DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,868,956

Tiểu Thuyết Vô Đề - Dương Thu Hương (Chương 6,7,8,9,10)

14 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 10990)
Tiểu Thuyết Vô Đề - Dương Thu Hương (Chương 6,7,8,9,10)





Nhà bếp đem cho tôi cơm nắm, xôi nếp với muối lạc. Chắc theo lệnh của vị sư phó. Đào Tiễn theo chúng tôi đi tới nửa cây số, ông ta nắm chặt tay tôi, mắt ươn ướt:
- Đồng chí nói chuyện với vợ tôi... và...
- Xin đồng chí yên tâm.
- Thôi lên đường bình an nhá.
Rồi ông ta quay lưng đi, cái đầu chúi về phía trước, điệu bộ cung cúc của những kẻ tận tụy bẩm sinh. Chờ ông ta đi một đoạn, tôi bảo Biền:
- Đi thôi.
Hai chúng tôi lặng lẽ đi, đi mãi cho tới khi khuất hẳn những trái đồi trơ trụi, những mái lán cheo leo với những hàng cỏ gai lưa thưa đâm lên chân trời. Rồi chúng tôi qua những mảnh nương hẹp của dân trong vùng, trồng toàn một thứ sắn còi cọc, thân cây bé bằng chiếc đũa. Non một giờ sau, chúng tôi đến một cánh rừng. Yên trí không còn cặp mắt thứ ba nào nữa, tôi cởi trói cho Biền. Lằn dây dù thắt thành vệt tím bầm trên cổ tay. Tôi ôm nó, nước mắt chảy dài trên má.
Có lẽ lâu lắm rồi tôi mới lại khóc... từ ngày mẹ tôi khuất núi: “Bãi tha ma làng ngổn ngang những lỗ huyệt cũ và mới, những mảnh ván thối mục, những đám gai cào cào ma, gai trinh nữ... Tôi ngồi rúc trong bụi chuối cổ thụ cuối nghĩa điạ ôm đầu khóc. Họ hàng thân quyến không tìm được tôi . Bận mọi việc tang ma bối rối, mọi người bỏ mặc tôi ra về. Tôi đã khóc. Khóc một lần cho tuổi thơ côi cút. Khóc một lần cho người đàn bà tôi yêu hơn cả thế gian. Tôi khóc no, từ lúc mặt trời ngang đỉnh núi cho tới khi lửa ma trơi lập lòe khắp nghĩa địa, lơ lửng trên các ngọn dứa dại và gai cào cào ma... Bấy giờ tôi mới mò về làng. Năm đó tôi lên tám.
Hai mươi năm qua, giờ tôi mới lại khóc. Nước mắt Biền nhỏ ướt nóng vai tôi. Nó cũng cố nuốt đi tiếng nức nở. Hai chúng tôi âm thầm khóc như thế giờ lâu... Rồi tôi bảo:
- Ngồi xuống đây.
Chúng tôi ngồi bệt xuống rừng trải đầy những lá mục lẫn loài dương xỉ lăn tăn như vảy ốc. Những vệt nước mắt chảy dài trên má Biền đục ngầu bụi đỏ.
Tôi hỏi:
- Giờ mày định sao?
Biền lặng im. Tôi nói tiếp:
- Mày biết vì sao tao mò được tới đây không?... ông Lương ra lệnh đấy.
Biền chau mày:
- Chắc ông Hào hay ông Liệt nói chuyện.
Tôi hỏi lại:
- Giờ định sao?
Biền cúi đầu lau nước mắt vào ống tay áo. Tôi bảo:
- Hay mày về làng mà cưới vợ. Con Vinh chèo chắc chẳng đợi đâu nhưng thiếu gì con gái trẻ. Đàn bà thời chiến, cưới một lúc ba đứa cũng không sao.
Biền lắc đầu. Tôi khuyến khích:
- Tao sẽ lo cho mày giấy chứng thực tình trạng tinh thần không ổn định, cần giải ngũ.
Biền lại lắc đầu. Tôi phân giải:
- Hay mày sợ người ta chê cười?... Về mặt chính trị, chỉ mấy thằng đào ngũ mới nhục. Còn mày, đau ốm, bệnh hoạn, nếu không coi là vinh thì cũng bình thường. Đứa nào lấy mày, nó khắc dần dà hiểu rõ. Lúc ấy, chỉ lo nó sẽ ôm khư khư lấy mày như giữ hũ vàng ròng.
Biền nói:
- Tao chịu thôi.
Tôi gắt:
- Chịu cái gì?
Biền ấp úng:
- Về làng bây giờ... không biết nói năng ra sao... không biết...
Nó cúi mặt xuống, một đường gân đỏ chạy rần rần từ sơn căn lan sang bên trán và thái dương. Nhìn gần mới thấy da nó không còn tươi rói như xưa, lấm tấm những lỗ chân lông đen, những vết sẹo gai cào và sẹo trứng cá. Dưới mi mắt, thịt đã hơi chảy.
Tôi bảo:
- Nói năng gì? Cứ cày sâu cuốc bẫm mà sống, cần gì phải nói?
Biền đáp:
- Nhưng mà... tao nghĩ mãi rồi... không thể được...
Tôi lặng im. Tôi hiểu. Con gà chết tức vì tiếng gáy.
Cùng một lượt ra đi, nay Lương đã ngấp nghểnh cán bộ quân đoàn, đeo hàng cấp tá. Ngang ngược chày bửa như tôi cũng được phong hàm đại úy từ ba năm nay. Chỉ nó vẫn là thượng sĩ... Lại thêm cái án tâm thần. Nó không thể bỏ cuộc về làng, chí ít cũng để tránh điều tiếng. Và... sau nữa... lẩn lút trong những thèm khát của nó... Tôi biết chắc rằng ở đâu đó sâu kín nhất trong tâm hồn ngây dại của gã trai quê, sừng sững một khải-hoàn-môn mộng tưởng... Nó chẳng thể bỏ cuộc . Thà nó rúc ở xó xỉnh nào đó, không ai biết tới trên mặt trận mênh mông trùng điệp này... Nó chờ đợi ngày chiến thắng, khi bước chân rầm rập của đoàn quân bước qua khải-hoàn-môn... Tới lúc ấy, nó lẻn bước theo. Hoặc giả, nó sẽ trở về làng, mượn ánh sáng của thắng lợi để trang hoàng cho cái lịch sử nhỏ mọn và buồn tẻ của bản thân.
Tôi bảo:
- Thôi được, tao sẽ gửi mày sang đơn vị thằng Húc. Một đơn vị đặc nhiệm có kí hiệu M.035.
Biền ngẩng lên:
- Đặc nhiệm à?... Nhiệm vụ gì đây?
- Chính tao cũng chưa rõ. Chỉ nghe nói thôi. Nhưng thằng Húc, đại đội trưởng là chỗ quen biết từ lâu... Giờ, tao đưa mày lên F. Rồi từ đó làm thủ tục...
Biền nói:
- Thế thì tao yên tâm... Cơm đâu mày, lấy ra ăn không tao đói.
Tôi bỏ túi thực phẩm, nhìn nó xăm xắm ăn... Tôi thương tiếc gã má hồng môi đỏ ngày xưa, đã từng gánh trăm gánh lúa mỗi ngày, đã từng gác chân lên chân tôi để ước ao chuyện tình ái giữa các thần linh, với tâm hồn trong trắng và hùng vĩ...
Khi tôi đặt chân lên đồng bằng tỉnh Thanh, trời bỗng đổ mưa rào. Bốn phương trắng xóa. Có lẽ đó là nước mắt nhớ thương của mẹ tôi dưới mồ đã hiển hiện về. Những người qua đường ngạc nhiên thấy tôi đi lừng lững dưới mưa, không áo, không mũ. Thân thể và tâm hồn tôi đầm nước.
Lính tráng bao giờ cũng thêu dệt trong tưởng tượng mọi cảnh mặn nồng về ngày trở lại. Quê hương, tóm gọn trong hai từ ấy là tất cả những gì anh đã từng hít thở, từng ôm ấp, từng thờ phụng. Nhưng tôi không còn tình cảm ấy. Mẹ tôi chết từ lâu. Cha tôi, với tôi luôn luôn là người xa lạ.
Tôi nhớ không nguôi ngày xách bọc áo quần đưa mẹ lên chùa đẻ. Cơn đau quằn quại khiến mẹ tôi gục mặt xuống đất đầu tóc lấm lem bụi cát và cỏ khô, mồ hôi ướt đẫm tấm lưng, cái bụng nở phồng như bụng ếch nhô lên dưới vạt áo vỏ dà...
Trong những lời kêu la, có lần mẹ thét: “ối anh ơi, anh ở đâu mà để mẹ con tôi khổ sở thế này... Anh ơi i i..." Tôi biết mẹ gọi tên một người đàn ông nào đó. Người ấy là cha tôi .Từ hôm ấy, tâm hồn non dại của đứa bé lên năm ngóng chờ. Ngóng chờ, một chút tò mò xen lẫn chút tự hào, xen lẫn chút ganh tị. Cái người tôi gọi là cha ấy chắc được mẹ yêu hơn cả tôi...
Tuy thế, mỗi khi bọn trẻ hàng xóm hoạnh hoẹ, tôi thường giơ ngón tay cái lên: “Sư nhà mày, cứ chờ đấy nhá... bố ông về rồi biết tay… Vỗ lộp độp lên ngang hông, tôi bảo: “Bố tao đeo súng lục ở đây này này... Rút ra bắn: “pằng pằng” sáu viên liền, chết từ ông bà mày đến anh chút chi chít của mày nữa...” Thằng Quang em tôi mới đầy tuổi, bám đít tôi nghe thế cũng bập bẹ: “pằm pằm” theo.
Em Quang tôi được một tuổi rưỡi thì hòa bình. Làng tôi ở, thuộc vùng tự do nên các đêm vui được tố chức liên miên. Những đoàn người nắm tay nhau mê man nhảy múa bên đống lửa:
"Thắm thiết tình Việt-Trung-Sô.
Đế quốc nghe một nỗi lo Lo vì tình người lao động... "
Rồi một tối nhá nhem, người đàn ông tôi mong đợi đã về: Một chú bộ đội vác ba-lô, đội mũ bọc vải, người nồng nặc mùi thuốc lào và mồ hôi. Mẹ kêu lên, chạy vào buồng ôm mặt khóc. Chú bộ đội chạy vào theo:
- Mình nín đi, mình...
Hai anh em tôi nắm chặt tay nhau, đứng ngơ ngẩn ở ngưỡng cửa. Lát sau, mẹ vùng chạy ra:
- Quân ơi, Quân... bế em vào chào bố...
Mẹ thắp đèn. Chú bộ đội tay bế thằng Quang, tay níu vai tôi:
- Ra đây với bố...
Mùi mồ hôi và thuốc lào lạ hoắc. Tôi dằng khỏi tay ông. Ông nhìn tôi cười:
- Lạ hả?... Bố bận đi đánh giặc. Lại đây rồi bố con mình làm quen nhau...
Lúc ấy, vẻ mặt ông dễ chịu.
Tối, nhà tôi chật khách. Mẹ tôi nấu ba ấm chè xanh, bày năm bảy kẹo lạc. Anh bộ đội đã trở về. Tiếng cười râm ran từ tối đến nửa đêm. Hai anh em tôi ngủ rồi, khách còn ngồi chuyện dòn như pháo...
Ba bốn hôm sau mẹ tôi lại khóc. Nhưng không khóc vì sung sướng. Lúc ấy đã xế chiều. Hai người ngồi đối mặt nhau qua chiếc bàn kê giữa đôi tràng kỷ trúc. Mặt bố tôi hầm hầm, ông cầm chiếc bật lửa gõ cành cạch xuống bàn.
Mẹ tôi vừa quệt nước mắt lã chã rơi, vừa nói:
- Đường xa như thế, bọn lính bên tề đi vơ vẩn luôn, tôi mới nhờ chú ấy đưa một đoạn...
Bố tôi đập cái bật lửa xuống:
- Thôi đi i Mẹ tôi òa nức nở:
- Khốn khổ thân tôi thế này...
Thằng Quang nằm trong lòng mẹ bỗng thức giấc nhỏm dậy. Mẹ tôi vừa lau nước mắt vừa dỗ dành nó. Trong lúc cặp mày bố tôi chau lại thành vết đen trên tinh mũi, hai mép ông rung rung, tôi len lén bước lại gần mẹ nắm vạt áo. Mẹ ghì đầu tôi vào lòng, hôn hít, nước mắt mẹ rơi đầy mặt tôi:
- Quân ơi, mẹ con mình khốn khổ chưa?... Lúc đói khát, lúc qua sông vượt cạn chỉ thui thủi một mẹ một con, đồng xu dính túi không có... Nay tưởng tới lúc yên lành thì sự lại sinh.
Tôi không biết nói gì. Tôi vuốt ve hai bên má ướt đẫm của mẹ. Bố tôi hầm hầm bước ra sân. Tôi nhìn theo ông, vụt tan biến chút cảm tình cỏn con vừa nhen nhúm. Lúc ấy, với tôi, ông là một gã khổng lồ độc ác, một lực lượng hùng vĩ nhưng chỉ đáng để căm thù.
Những cuộc cãi vã ngày một nhiều hơn. Mẹ tôi khóc nhiều hơn. Dần dà, mẹ không nức nở mà chỉ ngồi lặng thinh, nước mắt âm thầm chảy. Tôi đã nhiều lần thấy dòng lệ câm lặng khi mẹ ngồi cời lửa, khi mẹ ngồi sàng gạo, khi mẹ nhổ cỏ vườn. Mắt mẹ thờ thẫn nhìn đâu đó... Trái tim nhỏ của tôi run lên. Nhưng tôi bất lực. Dẫu sao tôi cũng chỉ là một thằng bé con chưa tròn bảy tuổi.
Qua năm sau, mẹ tôi mất sau trận cảm hàn. Người ta bảo tại mẹ tôi tham việc quá. Nhưng tôi không chiụ tin điều đó. Trong trí nhớ nguyên vẹn của tôi, có một người đàn bà xinh đẹp mặn mà, tiếng cười lanh lảnh. Một người đàn bà trong bất kỳ cơn khốn cùng nào cũng giữ được gương mặt nhẫn nại, tươi rói. Người ấy yêu thương chúng tôi không mệt mỏi. Người ấy cho chúng tôi sinh lực nồng ấm không mệt mỏi. Càng cho lại càng đầy...
Người ấy đã chết, đã bắt đầu sự chết khi hai vệt lông mày của bố tôi nhíu trên tinh mũi, khi cái bật lửa có bánh xe khoá của ông gõ cành cạch xuống bàn. Sự chết được hoàn tất sau mười tám tháng não nề, dài dặc, cuộc hành trình qua những dòng nước mắt.
Từ ngày mẹ tôi chết, bố tôi sống như cái bóng. ông nuôi hai chúng tôi, chăm sóc vừa phải như mọi người bố nhưng ơ hờ. Có lẽ ông cảm thấy giữa ông và tôi, đứa con trai lớn, có mơ hồ một bóng đen thù hận. Tôi không cãi ông, không trái lời ông nhưng không khi nào nhìn vào mắt ông.
