo nhau ra giếng ngoài ruộng tắm giặt nên chẳng ai bị thương tích gì, thật hú hồn.”




Tôi không biết các độc giả khác đọc đoạn mô tả này nghĩ gì, nhưng riêng tôi, một người từng có một thời gian dài từng nằm bờ nằm bụi với lính ở vùng hỏa tuyến khá nhiều, nhưng chưa bao giờ tôi chứng kiến pháo binh diện địa trong vùng trách nhiệm đang có hành quân lại dám coi trời bằng vung nhất là ông thượng sĩ làm xạ bản chỉ do mê bài bạc mà ghi cẩu thả trong khi những những hạ sĩ quan làm xạ bản biết rất rõ rằng “sai một ly đi một dặm.” Đoạn văn của tác giả Liên Thành có thể khiến cho người đọc phán ngay: “Vô trách nhiệm như thế thì làm sao mà không thua trận, mất nước.” Tuy nhiên, người đọc căn cứ vào những cái sai nho nhỏ trước đây, nên vẫn có thể tự hỏi: liệu có tin được vào những gì ông Liên Thành viết ra không? Đơn vị pháo binh (pháo đội) ấy là đơn vị nào, sĩ quan pháo đội trưởng là ai mà để cho lính đánh bạc khi trong vùng trách nhiệm đang có hành quân? Ông sĩ quan pháo đội trưởng này có bị kỷ luật không khi vấn đề đã được làm sáng tỏ? Tất cả những câu hỏi vừa kể phải được trả lời rõ ràng: những tắc trách này đã gây hậu quả cho một ngôi chùa đến nỗi gây ra một cuộc biểu tình và khi cuộc biểu tình diễn ra thì dù muốn dù không uy tín của chính quyền địa phương cũng bị sứt mẻ.




Hơn nữa cáo buộc ông thương sĩ làm xạ bản là “mắc dịch” là oan cho ông vì số 70 mà số 0 có tí râu thì có phải là 76 không? Như thế người sĩ quan pháo đội trưởng là người quyết định tác xạ có lỗi chứ đâu phải ông thượng sĩ. Tại sao xạ thủ hay sĩ quan tác xạ không hỏi lại cho chắc ăn.




Chỉ một đoạn ngắn trong cuốn Biến Động Miền Trung cũng đã cho người đọc, nhất là người đọc nào đã từng mặc áo lính, rất nhiều hoài nghi. Thiếu úy Liên Thành chi khu phó đang hành quân bên kia sông mà sao hướng súng tại quay về Cầu Lim. Những ai có đến Huế rồi sẽ phải thấy rằng từ Cầu Lim đến tư dinh tỉnh trưởng Phan Văn Khoa và tòa hành chánh không bao xa chiếu theo đường chim bay và đạn đạo. Chỉ trật một chút đạn có thể dính ngay vào tư dinh tỉnh trưởng hay tòa hành chánh.




Trước đây, tôi đã nhiều lần nói rằng, đừng tưởng viết hồi ký là dễ dàng vì nghĩ rằng mình sống trong hoàn cảnh như thế nào thì viết ra thế. Có gì khó. Nhưng nên biết rằng ngay cả đến các cựu tổng thống Mỹ khi ra khỏi Tòa Bạch Ốc mà cũng có ông đã phải để cả năm sáu năm mới viết xong hồi ký của mình. Đó là họ đã có sẵn cả bộ biên tập để sưu tra, đối chiếu các văn kiện hầu chứng minh những lời họ nói ra là xác tín. Là tổng thống Mỹ mà nói sai một sự kiện nào đó hay nói khác với những tài liệu còn lưu trữ là một tai họa. Vì thế mà một cựu tổng thống Mỹ viết hồi ký vẫn cần phải phỏng vấn nhân chứng còn sống, vẫn cần đến văn khố quốc gia, vẫn cần đến các thư viện và những ghi chú, ghi nhận của các sử gia tại Tòa Bạch Ốc. Tác giả Liên Thành dĩ nhiên không thể có đủ những phương tiện như các ông cựu tổng thống Hoa Kỳ và vấn đề ông đặt ra trong tác phẩm cũng chỉ quan trọng ở mức giới hạn mà thôi. Tuy nhiên, nếu ông dễ dãi trong việc viết hồi ký để cuối cùng hồi ký trở thành tiểu thuyết với nhiều hư cấu, tại họa sẽ đến với những nhân vật được ông nêu tên trong tác phẩm.




(còn tiếp)
Vũ Ánh


Mời nghe nhạc:

 

Tình Ca. Phạm Duy.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
06 Tháng Mười Hai 20187:00 CH(Xem: 137)
Khu tưởng niệm Tố Hữu
03 Tháng Mười Hai 201812:08 CH(Xem: 154)
Việt cộng rất sợ khối đông đảo Phật giáo,
26 Tháng Mười Một 20187:37 SA(Xem: 150)
Cướp nay có đảng có đoàn