Ba năm sau ông lấy vợ, một cô gái già ba mươi tư tuổi, người đòn đòn như con cá rô đực. Hình như họ chẳng yêu đương nhau cho lắm. Được năm năm, không có con chung, dì ghẻ tôi bỏ lên thành phố buôn chuyến. Năm ấy tôi mười sáu .
Người làng kể cho tôi nghe chuyện cũ: Bố tôi cả ghen nên mất trí.
Hồi em Quang tôi bảy tháng, mẹ tôi không biết vay ai gạo mà sống nên đành gửi con cho hàng xóm, liều mạng vượt vào vùng tề tìm ông bà ngoại. Đường xa nguy hiểm, bọn cướp thì ít nhưng tụi lính đểu thì nhiều. Mẹ tôi nhờ chú Quyến đi theo. Chú Quyến ở cuối làng, mồ côi, nghèo rớt mồng tơi nhưng được cái sáng dạ và biết chơi tay thước. Chú đưa mẹ tôi tới giáp Rãnh rồi quay lại. Chuyến ấy mẹ tôi được ông bà ngoại trợ cấp kha khá tiền. Về làng, mẹ đãi chú Quyến ba gánh thóc... "Đàn bà, một nách hai con, đứa ấp đứa bú, cấy cày không được, những lo ăn lo mặc đã quắt cả gan, còn hơi sức đâu mà đú đởn... Chẳng qua vì lão Hán, anh họ bố mày vay thóc không được nên đặt điều phá chơi..." Chuyện kể thủng thẳng như mái tranh ngày mưa nhỏ giọt. Sau này, tôi nghiệm rằng mọi tội ác và sự đểu giả của con người đều diễn ra một cách bình thản, đủng đỉnh như mưa nhỏ từ mái tranh...
Năm tôi mười tám tròn, nhập ngũ, bố tôi bảo: "Trước khi đi, mày có ra đồng thắp hương cho mẹ hay không?" Tôi chợt bùng cơn uất đáp: “Không!” Mặt bố tôi tái xám. ông cười gằn, lẳng lặng cầm cây cuốc mỏng ra nạo cỏ vườn. Tôi nhìn cái lưng gù gù của ông, tự hỏi: “không hiểu cơn gió nào đã đẩy mẹ tôi vào tay ông, để đến nông nỗi tủi hờn như thế . Mẹ tôi vốn gốc dân Hà nội. Ông ngoại tôi dạy tiểu học. Bà ngoại là thợ thêu. Hai anh em tôi giống bố một cách khốn khổ. Đến nỗi thấy thằng con trai nào giống mẹ là tôi lại thèm.
Đêm hôm ấy, tôi mua hương hoa ra bãi tha ma làng. Nghĩa địa lập lòe lửa ma trơi. Gió thổi những đóm lửa ma phiêu diêu, lúc tung bông lưng trời, lúc là là trên cỏ. Tôi đặt hoa rồi cắm hương trước mộ. Cả nắm hương cháy đỏ như than trong lò. Tôi nhìn những ngọn cỏ leo phơ phất trong ánh lửa tím hồng, mơ tưởng thêm một lần úp mặt vào mái tóc nồng mùi hương như lá xả...
Khi tôi ra về, một bóng đen lù lù làm tôi giật thốt! Bố tôi đứng cách tôi vài bước chân, núp sau bụi dứa hoang. Tôi không nói gì cả. Ông cũng lặng im. Cho đến tận sáng hôm sau, khi tiếng trống làm náo loạn làng xóm...
Tôi đến làng lúc trời nhá nhem. Kéo sụp mũ xuống trán, tôi đi thẳng về nhà, cầu trời khấn phật đừng gặp ai. Tôi đang đau bụng muốn chết! May thay, đường làng vắng teo. Lũ trẻ đã dong trâu về chuồng và mọi nhà đang xáo xác chuẩn bị bữa cơm tối. Nhà tôi tối om. Bố tôi chưa thắp đèn.
Đặt ba-lô xuống gốc cau, tôi chạy thẳng ra cầu tiêu ở ngoài vườn. Lối đi vẫn như cũ. Cây cối vẫn như cũ. Tôi bước lên mấy cái bậc cầu tiêu, thoáng có cảm giác như mình vẫn còn là thằng bé mười năm trước. Lát sau, xong xuôi, tôi vào giếng múc nước rửa. Trong nhà, có tiếng bố tôi quát vọng ra:
- Con nhà Si tắm phải không?
Tôi im lặng, tiếp tục thả gầu xuống. Tiếng gầu xúc nước lõm tõm vọng lên. Bố tôi làu bàu:
- Đúng là đồ giặc cái ! Cứ ầm ầm như thế thì đến lở cả giếng nhà người ta ra...
Nghe giọng nói, tôi biết bố tôi đã yếu đi nhiều. Ngày xưa, ông không làu bàu như thế. Có thể, thay vì mắng chửi, ông sẽ lẳng lặng đi ra bợp cho con bé hàng xóm một cú long óc .
Rửa mặt xong, tôi lại gốc cau lấy ba-lô rồi vào nhà. Bố tôi đang ăn cơm, không đèn không lứa. Tôi hỏi:
- Bố ăn cơm à?
Ông quay ra, ngưng một phút rồi hỏi:
- Quân phải không? Mày mới về?...
- Vâng, con vừa về.
Giọng tôi vang khắp mấy gian nhà. Tôi hỏi thêm:
- Sao bố không thắp đèn lên?
- Có mấy con nhộng với bát canh, thắp đèn làm gì cho muỗi?
Tôi ngồi xuống phản. Bóng tối ngập tràn mắt tôi. Một gợn sóng chua cay trong tim trào lên. ông ấy là bố tôi. Hồi mẹ tôi còn sống, kinh tế gia đình một tay mẹ nắm: Phần nhà ngoại viện trợ, phần mẹ xoay sở vừa làm vườn, vừa làm ruộng, vừa chung vốn đi buôn với mấy người bạn gái...
Từ ngày mẹ tôi mất, cảnh nhà lụn bại dần. Bố tôi không phải là loại người có đầu óc. Cả đời, ông ấy chỉ cày khi bốn nhà xung quanh rủ ông cày, chỉ giồng khoai tây khi cả làng đã giồng khoai tây... Đi theo voi, hít được bã mía. Thứ nhẫn nại của đám người như thế, không mấy hơn sự nhẫn nại của con bò... Nhưng ông ấy là bố tôi...
- Bố buồn cười nhỉ! Sống dầu đèn, chết kèn trống...
Tôi gắt. Bố tôi ngồi lặng thinh lúc lâu, rồi đáp:
- Nhà hết dầu mấy hôm rồi. Tao chưa được lĩnh lương hưu.
A... Tôi sực nhớ món tiền còm trả cho anh cán bộ thời kháng Pháp. Tôi hỏi:
- Lương bố bây giờ được bao nhiêu?
- Cũng đủ mua được sáu lít dầu.
- Thôi, bố ăn cơm xong, con sang bên bác Hưởng mượn cây đèn.
Tôi chải lại dầu, bước qua hàng dậu sang nhà Lương. Nhà anh đang ăn cơm, sáu bảy người xúm xít quanh mâm, trên đầu treo cây đèn ba dây bóng thủy tinh lau muội trong suốt ánh sáng ấm, khác hẳn thứ ánh sáng của đèn nê-ông ngoài thành phố.
Bác Hưởng trai thấy tôi, tíu tít sai con cháu lấy thêm bát đũa, rót rượu. Bác gái xăng xở chạy quanh nói nói cười cười . Tôi phải trình bày kỹ lưỡng là tôi đã bị ép mua mấy quả trứng thiu trên ô-tô thế nào, bị đau bụng ra sao... hai ông bà mới chiụ ngồi im. Cả nhà mắt sáng rực hau háu nhìn vào miệng tôi, chờ đợi. Lương là con trưởng, được cả bố mẹ lẫn các em kính nể. Mặc dầu vắng mặt, anh vẫn là linh hồn của gia đình họ Lê.
Tôi bắt đầu kể về Lương... Lúc ấy, lục tục bên hàng xóm có người kéo sang. Rồi người nọ gọi người kia, chỉ mươi phút sau, cả làng đã tụ tập đông đủ. Bố tôi cũng sang, ông ngồi ngoài thềm với mẹ con chị Si. Bác Hưởng sai đốt thêm hai cây đèn nữa. Cả trong nhà lẫn ngoài sân sáng choang. Tôi đứng giữa vòng vây, lần lượt trả lời câu hỏi của mọi người.
Từ mặt trận bên Đông sang mặt trận bên Tây. Từ chiến trường A qua chiến trường B, chiến trường C, chiến trường mang mật danh X... Chuyện tôi biết, chuyện tôi nghe kể, chuyện tôi mường tượng ra. Mặt trận mênh mông trải trên còi đất, số phận con người cũng mênh mông trong các bước thăng trầm... Ở làng này, lính tráng rải khắp nơi, chẳng nơi não thiếu mặt.
Mười hai giờ rưỡi đêm, khách khứa mới chịu về hết.
Một mình tôi ngồi với bác Hưởng giữa sân. Bác Hưởng bảo:
- Bố mày dạo này lẩn thẩn rồi... Không chiụ làm ăn gì cả suốt ngày ngồi nhìn ngọn cau, không thì lại ra bãi tha ma.
Tôi nói:
- Sao bỗng dưng ông cụ dở chứng ra như vậy?... Năm ngoái, thằng Quang viết thư cho cháu báo tin ông cụ vẫn cày cấy bình thường.
Bác Hưởng sửng sốt nhìn tôi. Trí não tôi chợt tê buốt. Ông già cúi xuống, lấy thanh đóm gạt mãi chiếc nõ điếu. Tôi im lặng chờ đợi. Cuối cùng, ông nói:
- Có nhẽ ở mặt trận cháu không biết. Em cháu đã có giấy báo tử rồi... Giấy báo tử đến xã hồi tháng năm...
"Thế là hết!..." Tôi cười nhạt. Rồi tôi đứng lên:
- Bác cho cháu mượn cây đèn.
Tôi xách cây đèn ra về. Ông già bước theo đến bờ dậu:
- Mai bác sang.
Tôi đáp:
- Vâng.
Vào nhà, tôi đặt cây dèn lên bàn thờ. Rồi, tôi bó gối ngồi nhìn đăm đăm cái đốm lửa vàng vui vẻ kia như một kẻ mất trí. “Thế là hết... hết hẳn..." Trí não tôi lặp lại. Một tiếng vang âm u như tiếng vang trong hậu cung chùa. Tôi chợt nhận thấy hai tay tôi run lên. Rồi cả hai cánh tay, hai chân. Sau cùng, toàn thân tôi run bần bật như đang bị hành hạ bởi con sốt ác tính. Tiếng thét rợn hồn trong cơn sinh nở của mẹ vụt xé trong tôi. Cái chậu sành sóng sánh nước. Bàn chân đỏ hỏn của đứa em trai quẫy đạp... Quẫy đạp… Nó mất công quẫy đạp như thế để làm gì?... Cuối cùng, cái chết đã nhặt nó đi, như nhặt mảnh giẻ rách vương trên nẻo đường lắm bụi...
- Pho pho pho... Phi pho, phi pho...
Bố tôi bắt dầu cất tiếng ngáy. Cằm ông trễ xuống, râu đã bạc, ánh đèn chấm một vệt bóng trên chóp mũi.
- Phi pho, phi pho pho...
Giờ thì ông ngáy vang như sấm. Chỗ xương vai nhô lên thụt xuống đều đều theo nhịp thở. Gương mặt ông lấp trong bóng tối. Giấc ngủ an nhiên. Ngọn lửa vàng nhảy nhót không ngừng, đùa dỡn, xoay bồng bềnh làn ánh sáng ấm áp trong không gian quạnh hiu của mấy gian nhà, cái bàn thờ rộng rỉnh, phủ bụi, lờ mờ bóng mấy cây giá nến đồng với cái đỉnh đen ám khói, một nhành hoa giấy trong cái cốc, bẩn thỉu vì muội lửa và vì dán gặm... Tôi nhìn không rời ngọn lửa đèn... ngọn đèn mượn nhà người khác...
- Phi pho... phi pho pho... .
Tiếng ngáy đổ hồi. Toàn thân tôi vẫn run lên, không ngừng run lên trong cơn bức xúc. Chưa bao giờ tôi run đến như vậy. Lính tráng lẫn các cấp chỉ huy gọi tôi là "Quân lý".
Anh em nửa sợ nửa khoái. Cấp trên nửa gờm nửa ghét. Hiểm nguy, đói khát, máu chảy... tất cả đã no nê đến tận cùng...
Chưa bao giờ tôi run như thế. Tôi kinh hoảng vì thấy như cơ thể tôi sắp chồm lên - như con hổ vồ mồi, sắp nhào xuống - như con rái cá vọt xuống nước, sắp làm điều gì đó... mà tôi cũng không thể biết... Tôi không nhìn ngọn đèn mà cúi nhìn xuống chân tay mình, kinh hoảng vì chúng tựa như tay chân ai đó, không kiểm soát được...
- Phi pho... phi pho pho...
Tiếng ngáy lại dội lên lần nữa... Lần này, cây kim trên cán cân đã lệch sang bên phải. Tôi chồm đến phản:
- Bố. . .
Ông cụ ú ớ. Tôi đập vào vai bố tôi, gọi dồn dập:
- Bố dậy... bố dậy ngay...
Tôi không hiểu vì sao tôi làm như vậy. Nhưng nếu không làm như vậy, chắc tôi sẽ điên. Hoặc tôi sẽ cởi trần truồng cắm cổ chạy ra cánh đồng, hoặc tôi sẽ vác dao chặt hết hàng cau trước nhà, hoặc tôi sẽ đạp đổ bức thành để lấp giếng. Có lẽ đó là sự lựa chọn theo bản năng:
- Bố ngồi dậy cho con hỏi...
Ông cụ ngồi dậy, đưa tay dụi mắt. Mắt ông đỏ kè. Bố tôi thuộc loại người u mê trong giấc ngủ. Những ông già khác không như thế. Họ thường ít ngủ, tỉnh táo, dường như trong chặng cuối, năng lượng sống của họ dồn tụ lại các giác quan. Họ muốn thâu nhận mọi tín hiệu của cuộc đời trước khi từ giã nó...
Bố tôi ngáp liền bốn năm cái, rồi bảo:
- Đưa tao cái điếu cày.
Tôi đem chiếc điếu lại cho ông. Bố tôi rít một hơi thuốc dài, rồi hỏi:
- Chuyện gì thế ?
Tôi nhìn mặt ông. Nó như bức tường, không phản chiếu điều gì. Một vẻ cù lì thâm căn cố đế. Chân tay tôi vẫn run bần bật. Phải tự chế ngự lắm tôi mới giữ được một giọng nói bình thường:
- Giấy báo tử của em con đâu?
Ông cụ ngồi im vài giây. Rồi bố tôi đứng lên, đi đến bàn thờ, rút dưới chân cây giá nến đồng bên trái một chiếc phong bì mang lại cho tôi.
- Đây !
Chiếc phong bì nhẹ bỗng trên tay tôi. Loại phong bì cẩu thả gập bằng giấy xấu, hồ dán lem nhem ngoại mép, sờ nham nháp vì bụi.
Bố tôi lại ngồi xuống phản, vớ cây điếu.
Tôi bảo:
- Bố hút như thế đủ rồi... cho con hỏi chuyện đã.
Ông cụ ném thanh đóm xuống phản:
- Hỏi gì thì hỏi đi.
Tôi thấy ruột đau căn cắt... Tôi hỏi:
- Sao bố lại bình thản như thế?
Bố tôi cau mày hỏi lại tôi:
- Thế mày bảo tao phải như thế nào?...
Tôi im lặng. Có lẽ ông cụ không bao giờ hiểu điều tôi muốn nói. Chúng tôi mãi mãi là những kẻ xa lạ với nhau. Như hai mảnh dầm trong hai cánh đồng, không đòng mương, con lạch nào nối lại. Quang đã chết. Sợi dây liên lạc cuối cùng giữa chúng tôi đã đứt...
Tôi nói:
- Con nghĩ, bố phải hiểu vì sao thằng Quang vào bộ đội?
- Thế mày?... mày vào bộ đội vì cái gì?
- Con làm nhiệm vụ với đất nước.
Bố tôi cau có:
- Dễ thằng Quang nó không nghĩ được như mày?
Tôi nói:
- Gia đình ta chưa có ai góp phần xương máu trong chiến tranh chống Mỹ. Con là đứa con lớn, con phải đi... Nhưng thằng Quang lại khác. Nó học toán giỏi thứ nhì trong tỉnh và vẫn ước ao theo nghề điện toán... Dạo ấy, con đã viết thư về...
Bố tôi cắm cảu:
- Thư từ gì, tao không biết.
- Bố có biết nhưng giờ bố không chịu nhận.
- Mày vu vạ cho tao hả?....
- Không. Con đã nhận thư thằng Quang. Nó viết rằng nó muốn đi học điện toán nhưng bố động viên nó đi bộ đội. Bố bảo:” Thời chiến, chỉ đi bộ đội mới có tương lai...” Họp chi bộ, bố xung phong ghi tên động viên một trăm phần trăm con cái lên đường làm nghĩa vụ quân sự. Lúc nhận thư nó, con đang ở Tà chống.
Bố tôi cắm mặt xuống nhìn cái nõ cày. Tôi nói tiếp:
- Con đã viết thư về ngay cho em Quang... Nhưng chắc đường giao liên tắt... Nó đã lên đường...
Bố tôi vẫn đăm đăm nhìn cái nõ cày, bàn tay trái lần sờ thanh đóm. Tôi nói thêm:
- Không ai có được trí nhớ ghê gớm như nó... Nếu không, nó có thể trở thành một người...
Bỗng dưng, tôi không thể nói được nữa. Phần vì tôi nghẹn ngào, phần khác tôi bỗng hiểu nói với bố tôi là việc vô nghĩa... Tôi bỏ dở câu chuyện, đi ra sân.
Dãy cau giăng hàng đứng trong đêm như những chiếc bóng thân ái, u sầu. Tôi ngồi xuống thềm đá... “Em ơi...” Hình dung lại cái bóng nhỏ lũn cũn của nó ngày thơ ấu, những ngày cơ cực, nó đeo lấy cổ tôi như một con ếch và chúng tôi lẵng nhẵng tha lôi nhau từ vệ đường, gốc ổi cho tới sân đình. Tại sao nó lại tuân thủ người cha cộc cằn thiểu trí như cha tôi?... Cái thằng bé ngay từ phút chào đời đã quẫy đạp dữ dội khiến nước trong chiếc chậu sành bắn tung tóe?... Thế là hết... Tất cả đã quá muộn." Bức thư rủi ro của tôi nằm mắc ở chặng đường nào đó khi gặp cơn mưa lũ, hoặc bi vứt bỏ ở một binh trạm vô danh khi người giao liên hy sinh. Đã quá muộn, cái ước mong khôi phục lại sự hưng thịnh của gia đình, dòng giống. Em trai tôi thông minh, nó có thể trở thành một con người xứng đáng trong xã hội an bình... Tất cả đã được quyết định vào một khoảnh khắc, khi người cha giơ cánh tay lên trong cuộc họp chi bộ: "Tôi xin xung phong động viên một trăm phần trăm con cái lên đường...” Toàn bộ gia sản ký cược vào canh bạc binh đao!
Hóa ra, con người dù đầu óc tối tăm đến đâu cũng không chịu từ bỏ dục vọng. Bố tôi muốn xí phần vinh quang trong bữa tiệc chiến thắng ngày mai...
Gà gáy canh một. Con gà trống siêng năng nào từ xóm trại gáy vọng vào. Sau đó, gà trong làng nhất loạt hòa tấu theo. Một ngôi sao xanh lợt nhấp nháy làm tóa ra những tia sáng màu mạ non. Tôi nhớ mẹ điên cuồng. Hàng cau làm tôi nhớ mẹ diên cuồng. Những chiều lãng đãng, hoa cau cải xuống thềm, mẹ tắm cho tôi trong chiếc chậu đồng sóng sánh thứ nước thơm hương bưởi. Nếu mẹ tôi còn, cuộc đời sẽ khác.
Một khi tôi đã đi bộ đội, Quang sẽ ở nhà.
Với người mẹ, không có thứ vinh quang nào sánh bằng sự tồn tại của đứa con, không có thứ giáo lý nào cao cả bằng việc làm cho con hạnh phúc. Nhưng ở làng này, quyền uy thuộc người cha. "Thời chiến, đi bộ đội có tương lai hơn cả..." Bố tôi đã kết luận!
- Cúc cù cu cu cu … Gà gáy canh hai. Lần này, từ xóm tôi lan ra khắp làng.
Ngôi sao màu lá mạ đã biến khỏi chân trời, thay vào đó là làn khói nhè nhẹ bay vì cơn gió xua đuối. Hàng cau khẽ rì rầm xoa dịu nỗi đau của tôi và làm mờ cái ý định vừa nảy sinh: “Dù định tự hủy hoại thân mình..” Có lẽ, sẽ còn một cái gì đây... Tôi cô độc. Nhưng tôi mong muốn tôi sẽ tìm được một cái gì đấy, sau những mất mát...
Sáng hôm sau, bà Nhàn mang đến một thúng quà: Nào xôi nào chuối, nào bánh gai, bánh cốm. Tôi vừa ngủ được một giờ đồng hồ, bố tôi đã đánh thức dậy:
- Dậy, bà Nhàn sang kia kìa... Đội cả thúng gạo chắc...
Mắt tôi cay xè. Bà Nhàn đon đả từ ngoài sân:
- Anh Quân đã dậy chưa đấy?... Tôi quấy quả đây...
Tôi thèm ngủ nhưng phải ngồi dậy tiếp khách. Tôi nói:
- Bác Nhàn đem lễ sang ăn hỏi chắc? Tiếc là cháu không phải con gái đồng trinh!
Bà Nhàn cười tít:
- Có đáng gì đâu?... Xôi chuối để anh ăn sáng. Còn bánh cốm bánh gai, nhân thể tôi đặt cưới con Thoa. Sáng ngày kia, mời cả bố con sang dự.
Tôi sửng sốt:
- Con Thoa mà lấy chồng!?
- Nó mười tám rồi còn gì?... A, mười tám tuổi ta, mười bảy tuổi tây. Nhưng nhà trai muốn cưới thì tôi cho cưới.
- Kinh thật! Hồi cháu với thằng Biền đi, nó còn trèo lên cổ cháu chơi trò cưỡi ngựa.
Bà Nhàn gật đầu:
- Kinh chứ sao không kinh? Tháng, năm, thấm thoát thoi đưa mà. Anh soi gương mà xem, vết chân chim đầy hai đuôi mắt rồi đấy! Lần này về, có cưới vợ không tôi góp trăm cau?
Tôi cười:
- Bác hãy lo cưới vợ cho thằng Biền trước. Biết đâu sang năm nó chẳng đùng đùng về phép?
- Chẳng phải lo. Nó cứ đặt chân đến đầu làng là tôi khắc lo xong mọi chuyện.
Tôi hỏi:
- Cô vinh chèo làng Xuân viễn à?
Bà Nhàn bĩu môi:
- Các cậu cứ tưởng bở! Nó lấy chồng tám năm nay, tay bồng tay bế lại còn lẵng nhẳng hai đứa nữa sau lưng.
Tôi cười:
- Đẻ gì mà khiếp thế !
- Tám năm bốn đứa con có gì mà khiếp? Tướng con ấy mắn như gà ri: đít cong chân ngắn, đẻ cho hết trứng cũng ngót nghét hai chục... Nhưng tiếc gì nó? Cả anh, cả thằng Biền cứ về làng vơ tay trái cũng được dăm cô... Nhưng thôi, chuyện vợ con hãy gác lại đã, tôi sốt ruột quá, chẳng thấy thằng Biền viết thư về...
Tôi bảo:
- Cháu vừa gặp nó cách đây mười một ngày...
Mắt bà Nhàn sáng rực:
- Thế à ! Phúc đúc quá! Nó có nhắn gì tôi không?
- Nó vội quá không viết thư kịp. Nó gửi lời cho cháu, mong hai bác và cả nhà bình an.
Mũi bà đỏ huẩy, hai tròng mắt đã rân rấn nước:
- Nó mong cả nhà bình an!... Thực là người leo cây lo cho người đứng dưới gốc. Chúng tôi mong nó bình an mới phải, nó ở nơi mũi tên hòn đạn, biết sống chết lúc nào?
Bà sụt sịt, lấy khăn tay lau mũi. Tôi pha trò. Rồi mô tả cảnh tượng đời sống chúng tôi: Có gian khổ nhưng luôn luôn vui, cơm ăn áo mặc không thiếu thứ gì, lại có văn công văn nghệ lưu động phục vụ các mặt trận... Tóm lại, tất cả những khía cạnh tươi sáng nhất của cuộc sống thời chiến...Bà Nhàn nghe một lúc, tỏ vẻ an tâm. Bà xếp bánh trái lên bàn, te tái:
- Tôi đi chợ đây. Tối, anh sang uống rượu với ông Biên nhà tôi nhé... ông ấy dặn anh nhất thiết phải sang chơi.
- Vâng, cháu cũng muốn gặp bác trai.
Bà chào bố tôi rồi cắp thúng đi.
Tôi ngủ lại. Khoảng sáu giờ chiều tôi mới thức giấc.
Tựa hồ kẻ lặn dưới nước lâu vừa ngoi lên, tôi hít thở hoài hoài làn không khí nhẹ bỗng nơi làng thôn. Mọi thứ hương của cỏ cây, hoa trái hòa trộn với mùi xú uế, mùi bùn, mùi súc vật tạo thành thứ mùi quen thuộc, thú mùi đã tẩm đẫm vào tôi từ thuở ấu thơ.
Bố tôi hỏi:
- Mày ăn cơm không, tao nấu?
- Con đã hẹn sang nhà ông Biên.
- Thế thì tao cũng sang cụ Chấn ăn tiết canh cháo lòng. Nhà cụ ấy hôm nay ngả lợn.
- Vâng.
- Khóa cửa rồi hãy đi. Chìa khóa đem qua nhà cụ Chấn cho tao.
- Nhà có gì nữa mà phải khóa?
- Dạo này hay có trộm vặt. Mâm thau, nồi, xoong nó cũng lấy.
Thế thì con cũng đi luôn. Bố khóa cửa mà giữ lấy chìa.
Tôi đi trước. Bố tôi kì cạch khóa rồi đi sau. Chúng tôi cùng đi một đoạn đường nhưng chẳng ai nói với ai một lời nào. Rồi bố tôi rẽ vào nhà cụ lang Chấn. Tôi đi thẳng đến nhà ông Biên.
Tòa nhà ông Biên khang trang vào loại nhất làng. Thềm năm bậc lát đá, hiên rộng có hàng cột đỡ. Ở căn nhà ngang, ông vượt lên hai gian gác, đổ mái bằng, chạy những đường hoa văn tỉ mỉ trông vui mắt. Lúc tôi đến, cơm nước đã sẵn sàng, đèn thắp sáng choang.
Bà Nhàn trách:
- Anh sang chậm thế, suýt nữa tôi bắt con Thoa đi đón.
Tôi cười, tạ lỗi:
- Cháu ngủ quên.
Lúc ấy, một cô bé má hồng, mắt đen nhanh nhánh đứng ôm cây cột bên hàng hiên, ngước lên:
- Anh Quân trông lạ ghê!
Tôi quay lại, chưa kịp nhận ra ai thì bà Nhàn đã nói đón:
- Con Thoa đấy... Chào anh chưa?
Thay vì chào, cô bé lè lưỡi ra. Tôi bật cười:
- Mày vẫn nghịch thế mà hai ngày nữa đã lấy chồng rồi Thoa đỏ bừng mặt, cười khanh khách:
- Nghịch là một việc, lấy chồng là một việc chứ anh?... Thiên hạ thích lấy em thì em cho nó lấy...
Lúc ấy, ông Biên bước ra:
- Vào đi anh Quân...
Ông bảo tôi, đoạn quay lại mắng con:
- Con ranh này, lại dám trêu anh Quân... Hỗn...
Thoa nháy mắt với tôi rồi chạy biến ra ngõ. Lúc ấy, tôi mới nhận thấy nó đã thành một thiếu nữ, xinh đẹp không ngờ! ông Biên dắt tôi lên mâm rượu, chỉ có hai ông bà và tôi . Đám con cái dọn mâm riêng, ăn dưới nhà ngang. Bà Nhàn rót rượu ra ba cái chén sứ trắng nõn:
- Rượu thuốc đấy anh Quân ạ. Các anh uống thì tốt lắm.
Ông Biên liếc bà:
- Thế bà uống có tốt không?
Họ nhìn nhau đồng lõa, cùng cười. Không trách đám đàn bà trong làng ghen lồng lộn với bà Nhàn! Riêng việc bà cứ ngồi sánh vai với chồng uống rượu tiếp các loại khách, từ bậc lão trượng xuống hàng con cháu đã đủ cho mấy người đàn bà suốt đời ngồi ăn vụng, uống lén dưới bếp phải tím ruột bầm gan.
Hôm ấy cuối tháng nên bà Nhàn thịt hai con vịt. Làm hai cử tiết canh. Một con vịt hầm hạt sen, một con luộc chấm muối giã tỏi. Con nào con nấy ngót nghét ba cân. Rau thơm để tràn ra cả vành mâm. Loại trừ thứ chén sứ uống rượu và loại bát thường dùng, mâm cỗ ấy khiến tôi nghĩ là mâm cỗ đãi Trí Thâm hoặc Lý Quỳ tái sinh!
Ông Biên bảo:
- Anh Quân dùng tay nhé. Nhà tôi thích ăn thế cho tiện. Kí ca kí cách chặt tốn thì giờ mà nước thịt chảy ra ăn mất ngon... Nào, bà nó dùng đi... Anh Quân dùng đi... đừng khách khí...
Nói đoạn, ông vặt cánh con vịt luộc, chấm muối, ăn ngon lành.
Chuyện của chúng tôi lan man từ việc làng sang việc nước. Không thấy ông Biên hỏi gì tới thằng con trai. Ông có mười sáu đứa con, sáu trai, mười gái. Biền là con trai trưởng, ngày đẻ cu cậu, ông ngả con lợn ngót tạ đãi họ hàng. Tôi xa nhà đã lâu nên nghe hai ông bà kể chuyện về những người lân bang, họ mạc cứ như nghe kể chuyện cổ tích. Chuyện đang dòn thì ông Lý, bí thư đảng ủy xã đi vào:
- Chào cả nhà. Chào người chiến sĩ anh hùng từ mặt trận trở về...
Lại vẫn là bà Nhàn tụt xuống phản, te tái ra đón khách:
- Chào bác Lý, mời bác vào uống rượu.
Ông Biên vẫn ngồi như bụt mọc trên phản, miệng nói:
- Mời bác Lý vào đây.
Tôi thấy mặt ông Lý tối sầm lại khoảnh khắc, có vẻ bất mãn. Rồi ông cười được ngay:
- Vui vẻ quá!
Tôi nói:
- Mời bác xơi chén rượu.
Ông Lý bảo:
- Không khách khí gì đâu nhưng có cuộc họp quan trọng của đảng ủy xã đang đợi tôi... Anh Quân, mười năm nay anh mới về làng, tôi muốn mời anh tới nói chuyện với các đảng viên, sau đó với dân làng.
Tôi đáp:
- Cháu có học nghề nói chuyện bao giờ đâu?... Tụi cháu là lính, ăn no vác nặng...
Ông Lý tợp ngụm rượu, thò tay vặt cái tỏi vịt, đoạn cười hề hề:
- Chính thế mới hay đấy... Cánh cán bộ tuyên huấn của Đảng nói mãi rồi. Giờ, các anh nói dân họ tin hơn. Đề nghị anh phổ biến những tin thắng trận để động viên bà con có khí thế tiến công vào vụ mới...
Đến đó, ông ngừng lại để gặm cái tỏi vịt. Tôi nói:
- Hôm nay cháu trót nhận lời làm khách của bác Biên. Vừa kíp nhấc chén rượu lên, chưa nói được chuyện gì... Bác biết, cháu với Biền là bạn...
Ông Lý gật dầu:
- Biết, tôi biết... Thế tôi hẹn anh tối mai nhá?
Tôi đáp:
- Bác Lý thông cảm cho. Cháu chỉ biết đánh giặc, không biết thuyết giảng.
Ông Lý uống nốt chén rượu, giơ tay:
- Yên trí, yên trí... tôi sẽ làm việc trước với anh về cái đề cương... Cốt nhất là phải thông qua cái đề cương.
Tôi góp ý:
- Hay cháu đứng ra chào bà con, rồi bác nói?
Ông Lý ậm ừ:
- Để tôi nghiên cứu đã...
Lúc ấy, ông Biên bóc miếng lườn vịt to tướng bỏ vào bát ông Lý:
- Bác dùng tự nhiên.
Bà Nhàn róc chén rượu đầy:
- Rượu thuốc đấy bác Lý ạ... Bắc đùng tốt lắm...
Đoạn, cả hai ông bà cùng ngừng lại, chờ ông bí thư xã ăn uống. Tôi thấy ngượng nên nhấc chén lên cùng uống với ông. Chẳng còn chuyện gì để nói. Ông bí thư xã ăn xong cái lườn vịt, quẹt đũa lau miệng đứng lên:
- Tôi vội lắm, kiếu các vị nhá... Anh em ban thường vụ đang chờ. Anh Quân cứ nghĩ kỹ đi, phương án nào tối ưu thì ta thực hiện...
Ông Lý xuống sân, bà Nhàn chạy theo chào với:
- Bác Lý đi họp ạ ạ...
Cái bóng ông bí thư xã khuất dần trong quầng đèn.
Ngày chúng tôi nhập ngũ, ông đọc bài diễn văn động viên lính mới hùng hồn. Hồi ấy, tôi thấy ông oai vệ. Giờ, ông nhỏ bé hẳn đi... Mười năm trôi qua...
Ông Biên rót cho vợ chén rượu rồi cười khẩy:
- Chưa thời nào đám hào lý mất tư cách như thời này...
Bà Nhàn gạt đi:
- Ông nói làm gì chuyện ấy, mất vui...
Ông Biên trầm ngâm:
- Thời xưa, cứ mười người là phải có bảy tám người là con nhà tử tế, có lễ nghĩa. Muốn làm bậy cũng còn sợ nhục. Bây giờ, đa phần là bọn phong học cương thường đạo lý. Họ học luân lý Mác-lê. Cướp vườn cướp ruộng nhà người ta cũng là theo sách Mác. Lột quần vợ người ta mà ngủ cũng là vì lợi ích của đấu tranh giai cấp...
Bà Nhàn giật áo chồng:
- Thôi đi, đừng dây với bọn họ. Tay dao tay thước trong tay đám ấy cả, họ muốn làm gì ta mà không được?...
Bà vặt chiếc cánh bỏ vào bát ông:
- Cánh con vịt này nơm những mỡ, ông nhắm đi.
Chúng tôi nói sang chuyện mùa màng, đồng đất. Tàn bữa rượu thì cậu Bảo, con trai út ông Biên bước lên thềm:
- Bố ơi, đêm nay bố hay là con ra trông vịt cho anh Bình?
Ông Biên đáp:
- Tao đi. Chúng bay lo sửa soạn bài vở rồi mà ngủ sớm.
Đoạn, ông quay sang bảo tôi:
- Lâu lắm anh mới về làng, đêm nay ra ngủ đồng với tôi . Ta tha hồ nói chuyện.
Rồi ông bảo vợ:
- Bà pha cho tôi ấm chè, ủ vào giỏ. Rót bình rượu với nướng con mực nữa nhé...
Bà Nhàn tụt xuống phản:
- Có ngay đây ông ạ...
Chờ bà sắp xếp xong mọi thứ, chúng tôi ra đi. Nửa giờ sau mới tới nơi. Khi tôi trông rõ túp rạ nhọn hình chữ A, cũng là lúc vang lên giọng “Oà Oà” của một thiếu niên:
- Bố à?
- Tao đây. Đói bụng chưa con?
- Cũng kha khá bố ạ... Ai đi với bố vậy?
- Anh Quân, mày không nhận ra ư?
Từ trong túp lều, một bóng đen lao ra. Một chàng trai chạy tới ôm chầm lấy tôi:
- Anh Quân… uân...
Tôi đứng lặng trong hai cánh tay rắn chắc, nồng ấm của nó, tưởng như vòng tay em trai mình. Rồi, tôi nâng mặt nó lên và nhận ra thằng Bình, trên con Thoa một tuổi:
- Mày lớn thế ư?...
Bình cười ngượng nghiu, rồi nói:
- Anh gặp anh Biền em không?
- Có gặp.
- Anh ấy thế nào?
Cũng như tao đây này. Già hơn tuổi chúng mày... (và đùa thêm:) Mà cũng chẳng ai cho đi chăn vịt để... bán trộm trứng!
Bình cười hưng hức, dúi đầu vào vai tôi. Ngày trước, tôi và Biền đi chăn vit, thường bán vụng trứng cho mấy mụ buôn chợ huyện để lấy tiền mua kẹo, dầu chải tóc và thuốc bôi trứng cá. Bình đi theo, thường được chia vài đồng. Nó lấy tiền ấy mua nịt cao su và dây thung làm ná bắn chim...
Ông Biên bảo nó:
- Về ăn cơm không đói.
Bình nói:
- Em về đây, mai anh Quân phải chơi với em cả ngày đấy nhá.
Nó đi dọc theo bờ mương và chẳng mấy lúc biến vào bóng đêm. Trời đẫm sương, lành lạnh. Chúng tôi ngồi trong lều, nhìn chân trời nhủ nhòa mây nước, nghe tiếng vạc xào xạc trên mặt đầm. Ông Biên rót chè nóng ra chén. Chúng tôi lặng lẽ uống, hết chén này tới chén khác. Lúc lâu sau, ông Biên nói:
- Thằng Biền ra sao?
Tôi lặng im. Ông nói tiếp:
- Tôi biết là có chuyện, nếu không, nó đã gửi thư về.
Anh nói cho thật. Thằng Biền làm sao?
- Bác đừng lo. Biền còn sống.
- Tôi không phải như những người cha khác, thúc con ra chiến trường: “Một là xanh cỏ, hai là đỏ ngực”. Tôi cũng chẳng ích kỷ, hèn nhát, xui con đào ngũ. Nước có ngoại xâm, dù đứt ruột cũng phải cho con ra đi.
- Vâng.
- Sáng qua bà Nhàn về kể chuyện lại. Tôi lặng thinh. Anh nói với mẹ thằng Biền như vậy là tốt. Đàn bà cũng như con trẻ, ưa điều nói dối hơn là chịu sự đắng cay. Nhưng tôi là bố nó...
Trong ánh sao, tôi thấy ông hướng gương mặt cương nghị về phía trước. Bóng tối che khuất đôi mắt sáng và xếch như mắt quan võ Tàu, nhưng tôi biết nó đang đăm đăm nhìn khoảng hư không, với những tia sáng lạnh lùng. Trước một người cha như thế, không còn cách nào khác. Tôi uống nốt chén chè rồi bắt đầu kể chuyện...
Đêm trôi. Cánh đồng yên tĩnh, xột xoạt tiếng cỏ lay. Thi thoảng có vài tiếng vịt các cạc trong đàn quây bên lều. Tôi cũng không còn nhận ra tiếng nói của mình. Đấy như là giọng nói của một kẻ xa lạ, bình thản, một cái máy hát vô hồn xướng lên những cảnh đắng cay cùng một giọng như bản tụng ca. Tôi vừa kể chuyện, vừa đằm mình trong giấc mộng phiêu bạt của quá vãng, từ ngày lên năm tuổi nghe tiếng súng nổ đì đọp nơi chân trời khói lửa tới năm hai mươi nhăm tuổi, lội qua những thung lũng nhầy nhụa thịt và bùn... Suốt quãng thời gian ấy, có một thằng tôi đang sống, có một thằng tôi đứng bên lề cuộc đời, ngơ ngác nhìn gió bão đi qua... và... ngắc ngoải đợi chờ...
Ông Biên chợt hừm một tiếng trong họng:
- Nó không nói gì nữa?
Tôi đáp:
- Thưa vâng. Nó rất buồn.
- Tại sao nó không chịu giải ngũ?
- Biền không chiụ... Cháu nghĩ là tại nó ngại anh em làng xóm...
- Phải, nó thương chúng tôi. Không ai không sợ miệng đời mai mỉa?
- Thưa vâng.
- Nó sống kham khổ ở vùng ấy đã bao lâu?
- Cháu nghe ông sư phó nói lại là ngót nghét sáu năm.
- Khổ thân con tôi, trai đương thì hơ hớ... Anh Quân này, lũ dân thường như chúng ta, chịu cực đủ điều, bóp miệng bóp mồm, bóp cả đến con c... Tụi tướng lĩnh nó có khổ như thế đâu? Ra Bắc vào Nam, đâu đâu chúng nó cũng có đàn bà. Ngày xưa thì là phi là thiếp, giờ thì các đồng-chí-nữ phục vụ! Trò đểu, thời nào cũng giống nhau là thế !
- Vâng.
- Biết vậy mà có ai dám nói đâu?... Như tôi, ngang ngược bậc nhất làng này cũng phải kéo anh ra đồng trò chuyện. Kiếp dân đen, miên man cơ khổ. Bao nhiêu người chết đi, từ cụ Đề, cụ Phan tới ông Nguyền Thái Học... Bao nhiêu sinh linh mới đổi được lá cờ độc lập. Nhưng bọn thực dân da trắng cút đi thì lại mọc lên bọn cường hào, ác bá da vàng!?
- Vâng.
- Nhưng ta hiểu riêng với nhau thế thôi, anh Quân nhé... Chớ để cho ai biết. Anh em, họ hàng, bè bạn bây giờ rình mò tố cáo nhau còn hơn chồn cáo. Thời này, gương mặt người cũng biến dạng đi, không còn giống cái mặt người...
Tiếng một con vịt trời cô lẻ rơi trong đêm. Mặt đầm xa ánh lên gợn bạc. Làn sương mỏng trên cánh đồng bay bảng lảng khiến tôi rùng mình vì lạnh. Tôi nói:
- Năm nay có lẽ rét sớm, bác nhỉ?
Ông Biên gật đầu:
- Rét lắm đây. Hoa màu sẽ hỏng vì sương muối.
Im lặng một lát, tôi nói:
- Cháu nhớ mẹ cháu quá.
- Tôi hiểu. Tội nghiệp cho anh. Bà ấy đẹp cả nết lẫn người. Trời già cay độc.
Ông Biên thở dài...
Hơi sương ẩm ướt làm nhờn mắt tôi...
Hồi lâu, ông Biên nói:
- Hay anh cưới vợ đi? Tôi với bà Nhàn sẽ đứng ra lo liệu .
Tôi lắc đầu:
- Cháu còn đi.
Ông Biên nói:
- Kiểu này, chiến chinh chưa biết đến bao giờ mới hết... Đừng chờ.
Tôi nói:
- Chẳng để làm gì bác ạ. Lại đèo bòng thêm khổ cho người đàn bà.
- Anh gàn lắm... Chớ nghĩ thế. Đàn bà không có ai rờ đến cũng khổ chẳng kém gì chờ đợi! Cứ cưới rồi gieo cho nó đứa con, mình có kẻ nối dõi tông đường mà nó có đứa bế ẵm... Lợi cả đôi.
Tôi lắc đầu:
- Cháu chịu.
Ông hỏi:
- Bận trước, tôi vẫn thấy anh hay cập kè với đứa nào ấy nhỉ? A... cô Hoa... Tôi nhớ rồi: Cái Hoa là chị cái Hòa, nhà ông Tiến... Tưởng ai. Đám ấy tôi khuyên anh nên quên đi. Hỏng rồi!
- Cô ấy đã lấy chồng?
- Lấy chồng thì đã tốt phúc! Loanh quanh hai ba đám, lão Tiến gàn, thách cao dao bầu, không chịu gả... Đến năm ngoái, ủy ban xã lấy nó lên chạy việc vặt. Được đầy năm thì cái bụng ễnh ra. Chẳng ai chiụ nhận, con bé cũng không chiụ khai. Vợ chồng lão Tiến xấu hổ, đánh đuổi con bé đi... Giờ nó túp mái lều trên ngọn đồi trọc, gần xóm trại, ngoài bờ sông ấy...
Tôi rùng mình. ông Biên bảo:
- Lạnh hả... Ta uống rượu cho ấm người.
Ông lấy bình rượu với con mực nướng bày lên cái bát sắt tráng men. Ngọn đèn hột lạc treo ở góc lều tỏa ra thứ ánh sáng mờ đục. Ông Biên rót hai chén rượu đầy. Chúng tôi uống cạn một hơi.



Có một dòng nhựa nóng bò vào các huyết quản của tôi, trong khi trí não trở nên lạnh buốt. Tôi mường tượng thấy một mái lều cô lẻ trên đồi, dưới kia là dòng sông vắng...
Thiên hạ hay nói đến người đàn bà lý tưởng. Tôi chẳng biết Hoa có phải người lý tưởng của tôi hay không, nhưng tôi đã yêu cô hết thời niên thiếu. So với đám gái làng, cô thuộc loại xinh. Hơn nữa, cô lại được chiù. Vợ chồng ông Tiến không có con trai, chỉ có hai cô gái. Con nhà nông, nhưng cả Hoa lẫn Hòa đều không phải chăn trâu, cắt cỏ. Họa hoằn, các cô mới ra ao vớt bèo cho mẹ rải chuồng lợn, hoặc cắp giỏ theo đám bạn gái hội cá ở ao đình. Ông Tiến dạy Hoa đánh đàn. Cây đàn măng-đô-lin reo tính tang những chiều rỗi rãi: "Đây đó, đây trong rừng, đây cánh đồng, kìa bao phóng khoáng..." Mái tóc đen như than đổ nghiêng xuống má mỗi khi cô ngồi gảy đàn. Da cô mịn như là, ánh lên nâu nâu hồng hồng ngon như ổi chín. Hoa học dưới tôi một lớp. Bọn trẻ làng chế. "Thằng Quân mà lấy con Hoa. Mang thai tám tháng đẻ ra thuồng luồng". Không biết ai dạy bọn nó. Câu hát làm tôi sợ. Trong trí não chúng tôi, thuồng luồng là loài yêu quái chuyên làm hại dân lành. Tôi hết đuổi đánh lại van xin tụi bạn, nhưng chúng không tha. Một lần, thằng đầu xỏ gọi tôi lại:
- Này Quân, mày muốn chúng ông thôi chế không?
Tôi gật đầu:
- Muốn.
Thằng trùm nhe răng cười:
- Nếu thế, tí nữa con Hoa đi qua đây, mày phải ném vào lưng nó một nắm cứt trâu...
Tôi sững sờ. Thằng trùm bĩu môi:
- Ông biết ngay mà. Mày yêu nó. Mày muốn cưới nó làm vợ.
Tôi cãi yếu ớt:
- Đâu nào?
Thằng trùm bảo:
- Nếu mày không yêu nó, mày phải ném vào lưng nó một nắm cứt trâu thật to. Hễ mày không ném, chúng ông cứ đặt vè, lại còn lấy than vẽ mày với nó lên sân đình nữa...
Sân đình... Cái sân gạch mênh mông, suốt ngày người lớn và trẻ con qua lại... Tôi toát mồ hôi hột, nói:
- Ném thì ném, sợ gì...
Thằng trùm bắt tất cả núp sau bụi chuối. Hoa đang đi trên đường tới chỗ chúng tôi. Chắc mẹ nó sai đi trả cái chảo rang bánh phồng khoai. Tay cầm chiếc chèo, Hoa vừa đi vừa khe khẽ hát, mắt liếc đôi chích chòe đang hót nhịp trên ngọn tre. Thằng trùm lấy đầu gối thúc vào đít tôi:
- Kìa, mày?
Mặt tôi nóng ran, không biết vì sợ hãi hay tủi hổ, tôi cúi xuống, bốc một nắm cứt trâu tươi, ngay sát bụi chuối, dang tay ném thẳng vào người Hoa. Nắm cứt trâu tới trúng ngực áo trắng của nó thành một bãi nhoe nhoét bắn lên vai và cổ con bé. Thằng trùm và bọn trẻ cùng rú lên cười.
Tôi đứng ngây thộn nhìn Hoa. Con bé, sau khi hét lên một tiếng hãi hùng, kịp đưa mắt qua bụi chuối, nơi bọn trẻ nhảy cỡn lên reo hò, và nhận ra thủ phạm. Nớ nhìn thẳng vào mắt tôi một tích tắc, rồi òa khóc và bỏ chạy. Cái nhìn ấy, làm bỏng mặt tôi đến bây giờ... Đã có một ngọn gió u hoài, thổi từ thời thơ ấu, từ kỷ niệm nhục nhã ấy đến hôm nay. Nhưng dẫu sao, chúng tôi cũng đã yêu nhau. Hoa nhút nhát. Tôi sợ hãi. Vả chăng, tôi lại là một thằng bé nghèo, mồ côi mẹ. Tôi luôn luôn sợ hãi... Tôi nhớ không nguôi cái đêm chúng tôi đi qua cánh đồng. Lúa sắp chín, uốn câu. Bờ cỏ lút giữa những mảnh ruộng thơm ngát. Hoa đi trước, tôi theo sau. Hoa nhủ:
- Anh viết thư luôn nhé.
- Anh sẽ viết thư luôn.
- Anh đi khắp nơi, thiếu gì người. Rồi anh sẽ quên em.
- Không, anh chỉ có em thôi.
Hoa ngoái dầu lại, cười. Vì thế vấp ngã. Đang đà bước, tôi ngã chồm lên cô. Trời tối, trăng hạ tuần chưa lên, sao khuất lấp trong mây. Nhưng tôi thấy rõ gương mặt Hoa kề dưới cổ tôi, khuôn ngực phập phồng lọt dưới vòng tay tôi... Tôi choáng váng, xây sẩm mặt mày, lần đầu tiên thân thể chúng tôi gần gụi đến thế. Lần đầu tiên tôi thèm muốn điên cuồng... Tôi đã là một thằng trai. Chuyện thầm kín giữa đàn ông và đàn bà như một trái cây chín đong đưa ngay trước miệng. Tôi là bạn thân của Biền, tôi biết cuộc tình của nó với cô Vinh chèo có cặp mắt lá dăm và bộ đít cong như đít bọ ngựa. Có lẽ đây là cơ hội đầu tiên tôi có thể trở thành đàn ông một cách toàn vẹn. Nhưng tôi nghe Hoa thì thào:
- Đừng anh...
Tay cô vẫn đặt trên ngực tôi, môi cô vẫn kề môi tôi trong nụ hôn mê man. Khi chúng tôi ngừng lại để thở, cô nói với tôi, lần này rành mạch hơn:
- Đừng anh... Chúng mình chưa cưới. Bố mẹ sẽ đánh đuổi em nếu mà...
Thân xác tôi cuồng lên như ngọn triều điên dại, nhưng trí não tôi thoáng qua hình ảnh một người đàn bà trẻ, bụng chửa vượt mặt, cắp nón lủi thủi trên đường... Tôi đi …và Hoa sẽ là người đàn bà bị xua đuổi!? Người con gái tôi yêu lơi lả!? Tim tôi đau nhói. Tôi ghì riết Hoa. Vừa thương vừa thèm muốn. Hoa nói:
- Bao giờ... bao giờ mình cưới?...
- Tiếng cô rời rạc, hổn hển.
Tôi xiết chặt hai vai cô:
- Phải, mình sẽ cưới...
Hoa nép vào ngực tôi. Cử chỉ đó khiến tình thương trong tôi trào lên. Tôi kéo cô ngồi dậy:
- Anh sẽ về phép... một ngày gần nhất. Chúng mình sẽ làm một lễ cưới, đời sống mới, đơn giản.
Hoa đáp:
- Vâng.
Tôi vuốt ve hai cánh tay cô:
- Em chờ anh chứ?
Hoa khẽ gật đầu:
- Em chờ anh...
Mười năm qua. Hồi âm "Em chờ anh" rung trong tôi những con sóng xa vời. Giờ, tôi trên đường ra ngọn đồi xóm trại. Cuối cùng, người con gái tôi yêu cũng vẫn bị xua đuổi, nhưng không phải vì lầm lỗi với tôi...
Mặt trời đã lặn từ lâu, không có trăng. Sao mờ. Tôi đã chọn thời khắc thuận tiện nhất, lẩn tránh mọi gặp gỡ, dò hỏi. Tôi lén lút đi. Đường ngoằn ngoèo qua đồng, dọc theo những bờ mương. Bốn xung quanh lúa ngan ngát mùi hương quá vãng. Tiếng côn trùng rỉ ran yếu ớt, khác hẳn ngày tôi ra đi . Thuốc trừ sâu đã diệt chúng, cũng như bom đạn làm tiêu tan những luồng sinh khí siêu nhiên. Không còn nghe thấy tiếng đập cánh của cào cào, cà cuống. Không còn bắt được những con muỗm muỗm nõn nường. Cả lũ chim đêm cũng lìa xa cánh đồng, tìm góc trời nào đó...
Tôi vén quần lội qua dòng mương, đề tới cánh đồng cỏ giáp xóm trại. Xóm này, hồi tôi còn ở nhà chỉ lơ thơ vài túp lều tranh. Giờ, cớ dễ tới hai chục nóc nhà. Chó sủa râm ran từ sau những bụi tre chưa kịp kết lũy, trông lụn vụn. Thoáng mùi hoa móng rồng đưa... Tôi ngại gặp người quen nên đi vòng quanh xóm. Phải nửa giờ nữa tôi mới đến giải đồi phía sau.
Đó là giải đồi trơ trụi, mọc toàn cỏ lau, cỏ cứng và cây hắc bà. Xưa, tôi chưa bước chân tới. Có một lối mòn lách qua những vườn ớt, vườn cà, những khu ruộng dứa. Mắt đã thuộc bóng đêm, tôi mò mẫm theo. Lối mòn vượt qua gò đất nhỏ, tới ngọn đồi hình bát úp. Dưới chân đồi, dòng sông lặng lờ chảy. Trong đêm, trông như mảnh gương màu thiếc, có vẻ cám dỗ kinh rợn như vẻ đẹp của một nữ ma đầu. Thoảng mới có tiếng cá quẫy. Tôi trèo lên đồi, tin chắc đó là nơi Hoa ở. Leo đến gần đỉnh mới thấy lều. Nó im lìm trên nền trời đêm. Không ánh lửa, không tiếng động. Tôi ném một hòn sỏi, hy vọng có tiếng chó sủa đáp lại.
Tiếng chó sủa cũng không! "Chẳng lẽ Hoa đã trốn đi đâu?" Tôi nghĩ nhưng tôi vẫn tin là cô ở trong gian lều tối tăm đó. Cô ấy không thể trốn đi đâu được. Bụng chửa vượt mặt. Không có giấy giới thiệu của chính quyền, không có hộ khẩu... chưa kể là không có tiền dắt lưng. Tất thảy những điều kiện buộc con người không thể tìm lối thoát.
Chân tôi vấp phải một cái cọc. Cây cọc tre đóng xuống đất đồi, có sợi dây thép buộc lên chóp lều. Người đàn bà chuẩn bị cho mùa mưa bão sắp tới. Tôi bước qua mấy luống sắn, cây mọc ngang bắp chân, qua mảnh sân lát lỏng chỏng vài viên gạch vỡ tới khuôn cửa. Liếp cửa chống một cây sào xiêu vẹo .
- Hoa ơi...
Tôi cất tiếng gọi. Dù rất khẽ, tiếng vọng vẫn âm vang trên khu đồi. Không có tiếng trả lời.
- Hoa ơi, Hoa...
Tôi gọi lần thứ hai, da diết. Rồi tôi lắng nghe những hồi âm tan vẳng trong không gian. Bóng đêm và hoang vắng bao phủ quanh tôi. Tiếng gọi của tôi cô đơn quá! Tôi bước thêm một bước:
- Hoa... trả lời anh đi i i...
- Hoa oa oa...
Tới đó, một giọng khẽ khàng, ráo hoảnh cất lên:
- Anh đến đây làm gì?
Tôi sững lại một giây. Rồi tôi hướng theo tiếng nói, bước vào lều:
- Hoa ơi...
Hai tay tôi quờ quạng dò đường hệt như thằng mù.
Chợt tiếng quát:
- Đừng vào!
Tiếng quát tuy khẽ nhưng gay gắt. Tôi dừng lại:
- Sao lại thế, Hoa...
Lặng yên.
Tôi nhào vào khoảng tối phía trước, nơi vừa phát ra giọng nói khô cằn, lỗ mãng, giọng nói vô cùng xa lạ với giọng nói cô gái tôi yêu. Giờ, tôi nhận thấy bóng người trải dài trên chiếc giường hoặc chõng đặt ở góc lều. Tôi bước thêm hai bước, xô tới. Tay tôi chạm vào cái bụng căng phồng, ấm nóng...
- Đừng!
Người đàn bà hét lên, đẩy tay tôi ra. Cùng lúc ấy, bật lên tiếng khóc. Tôi rờ rẫm ngồi xuống mép chõng, tay sờ thấy những nan tre nhẵn nhụi. Tôi quàng tay qua hông cô:
- Hoa... em bình tĩnh...
Người đàn bà nấc lên, rồi, như cơn lũ tràn, khóc nức nở dồn dập, hết cơn này tới cơn khác... không sao ngừng lại được. Tôi nằm xuống bên Hoa, ôm tấm thân nóng rực, run bần bật như đang sốt. Những sợi tóc cô vướng trên mặt tôi.
Chúng có mùi chua của mồ hôi. Trong đêm, tôi im lặng vuốt ve cô. Từ gương mặt ướt đẫm, xuống cần cổ gáy, bờ vai mảnh... Tôi tránh không chạm tới cái bụng kềnh càng của Hoa, đoán chắc nó sắp tới ngày sinh nở. Có như thế, tôi chờ Hoa khóc cho hết nước mắt, cho hết cơn oan khổ mười năm... Thời gian trôi qua một cách trì đọng trong tiếng rỉ ran thưa thớt của côn trùng, trong âm vang mơ hồ của dòng sông... Rồi tiếng gà canh một dừng dả. Tôi lau nước mắt cho người đàn bà:
- Nín đi em...
Hoa vẫn còn nức nớ, tuy nhiên, chừng như vơi bớt cơn đau, cô thở đều đặn hơn. Tôi dỗ:
- Nín đi em. Chúng mình đều lớn rồi... Ngày anh đi, anh mười tám. Giờ, anh sắp sang tuổi hai mươi chín. Tóc đã có sợi bạc.
Hoa úp mặt vào cổ tôi. Một tay cô lùa vào tóc lôi. Tôi cầm tay cô, vuốt nhẹ:
- Em cũng sang tuổi hai mươi bảy rồi. Các cụ bảo Tam thập nhi lập...
Không hiểu Hoa nghĩ gì, cô lắc đầu và tiếp tục vuốt tóc tôi. Tôi nói tiếp.
- Chúng mình không còn ở tuổi trẻ con...
Hoa lại lắc đầu. Và cô vẫn im lặng ve vuốt tóc tôi.
Tôi nói:
- Chúng mình không có lỗi... Em không có lỗi... Anh cũng không cớ lỗi... Điều quan trọng hơn cả là... anh yêu em...
Tôi nắm tay Hoa.
Cô lại khóc nức lên, rung chuyển toàn thân. Hai cánh tay nóng hổi quấn chặt lấy tôi.
- Em đừng khóc... Hãy nghe anh nói...
Tôi lắp bắp. Tôi không còn nói mạch lạc được. Tôi ôm người đàn bà trong vòng tay, xiết bao gần gũi và vô cùng xa lạ, vừa thương yêu, vừa nghe xa xót. Tôi kinh hoảng nhận thấy mỗi lúc, những cám giác trái ngược đó càng lớn hơn, căng rõ rệt hơn trong tâm hồn mình.
Tôi ghì chặt Hoa, vùi mặt tôi trong mặt cô, trộn tóc tôi vào tóc cô, áp ngực tôi vào ngực cô... Tôi muốn lấp đi khoảng trống ngăn cách của mười năm. Tôi muốn chôn vùi dĩ vãng.. Môi chúng tôi tìm nhau. Nụ hôn điên dại mặn vị nước mắt. Da thịt tôi tìm da thịt cô, trong ước muốn điên dại được hòa nhập. Trí tưởng tượng của tôi căng ra, để phục hồi những cảm giác đã phai mờ trong khoảng thời gian nhòa nhạt... cánh đồng... bờ cỏ đầm hương... cơn ngây ngất đầu tiên... ước muốn ngày hôn lễ...
Một tia chớp lóe lên niềm đam mê đau đớn. Tôi thấy đầu tôi như u mê đi, các giây thần kinh nhức nhối. Tôi nhắm thật chặt đôi mắt lại, để đêm đen dầy đặc hơn, thẳm sâu hơn, mịt mùng hơn, xóa nhòa các ý nghĩ, các cảm giác, các hồi ức và chỉ còn tràn lên duy nhất ngọn triều nhục cảm... Tôi nhắm thật chặt đôi mắt lại...
Gà gáy sang canh!
Tiếng gà gáy làm không gian rung rinh, rạn vỡ. Tôi đoán chừng Hoa đã ngủ say. Tôi ngồi dậy, ra khỏi lều. Vành trăng lạc loài như móng tay quỉ sứ cắm trên nền trời. May thay trong túi áo tôi còn vài điếu thuốc nhàu nát.
Tôi móc chúng ra, vuốt thẳng từng điếu một, châm lửa hút.
Mùi khói thuốc khiến tôi tự trấn tĩnh. Tôi nhìn làn khói trắng bay lơ lửng, tan hòa trong đêm. Đêm an bình. Nhưng nơi chân trời, những ngọn mây tím nứt nẻ gợi lại chân trời của những bãi chiến trường nồng nặc máu và khói súng.
Cảnh tượng quen thuộc tái sinh, cộng với tiếng ngáy của người đàn bà trong lều vẳng ra khiến óc não tôi lạnh giá. Tôi rít từng hơi thuốc dài, nhìn vào khoảng trời mông lung để tìm lại một cánh đồng thơm ngát, nơi chúng tôi mê man trong những nụ hôn đầu, tâm hồn sáng rực lên bởi hình ảnh của ngày hôn lễ với đôi gối trắng tinh, thêu những con bồ câu bạc...
Nhưng tôi đã đến với người đàn bà đầu tiên ở một ngọn đồi miền Trung, một người béo nần lên như khúc dồi, nhễ nhại mồ hôi, dâm đãng!
Còn Hoa... với ai đó, cái kẻ tôi không muốn hỏi tên, tác giả đứa bé nằm trong bụng...
Tất cả, không thể quên đi, không thể đánh mất, không thể đổi thay. Người ta không sửa chữa được quá khứ. Không có cách nào bắt dòng sông quay lại nguồn nước ban đầu, từ khe núi vọt ra, mát lạnh và trong suốt. Dòng sông đã qua các bờ bến, các thành phố, nó chở theo rác rến và bùn nhơ...
Tôi lắng nghe, thấy tiếng ngáy của Hoa đều đặn hơn, mạnh hơn... Ngày mai, tôi biết làm sao?... Tôi sẽ lại lén lút tới đây, trong bóng tối?... Có thể tránh được mọi người nhưng không thể tránh được chính tôi. Ngày mai, tôi biết chắc tôi không còn yêu thương dào dạt như hôm nay vì, trong lần ân ái thứ hai, cái bụng kềnh càng của Hoa sẽ nhắc nhở tôi cái ám bóng kẻ tình địch và tố cáo rằng giấc mộng đẹp nhất giữa chúng tôi không còn nữa.
Bác Hưởng tổ chức một bữa cỗ tiễn tôi, nhân thể thông báo tin anh Lương sắp sửa lên chức. Họ hàng, láng giềng, người nào người nấy tươi cười hê hả. Cỗ mặn bảy món, cỗ chay ba bốn bát lại thêm xôi gấc đỗ xanh như cỗ cưới hạng nhất ngoài phố.
- Nhà bác Hưởng phúc to bằng cái đình, chẳng mấy chốc cậu Lương lên cấp tướng!
- Tôi biết mà, dòng họ Lê đời nào cũng có người nên danh nên giá. Thời bình làm đến chức thượng thư, thời loạn ngồi đến ghế súy. Mỗi làng chỉ được một dòng họ cũng đủ vẻ vang rồi!
- Bao giờ anh Lương về làng, ông bà phải ngả bò khao.
- Tôi sẽ đút lót cánh trên huyện cho nó dòng điện về. Thắp được mươi cái bóng đèn trăm "oắt” thì cứ gọi là lóa mắt!
Ông Biên ngồi góc trong cùng, lặng lẽ nghe mọi người bàn tán. Vẻ mặt ông kín bưng.
Xung quanh, người ta rót rượu òng ọc. Cốc nâng lên rồi đặt xuống. Đũa gắp liên tục. Những gương mặt đỏ rực như say nắng. Nào tướng, nào tá, nào úy... những danh từ nở như pháo trong dòng miên man của giấc mơ chung, niềm khao khát chung. Ông Biên không ăn uống gì, nhâm nhi từng hột lạc. Mọi người quên ông. Có lẽ, ở một bữa tiệc khác ông sẽ là nhân vật chính...
Nếu đám đông cần tới một thủ lĩnh dạy họ trồng lúa, trồng mầu, nuôi gia súc. Nếu đám đông cần tới một bậc huynh trưởng dạy họ biết làm một người chồng biết thương yêu, một người cha khoan dung biết dẫn dắt. Nếu đám đông cần một người bạn lớn dạy họ biết thưởng thức mọi cung bậc của đời sống, biết chắt giọt rượu nồng ấm vào tiết xuân sang, biết ngắm nhìn ngọn lửa ngày đông giá, biết tận hưởng hương vị của sen hạ, cúc thu... Vâng, nếu vậy... Nhưng ngày đó chưa tới .
Giờ, ông thu mình trong một góc yên lặng, lắng nghe. Tôi nhớ tới cánh đồng bảng lảng sương bay, đêm chúng tôi trò chuyện cùng nhau. Nỗi buồn dâng trong tôi, tan hòa cùng men rượu.
Có ai đó huých rất mạnh vào vai tôi:
- Mai lên đường, phải vui lên cho có khí thế chứ anh Quân?
Tôi quay lại: Một cái miệng ngoạch ra cười, bóng lọng.
- Vâng, chào đông chí Lý.
Ông Lý ngồi ghé bên phản:
- Nào, dịch vào... Tôi thay mặt anh em địa phương cạn một cốc rượu với vị sĩ quan quân đội nhân dân. Mong rằng đồng chí sẽ làm cho làng Đông tiến vẻ vang.
- Thưa đồng chí, tôi không dám.
Ông Lý quay lại:
- Sao lại không?
Tôi cười:
- Báo cáo, tôi không được như anh Lương. Tôi kém...
Ông Lý bảo:
- Đồng chí phải có tinh thần quyết thắng. Ta đã có truyền thống anh hùng. Lại có duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác làm vũ khí. Cái gì mà ta không thắng?...
Tôi đáp:
- Vâng. Mời đồng chí lên đũa.
- Tôi ăn mâm ngoài kia rồi. Vào nói chuyện với đồng chí cho vui. Tiện thể cảm ơn cuộc gặp gỡ hôm trước.
- Có gì mà cảm ơn.
- Có chứ! Các đồng chí ở chiến trường về, người thực việc thực. Có các đồng chí, công tác tuyên truyền của Đảng thắng lợi rực rỡ hơn. Đợt này, hai mươi tám thanh niên tình nguyện làm nghĩa vụ quân sự. Bên thôn Hạ, dân số đông gấp rưỡi Đông tiến mà chỉ có bảy người ghi tên tình nguyện thôi!
Bác Hưởng vào mời mọi người uống chè. Chè Thái, bác Hưởng gái tự ướp sen, thơm đáo để. Các mâm khác tiếng đũa bát vân va nhau lách cách. Tôi cáo từ bác Hưởng ra về. Bác gái bảo đến tối sẽ sang nhà tôi chơi, để gửi thư và quà cho Lương.
Mãi gần nửa đêm, khách mới ra về. Tôi mò ra xóm trại thăm Hoa. Cô ngồi ở sân chờ tôi, tóc rũ xuống lưng đen như đêm tháng chạp. Tôi đưa cho Hoa ít tiền phòng ngày sinh nở. Cô khóc hoài, khóc mãi. Tôi bảo Hoa:
- Em nín đi. Anh đã khóc, cũng chứng kiến nhiều người khóc. Mà toán là lính, những người dày dạn với chuyện tử sinh. Anh muốn em đừng khóc nữa. ít nhất cũng để cho anh cảm thấy đôi phút yên vui...
Hoa không nín mà lại khóc òa lên, nức nở từng cơn như bi đòn oan. Tôi ngồi im, bực tức. Đàn bà là cái giống quái gì không biết. Chẳng hiểu họ ra sao... Một lát, tôi cố ôn tồn:
- Nghe anh này, khóc cũng không được ích gì đâu...
Hoa vùng đứng lên chạy vào trong lều. Cô vật mình xuống chõng.
- Hoa, anh bảo...
Tôi chạy theo Hoa.
Một cây cọc đập vào mặt tôi, giữa sống mũi! Khoảng tối phía trước bỗng nảy ra những vòng tròn ngũ sắc, đom đóm bay loạn xạ. Đứng giữa lều, tôi ôm mặt đau điếng, hai thái dương nhức buốt lên tận đỉnh đầu. Cùng với cảm giác đau đớn, một cơn hung dữ chồm lên.
Tôi kinh hãi vì nhận thấy mình đang ở trong trạng thái say máu chiến: Thù hận, thèm chém giết, khao khát hủy diệt... Luồng khí nóng bốc bừng bừng trong tim, thiêu đất óc não. Tôi nắm cây cột, định giật xuống. Chợt tôi hình dung thấy cả mái lều sẽ sập theo. Ngày mai, khi tôi lên đường người đàn bà bụng mang dạ chửa kia sẽ làm gì với đống tre pheo tranh nứa ngổn ngang?...
Tôi dừng tay lại, và càng kinh hoảng vì nỗi khát thèm hủy diệt cứ cháy bừng bừng trong tôi như ngọn lửa tưới dầu, không thể dập tắt. Hai bàn tay tôi co quắp lại vì chúng thèm muốn bóp chặt một cần cổ nào đó, thèm xóc lưỡi lê vào một tấm thân nào đó, thèm khạc lửa liên thanh vào một tiêu điểm nào đó... bất cứ vật gì liên quan tới cõi đời khốn khổ này, liên quan tới những mất mát của tôi, liên quan tới những sức mạnh vô hình dày vò, đày đọa tấm thân và tâm hồn rách nát của tôi...
- Trời ơi, trời ơi là trời i i...
Hoa rên rỉ. Cô vẫn không ngừng khóc. Mắt tôi mở trừng trừng hướng về phía người đàn bà. Toàn thân tôi căng như sợi dây dàn lên hết cỡ. Chỉ một tích tắc, chỉ nửa tích tắc nữa thôi nó sẽ đứt. "Thế là hết... Không còn gì tồn tại". Một ý tưởng rạch ròi, buồn thảm tới. Nó tới chậm chạp, uể oải tựa hồ một con trăn no bụng trườn trên đám lá khô, tìm chỗ ngủ. Và bỗng nhiên, ý tưởng đó khiến cơn hung hãn trong tôi tắt ngấm. Cả những cảm xúc, cả những dự tưởng cũng tắt theo. Tôi biết tôi không thể nói một lời an ủi, hay có một cử chỉ khích lệ người đàn bà. Thậm chí, tôi chẳng thể tới ngồi bên cô. Tôi không thể làm gì hết... Tôi bỗng hoang vắng như một nhà ga bị loại bỏ. Tôi bỗng trơ trọi như mỏm đá nhô giữa làn nước biển. Tôi bỗng chán nản và cạn kiệt sinh khí như một lão già trụy lạc đã quá tuổi tám mươi ngồi nhìn những mảnh vỡ sau bữa tiệc túy lúy của cõi đời... Tôi quay lưng bước khỏi lều.
Cuộc chia tay không lời chào, không lời hẹn.
Đêm tối thui. Lũ chó xóm Trại sủa ầm ĩ.



Tôi mơ thấy một chàng trai có gương mặt vui vẻ dắt tôi qua cánh đồng tường vi. Mặt trời đã lên nhưng sương trắng chưa tan bay lang thang như ước vọng của kẻ si cuồng. Bốn bề xung quanh, hương nồng đậm, hoa tường vi nở mê man cho tới tận chân mây. Hai chúng tôi im lặng, mài miệt bước đi. Chợt một tiếng gọi dóng dả khiến tôi bừng tỉnh:
- Quân, dậy mau không thì mày sẽ chậm tàu!
Chật vật lắm tôi mới kiếm được một chỗ ngồi... Ngay trên đầu tôi, đung đưa đôi chân to như chân voi và dơ dáy của một cô buôn chuyến. Cô ta mắc võng ngay toa tàu, rồi cứ nằm há miệng ngáy, mặc cho kẻ qua người lại. Con tàu thời chiến giống bát cơm chộp giật trong cơn đói lầm than, khốn cùng. Tàu chỉ đỗ ở ga xép năm phút. Khách đi tàu chen lẫn nhau, đạp lên những bãi phân lổn nhổn rác và đá, đạp lên các túi xách, ba-lô, sọt đựng hàng, đạp cả lên lưng và chân nhau... Người ta cố phải tìm được một chỗ ngồi, dù trên ghế hay dưới sàn đầu toa, nước tiểu tràn lênh láng bốc mùi khai lợm. Những chiếc ghế gỗ cứng, long lở, nhem nhuốc vết dao cứa và nhựa hắc ín. Ở cửa: cái còn, cái mất, phủ đầy bụi lẫn muối than. Tàu sơn loang lổ màu rêu ngụy trang.
Một người đàn ông gày gò, mặt đen nhẻm, huých tôi vào sát thành toa:
- Nhờ anh tí nhá.
Ông ta ghé mông ngồi xuống đồng thời đặt kê nửa chiếc bao tải nặng trĩu lên đùi tôi:
- Thông cảm tí nhá.
Tôi nói:
- Việc gì khó, tôi sẵn sàng giúp ông. Nhưng đi đường dài, mà đặt bao tải nặng như cùm sắt thì làm sao chịu nổi?
Ông ta nhăn nhó:
- Bát. Toàn bát ăn cơm. Để dưới sàn vỡ mất.
Tôi bảo:
- Phải tìm cách thu xếp chứ?
Ông ta lắc đáu quầy quậy:
- Anh thông cảm, vỡ mất, ở vùng tôi, bom phá vỡ hết. Nhiều nhà phải ăn cơm bằng gáo dừa!
Tôi dịu giọng:
- Yên trí, tôi sẽ giúp ông.
Thương lượng với mấy cô buôn chuyến, tôi xếp được tải bát giữa những cuộn chiếu cói và sắn khô. Người đàn ông sung sướng nhoẻn miệng cười. Hai hàm răng trắng làm sáng bừng gương mặt gầy choắt, đen như nhọ than.
Ông ta thở phào:
- May quá là may.
Đoạn, rút trong túi dết ra một ổ bánh mì khô cứng, ông ta bẻ làm đôi mời tôi:
Làm một miếng cho đỡ đói lòng.
Tôi lắc đầu:
- Cảm ơn, tôi vừa ăn cơm no.
Người đàn ông hể hả, cầm bánh ăn. Miếng bánh mì đã có vết mốc. Tôi nhìn những lằn gân nổi chằng chịt trên cổ ông ta, cả hai bàn tay khô khẳng như rê duỗi... Trong chiến trường, có lúc đói trắng mắt, đói rã xương, mà lại có lúc thực phẩm dồi dào, ngập đũa ngập bát. Nhưng cái đói bình thường của người dân hậu phương là thứ đói triền miên vô tận!
Thấy tôi nhìn, người đàn ông nói vồn vã:
- Tôi hãy còn cái bánh nữa trong túi, anh ăn nhá?
Tôi vui vẻ đáp:
- Không, tôi nhìn cái mụn ruồi trên cổ ông. Nó giống hệt mụn ruồi của bố tôi.
Người đàn ông cười hề hề, đoạn cúi xuống cẩn thận nhặt từng mẩu bánh vụn rơi trên đùi, bỏ vào miệng. Xong xuôi, ông ta khoanh tay trước bụng, nhắm mắt ngủ. Chỉ một lát sau, tiếng ngáy đã cất lên đều đặn.
Con tàu thét lên hồi còi dài, nhưng vẫn chưa chuyển bánh. Cô buôn chuyến nằm võng trên đầu tôi nói mê:
- Trả tiền tao ngay... Không cho khất được. Biết phiên chợ sau mày còn hay bom nó cắt hộ khẩu rồi... Trả tao...
Cô ta nói rành rẽ khiến đám buôn chuyến xung quanh phì cười.
Tàu rú hồi còi thứ hai. Một nhân viên hỏa xa bước vào toa:
- Yêu cầu đồng bào lùi ra... yêu cầu lùi ra...
Anh ta nói liên tục:
- Dẹp cho tôi một lối đi, yêu cầu...
Đám khách xô đẩy nhau, dạt sang hai phía, nhường đường cho anh ta. Một việc miễn cưỡng. Tuy nhiên, bộ đồng phục ngành hỏa xa, chiếc mũ kê-pi mới và chiếc túi giả da đeo bên hông khiến tấm thân lom khom của anh ta cũng có phần nào oai vệ. Phía sau anh ta, hai người đàn ông bước theo. Cả hai đều to béo, nhưng một người lùn, một người cao. ông lùn đeo kính gọng vàng, ông cao đeo kính cận dầy như trôn chén.
- Nào, nào... dẹp vào... dẹp vào lấy lối...
Người nhân viên hỏa xa tới dãy ghế đối diện với dãy ghế tôi ngồi. Ở dó, đã có hai hành khách đi từ ga nào chẳng rõ. Khi tôi lên tàu, họ đang ngủ, đầu ngoẹo vào nhau, mũ cối úp lên mặt. Cả hai đều mặc quân phục cũ. Chàng nhân viên hỏa xa đập vào vai họ:
- Dậy, dậy... .
Hai thanh niên bừng tỉnh, giương những con mắt đỏ kè nhìn xung quanh. Khi nhận ra người đứng trước mặt, họ bỗng ngồi thẳng lên. Người nhân viên hỏa xa nói lạnh lùng:
- Yêu cầu cho kiểm tra vé.
Cả hai thanh niên đều giữ khư khư mũ cối trước bụng, người nọ đưa mắt nhìn người kia. Cả vẻ mặt lẫn toàn thân họ toát ra vẻ khúm núm:
- Dạ... thưa đồng chí... dạ...
Người soát vé nhắc lại:
- Yêu cầu cho kiểm tra vé...
Hai người đàn ông đeo kính vẫn im lặng quan sát từ đầu bỗng cùng lên tiếng:
- Thôi thôi...
Nhân viên nhà ga bảo hai thanh niên:
- Về phòng vé giải quyết.
Đoạn, anh ta quay lại cúi dầu một cách lễ phép nói:
- Xin hai đồng chí cho ý kiến: ngồi đây có được không?
Người đàn ông lùn gật đầu:
- Được Chàng nhân viên hỏa xa nói tiếp:
- Dạ, có cần gì xin các đồng chí tìm tôi tại phòng vé. Tôi sẵn sàng phục vụ.
Người đàn ông lùn gật đầu:
- Được rồi.
Nhân viên hỏa xa nói:
- Tôi xin phép được đi ạ?... .
Vì phải cúi xuống nói với người lùn một cách kính cẩn, trông bộ dạng anh ta hệt như thằng gù có bướu lưng. Người đàn ông lùn sẵng giọng:
- Được rồi, cần gì tôi sẽ báo...
Anh chàng nhân viên hỏa xa cúi đầu chào lần nữa rồi Hai người đàn ông không cớ hành lý gì đáng kể, ngoài một chiếc túi du lịch cỡ nhỏ chắc đựng đồ ăn. Không ai dám ngồi chen thêm vào ghế của họ. Những con người béo múp, trắng như đế nhốt lâu ngày trong bao diêm trở thành bậc chúa tể vô danh giữa đám đông.
Người ta bắt đầu liếc nhìn họ một cách rụt rè, hoặc sợ hãi, hoặc muốn lấy lòng. Ngay đám buôn chuyến trâng tráo là thế cũng không dám thản nhiên buông những lời thô tục. Không khí trong toa tàu bớt ồn ĩ hẳn đi... Có một thứ quyền lực không tên khống chế mọi người!
Con tàu rít lên hồi còi thứ ba, xô lắc rồi chuyển bánh. Hai người đàn ông tựa dầu vào thành toa, nhìn nhau. Ông lùn đeo kính gọng vàng cười ha hả:
- Thấy chưa? Cậu đã thấy chưa?...
Người cao lớn gật dầu, im lặng với vẻ như chờ đợi.
Người lùn nới tiếp:
- Cuộc đời không nhàm chán, mịt mù như văn chương, báo chí của các cậu. Chỉ bước lên toa tàu này mươi phút đã rõ.
Người đàn ông đeo kính cận nói:
- Chính vì muốn thấy rõ nên tôi mới theo cậu đi chuyến tàu chợ này. Chưa chi vợ tôi nó đã đe: - - - Liệu đấy, đem rệp về nhà thì tôi tống khứ!
Người đàn ông lùn cười:
- Vợ là kẻ thù không chính thức của mọi người đàn ông ha... ha... ha... Nhưng chúng ta không thể loại bỏ. Bây giờ trở lại vấn đề cậu quan tâm.
Người đàn ông cao lớn hỏi:
- Nội dung và hình thức.
Người đàn ông lùn gật đầu:
- Chính thế. Tôi khỏi cần bố trí diễn các tiểu phẩm làm minh chứng. Trước mặt chúng ta, vừa mới đây đã xảy ra một ví dụ hiển nhiên. Cậu hãy nhớ lại: Hai thằng trốn vé tàu gọi cậu nhân viên hỏa xa là đồng chí. Cậu nhân viên hỏa xa cũng gọi chúng ta là đồng chí. Nhưng thực chất mối quan hệ thứ nhất là mối quan hệ giữa những kẻ phạm pháp với người thừa hành pháp luật. Mối quan hệ thứ hai là quan hệ đầy tớ với ông chủ. Nói rõ thêm: cậu nhân viên kia chỉ là đầy tớ của đầy tớ chúng ta... Đúng chưa?... Vậy danh từ đồng chí là cái vỏ. Một hình thức chứa đựng những nội dung khác biệt nhau: Xét phương diện ngữ-nghĩa, đó là sự ngụy trá, - Xét phương diện lịch sử, đó là sự thích ứng, - Xét phương diện thực tiễn, đó là một mánh khóe của các nhà cai trị.
Người cao lớn đưa tay sửa gọng kính, lắc đầu:
- Trong xã hội văn minh, người ta phải tìm cách khắc chế sự bất-tương-đồng giữa hình thức và nội dung.
Người đàn ông lùn nhìn vào mặt bạn, lại cười ha hả:
- Cậu ngây thơ thật! Không phải lúc nào chúng ta cũng cần đến một xã hội văn minh.
Người đàn ông cao lớn nói:
- Tôi không hiểu.
Người đàn ông lùn diễu cợt:
- Tôi không hiểu... tôi không hiểu... Đừng nói câu đó khi tuổi ngoại ngũ tuần. Văn minh là con đường cực nhọc. Chúng ta lại thiếu thời gian. Cuộc đời chúng ta ngắn ngủi. Phải tìm kiếm vinh quang bằng con đường khác.
Người đàn ông cao lớn nhăn mũi:
- Cậu có những ý tưởng tàn nhẫn.
Người đàn ông lùn cười:
- Phẩm chất đầu tiên cần thiết cho các nhà cầm quyền là tàn nhẫn. Cậu giống như đàn bà, duy cảm bệnh hoạn!
Người cao lớn nói:
- Tôi giống tôi.
Người lùn vẫn cười:
- Cậu thấy con đà điểu chưa !... Khi gặp ác thú tiến đến, nó rúc đầu vào cát. Nó tưởng cát sẽ khắc chế dược hiện thực.
Người đàn ông cao lớn bảo:
- Nhưng chúng ta đã ra đi vì lý tưởng.
Người đàn ông lùn gật đầu quả quyết:
- Đúng. Đó là sự thực không thể chối cãi...
Rồi ông ta lại cười.
Lần này tôi thấy rõ hàm răng ông ta ám khói thuốc vàng vàng, lại hơi chìa ra phía trước. Mũi ông ta tẹt, hai lỗ mũi trống hoác. Có lẽ vật giá tri nhất trên con người ông ta là chiếc gọng kính bằng vàng nguyên chất. Sức chinh phục lớn nhất ở ông ta là cái vẻ tự tin pha lẫn diễu cợt chớt nhả của một thằng ôn con lõi đời. Ông ta nói tiếp:
- Tôi và cậu, và nhiều người khác nữa, chúng ta đã ra đi vì lý tưởng. Nhưng đó là những ý nghĩ năm mười bảy tuổi. Vào lứa tuổi năm mươi, nó chỉ là những kỷ niệm mốc meo. Lý tưởng đó, đơn giản là bánh thánh phát cho lũ trẻ vị thành niên. Muốn chúng mặc áo thầy tu, mặc áo lính hay áo cảnh sát quốc gia cũng chỉ cần dùng bấy nhiêu từ.
Người đàn ông cao lớn nói:
- Không ít người nghĩ như thế. Nhưng...
Người đàn ông lùn cắt lời:
- Danh từ cũng như mọi vật: có lúc nảy sinh, có lúc lụi tàn.
Người đàn ông cao lớn hỏi:
- Vậy năm tôi với cậu rời Quảng trị ra đi, cái gì nảy sinh, cái gì đã lụi tàn?
Người đàn ông lùn đáp:
- Hồi ấy chúng ta mười lăm tuổi, tâm hồn và cách mạng đều tươi non. Suốt cuộc hành trình, chúng ta luôn miệng hát bài Đồng Chí.. Gì nhỉ?... "Quê hương anh nước mặn đồng chua. làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá..." Lời hay tuyệt, phải không? Nhưng qua thời gian đó, nó đã trổ bông kết trái. Giờ, tới lúc lụi tàn. Đó là qui luật. Cách mạng cũng như tình yêu, có nảy sinh, có thối rữa. Nhưng cách mạng thối rữa nhanh hơn ái tình...Đồng chí…. Khi thực chất mối quan hệ giữa những người cùng tham dự vào một trận tuyến không còn là đồng chí nữa thì các nhà cầm quyền cần phổ biến danh từ ấy một cách rộng rãi và ầm ĩ hơn... Đó chính là bổn phận của các cậu các nhà văn hóa và giáo dục cao cả. Người ta trả lương cho các cậu chính vì lẽ đó.
Ông ta ngửa cổ lên cười. Rồi rút một điếu thuốc, châm lửa hút. Người đàn ông cao lớn ngập ngừng:
- Có những hạt nhân có lý trong điều cậu nói... Nhưng mà...
Người đàn ông lùn cướp lời:
- Nhưng mà không chịu nổi, đúng không?...
Ông ta cười tiếp. Hình như ông ta có điều gì vui vẻ lắm và cuộc chuyện trò chỉ là cái cớ để bùng nổ nhưng trận cười vô tiền khoáng hậu. Tới lượt người đàn ông cao lớn châm thuốc. Hai người thi nhau thả khói. Họ im lặng hồi lâu.
Trong toa chỉ còn vài người đàn ông cùng tôi theo dõi câu chuyện. Đám đàn bà buôn chuyến đã há hốc mồm ra ngủ. Tiếng bánh sắt nghiến trên đường rầy buồn tẻ vô cùng. Chợt người đàn ông lùn hỏi:
- Cậu có đem bia theo không đấy?
Người kia gật đầu:
- Có . Đã khát rồi à?
Người đàn ông lùn lắc đầu:
- Không. Tí nữa ta uống.
Người cao lớn mỉm cười:
- Đã muốn đi tàu chợ xem dân chúng sống ra sao mà lại còn phải đem theo đồ hộp!?
Người đàn ông lùn cười xúyt xoa:
- Tôi yếu bụng. Trình độ vệ sinh ăn uống của dân ta ở vào loại man rợ nhất nhì thế giới. Nước lã ở các nơi bên Tây Âu sạch hơn nước lọc giải khát đóng chai và hộp ở bên ta.
Người đàn ông cao lớn cười mát:
- Cậu thật mâu thuẫn! Vừa muốn hưởng tiện nghi của nền văn minh vừa không muốn thiết chế một xã hội văn minh!?
- Thiết chế một xã hội văn minh là việc khó. Nhưng bảo đảm đời sống văn minh cho một nhóm người là việc dễ. Tôi đã bảo cậu rằng văn minh là con đường gai góc, tốn phí thời giờ lại phải chia xẻ quyền lực. Đối với một dân tộc ấu trĩ như dân ta, tìm cho họ một tôn giáo thích hợp, dẫn dắt họ đến lễ đài vinh quang bằng con đường ngắn nhất, dễ trăm lần hơn dạy họ văn minh...
Người đàn ông cao lớn nheo mắt:
- Cậu trắng trợn thế?...
Người lùn cười hề hề:
- Sự thật nào mà không trắng trợn?... Cậu cứ thử đặt điạ vị của cậu, vào vị thế của một ông vua... Lúc ấy, cậu sẽ khoái đứng trên lễ đài duyệt binh hơn lọ mọ trong triều đình để tìm kiếm các phát minh về một giống lúa mới hay một qui trình sản xuất mới. Đấy, cái nền văn minh của cậu bắt buộc các ông vua phải lọ mọ trong triều, phải gặp gỡ ve vuốt lũ trí thức gàn dở, kiêu ngạo... Còn đứng trên lễ đài, cờ xí rợp trời, lưỡi lê tuốt trần sáng lóe, súng đại bác gầm thét... đó là niềm thụ hưởng tối cao của quyền lực, - tiền bạc, và ái tình cũng không sánh được... Cho nên, chúng ta cần tôn giáo...
Người đàn ông cao lớn nói:
- Thế mà ít nhất cũng dăm bảy lần tôi nghe cậu trích dẫn câu nói của Lê-nin: Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.
Người đàn ông lùn cười cợt:
- Cậu đến lạ! Tôi là giáo sư. Khi đứng trên bục giảng, tôi phải giảng bài đúng yêu cầu. Bọn sinh viên chúng cần ăn những thứ thực phẩm ấy, cũng như cần học thuộc lòng danh từ lý tưởng... Chúng ta không phải bọn chíp hôi... Vả lại, đừng cố chấp. Nếu đúng tôn giáo là thuốc phiện thì chúng ta cần thứ thuốc phiện ấy hơn ai hết.
Người bạn đồng hành lắc đầu:
- Đến thế là cùng...
Người lùn nhìn bạn, vẻ ái ngại:
- Cậu luôn luôn là một thằng học trò... Nhưng có lẽ tôi thích cậu cũng chính vì điều đó. Thế cậu tưởng rằng chúng ta là những kẻ vô thần hay sao?... Không phải thế! Khi chúng ta đập phá đình chùa miếu mạo, ấy là để dọn chỗ treo ảnh Mác, là để tạo đựng hình ảnh một tân-chúa cho đám đông. Cậu có nhớ những cuộc chỉnh quân, chỉnh huấn năm 52-53 không? Chúng có khác gì những buổi lễ xưng tội ở nhà thờ? Trong đó con người tự hành xác, tự dằn vặt sám hối để lương tâm thanh sạch, để được tiến đến gần đấng chí tôn... Bây giờ cũng thế, tôi cũng đã dự những buổi kiểm điểm và kỷ luật đảng viên. Mác đã hiển thánh và trở thành tấm gương đạo đức.
Tới đó, ông ta bật ra vài tiếng ho. Người bạn đồng hành lặng im. Rồi hai người cùng châm thuốc hút... Nhả vài hơi khói, người đàn ông lùn nheo mắt nhìn bạn:
- Cậu đọc kỹ tiểu sử Mác chưa?
- Chưa, chỉ một đoạn a-văng pờ-rô-pô (avant-propos) trong cuốn "Gia đình thần thánh" thôi.
- Cố nhiên... Cố nhiên... Muốn cho Mác hiển thánh thì phải xóa đi mọi dấu vết của đời thường... Tôi, thì tôi đã tới tận ngôi nhà sinh ra Mác, tôi ký tên trên các bảo tàng về Mác, tôi đến đặt vòng hoa trên nghĩa trang Mác tại Anh... Ngửng nói, ông ta nghiêng đầu ngửa mặt nhìn người bạn. Mắt ông ta nheo lại, ánh lên nụ cười ranh mãnh. Cái gọng kính vàng lóng lánh dưới tràng mày thưa. Người đàn ông cao lớn quay sang nhìn, ông ta nói tiếp:
- Tất nhiên, chân giá trị của một vĩ nhân không đặt ởphạm trù đạo đức cá thể... Nhưng mà, nói cho vui, cậu có biết về phương diện sinh hoạt, cá nhân Mác là người thế nào không? Đó là một thằng lùn trụy lạc. Từ thời sinh viên đã mò xuống các xóm nhà thổ chơi điếm. Đặc biệt, Mác rất thích đám con gái di-gan. Nói theo ngôn ngữ của Lép-tôn- tôi, đó là một thằng cha đi hoang không biết mệt. Đoạn đời sau của Mác, nhiều người biết: lão ngủ với cô đầy tớ, đẻ một đứa con. Khi Mác chết, Gien-ni đã tha thứ và công nhận đứa con ngoài hôn thú.
- Ha ha... ha ha... ha...
Ông ta cười rũ rượi. Người bạn đồng hành cũng cười.
Họ thi nhau lấy khăn tay thấm nước mắt. Rồi họ châm điếu thuốc thứ ba, tiếp tục hút.
Tôi ngồi im. Lưng tôi lạnh toát. Một cơn choáng váng xâm chiếm óc não tôi. Tôi có cảm tưởng như mình đang đi trên một cây cầu, trong chớp mắt nó hóa thành sợi dây và bên dưới là vực thẳm. Tôi lén lút đưa mắt nhìn người đàn ông đeo kính gọng vàng lần nữa. Ông ta đang chun mỏ thả khói thuốc, đầy vẻ mãn nguyện. Ánh mắt ông ta như còn tiếp tục cười cợt . Hai khóe mép nhếch lên vui vẻ nhưng mỉa mai... Tôi hiểu, những điều ông ta nói là sự thật...
Tôi bỗng hình dung ông ta là tay phù thủy, vê cục bột thành một hình nhân, đặt lên bệ thờ, rồi ông ta phà ra luồng hơi phù phép. Hình nhân thằng lính kèn bằng bột hóa thành vị thần linh oai nghi, vĩ đại. Trước thần linh ấy, ngàn triệu người xì xụp quì lạy, khấn vái. Ngàn triệu cặp mắt ngước nhìn khiếp hãi, cuồng si. Ngàn triệu sinh linh chờ đợi một tín hiệu là nhất loạt nhảy vào bể dầu sôi hay hỏa ngục... Trong ngàn triệu người ấy có tôi, có tất thảy những người máu thịt thân thiết của tôi... Và ông ta, gã phù thủy thấp lùn mũi tẹt, ngồi ở hậu cung vừa nhả khói thuốc vừa tủm tỉm cười .
- Báo cáo...
Tiếng nói giật giọng khiến tôi sửng sốt!
Tôi quay lại, thấy một anh chàng bận quân phục, đeo băng đỏ đang đứng trước mặt hai người đàn ông.
Anh ta dằn từng liếng:
- Có người đến báo rằng hai ông đã xúc phạm Các- Mác, vị lãnh tụ vĩ đại và đã bôi nhọ chủ nghĩa xã hội của chúng ta.
Người đàn ông lùn lập tức đứng bật dậy, ưỡn ngực quát:
- Ai, ai tố cáo?
Mặt ông ta đanh lại, không còn vẻ bỡn cợt mà trở nên nghiệt ngã:
- Ai?
Ông ta quát lại lần thứ hai, dõng dạc, khinh bỉ. Anh chàng cảnh vệ quay lại phía sau... Hẳn kẻ tố cáo đã nhanh chân lủi mất. Anh ta đứng đần độn, mặt đỏ lựng, ấp úng:
- Có người đã tố cáo... Dứt khoát có người đã...
Người đàn ông lùn rút trong túi áo một mảnh giấy, chìa cho chàng cảnh vệ:
- Đây đọc đi .
Một cuốn sổ nhỏ có bìa cứng màu đỏ, các góc hơi quăn lên. Tôi biết đó là tấm hộ chiếu ngoại giao, loại các ông lớn thường dùng. Anh chàng cảnh vệ run run đỡ lấy cái báu vật biểu hiện quyền uy, mắt như lạc khỏi tròng. Anh ta đọc rất nhanh, và, đọc xong, mặt tái xám.
Người đàn ông mỉm cười, rút lại cuốn sổ nhỏ trên hai bàn tay thô kệch của anh ta, bảo:
- Chính chúng tôi là những người đưa chủ nghĩa Mác vào Việt nam. Chính chúng tôi dạy cho nhân dân, trong đó có bản thân anh, hiểu thế nào là chủ nghĩa Mác. Cho nên, người bảo vệ chủ nghĩa Mác trước tiên là tôi chứ không phải là anh. Rõ chưa?
Chàng thanh niên cúi gằm mặt xuống. Tôi nhìn rõ những hạt mồ hôi đọng trên hai thái dương của anh ta lớn dần lên.
Người đàn ông lùn nói tiếp:
- Tôi bỏ qua cho anh lần này... Lần sau còn hành động hồ đồ như thế, anh sẽ được đưa tới nơi cần thiết.
Anh chàng vẫn cám mặt xuống sàn tàu. Người đàn ông lùn giật giọng:
- Đi đi !
Ông ta ưỡn ngực, chắp tay sau đít, mặt hầm hầm khủng bố đến nỗi chàng cảnh vệ ngã dúi dụi vào đám hành khách. Đi tới gần cửa toa anh ta mới dừng thẳng lên được. Tức khắc, anh ta biến mất.
Người đàn ông lùn ngồi xuống. Vẻ cau có, nghiệt ngã trên mặt ông ta tan biến. Ông ta quay sang người bạn, nháy mắt cười vui vẻ nói:
- Cậu thấy chưa?...Dân mình ngu lắm. Phải có tôn giáo dẫn dắt và phải có ngọn roi để dạy dỗ họ.



Đã bốn giờ ba mươi tám phút!
Thời giờ đi mau quá. Lưng, áo tôi ướt đẫm mồ hôi. Vẫn chưa thấy tấm biển chỉ đường vào đơn vị đặc nhiệm M.035 đâu cả . Tôi giở ra coi lần nữa tấm sơ đồ trên F đã cho... Mũi tên, chữ x nhỏ, chữ X hoa, đường kẻ, dấu chấm... Tấm sơ đồ cầu kỳ, chi tiết mà lại hóa ra vô dụng. "Giờ không tìm thấy đường, đêm chỉ còn cách nhịn đói trèo trên cây mà ngủ!" Tôi nghĩ vậy, rồi nhét tấm sơ đồ vào túi áo, tôi cắm đầu bước đi. "Một liều, ba bảy cũng liều.” Không biết ngả nào mà lần sờ hết. Sơ đồ vẽ một đằng, đường ra một nẻo.
“Mẹ ơi, vong hồn mẹ có khôn thiêng xin đưa đường dắt lối cho con..." Tôi đi ào ào như ma đuổi, mắt không nhìn, chân đưa tới đâu bước tới đấy...
Chừng nửa giờ sau, hiển hiện trước mắt lôi một tấm bảng gỗ bề rộng hai thước, bề cao chừng thước rưỡi, ghi nắn nót dòng chữ: “Đơn vi độc nhiệm M. 035 - cách 500 thước”. Một mũi tên vẽ hùng dũng. Tất cả viết, kẻ bằng nhựa đường rõ rệt. Tôi dừng lại lau mồ hôi. Gió rợn lên khiến toàn thân tôi mát rượi. Ôi hạnh phúc. Chẳng kém gì hành quân mùa khô nẻ lại gặp dòng nước khe. Xóc ba-lô, tôi rảo bước và bắt đầu mơ tưởng đến một mái lán, một bữa ăn nóng. Chẳng gì đại đội trưởng Húc cũng là chiến hữu của tôi. Dù chiến hữu của thời quá vãng. Chắc chắn Húc sẽ thết đãi tôi mấy món hắn thích: nộm chuối rừng, thịt hộp nấu rau chua me, sơn dương hay hoẵng nướng. Ôi chao, hắn là một tay săn bắn ngoại hạng. Cái thời chúng tôi ngoéo tay thề kết nghĩa anh em, hắn đã nuôi tôi triền miên bằng thịt thú rừng. Nửa đêm, tôi ngủ say là hắn lùi lùi ra đi. Tới sáng, có khi tôi chưa kịp tung chăn ngồi dậy hắn đã vào ngồi ghé bên giường, toàn thân toát ra khí lạnh của núi, mùi cây lá, mùi sương đêm, cả mùi lông thú mà hắn vác trên vai. Xung quanh người ta cười hắn mê tôi. Họ đâu biết tôi đã cứu hắn khỏi một ngọn đòn trời giáng của tay chính trị viên đại đội. Húc là kẻ hữu dũng vô mưu, đánh giặc tận tụy nhưng đối đãi với đám người xung quanh lại lỗ mãng. Tên hắn cũng lạ đời: Tạ văn Húc. Hắn có biệt tài nấu ăn, ngang tài săn thú. Các món ăn hắn sáng tạo với các loại rau rừng và thịt rừng thật tuyệt vời. Riêng nộm, ngoài nộm chuối, nộm môn thục, nộm rau mì chính, hắn cả gan nộm rau tàu bay, đọt sắn non và lá ớt. Bởi vậy, đám lính của hắn, vào trận mạc sợ thủ trưởng như sợ cọp nhưng về hậu cứ lại nhõng nhẽo vòi ăn suốt ngày...
- Rắc…… ắc...
Một cành cây khô gãy rơi ngay sau gáy tôi. Hú hồn! Chết theo kiểu bị cây gãy hay xà nhà đổ vào đầu, người ta gọi là ách thượng lương. Tôi thấy hơi lạnh nên rảo bước. Được chừng một trăm bước chân nữa, có tiếng ầm ầm vọng tới rõ ra tiếng chặt cây. Khi những hồi âm tan lắng lại có tiếng rù rì đều đặn tựa dòng âm thanh đậc sánh chảy giữa hoang vu. Quái lạ! Đã quá năm trăm thước mà chẳng thấy doanh trại đâu... Lại có thứ tiếng động kỳ quái kia nữa... Chẳng lẽ chúng nó cắm tấm bảng để lừa mọi người?..."
Hồ nghi nhưng tôi vẫn bước. Vùng này không thể có tụi thám báo xâm nhập nên không ai bày trận giả để mai phục ai. Trên F, người ta đã nói với tôi kỹ lưỡng... Đang nghĩ, chợt tôi đụng đầu vào một chiếc cổng chào bằng gỗ: “Đặc nhiệm M.035.” Bảng gỗ đã bắt đầu gãy, gỗ nứt từng kẽ dài. Lạy trời, cuối cùng tôi cũng đã tìm ra mà trời còn chưa tối. Hăm hở, tôi đi một mạch vào doanh trại. Qua cổng chừng năm chục mét có ba dãy nhà nằm châu hình chữ Môn. Toàn bộ vách thưng gỗ kín đáo. Một khoảng sân trống trồng lưa thưa dăm cây hoa mào gà. Nhưng cách sân vài mét có một khoảng vườn rộng trồng toàn rau. Có cả rau bạc hà, rau mùi tàu, rau thanh hao và xương rồng... Toàn những thứ gia vị siêu việt không thể mơ tưởng trong thời chiến. "Đúng là thằng Húc..." Tôi thầm nghĩ không khỏi tủm tỉm cười. Vượt qua sân, tôi đến khu nhà chính. Các cửa đều chẹt gỗ phía trong, và cửa cuối cùng được xoắn bằng dây thép.
Tôi xuống khu nhà bên trái, nơi duy nhất có một cánh cửa nửa mở nửa khép.
- Có ai trong nhà không?
Tiếng vọng trả lại tôi.
- Có ai đấy không?
Tôi hỏi lần thứ hai, và lần thứ hai cũng chính tiếng vọng của tôi đáp lời. Tôi xô cánh cửa, bước vào. Hai dãy giường trống chạy dài, bụi trắng xóa. Riêng chiếc giường cuối có trải vải thô màu cỏ nhạt, bày bề bộn vài trang giấy, hai cuốn vở học trò. Một chiếc bút bi Mỹ lăn lóc. Một khúc gỗ bào nhẵn làm gối đã nhuốm màu đen và bóng như sừng. Trên nóc lán, treo tròng teng chiếc ba-lô. "Họ đi đâu cả, chỉ cử một người giữ doanh trại. Số mình thật không may..." Tôi nghĩ. Đoạn, bỏ ba-lô lên một tấm phản, tôi ngồi bệt xuống cửa, duỗi dài đôi chân. Những tia mặt trời phía tây rọi thẳng vào mắt tôi, chói nhưng ấm áp. Tôi nhắm mắt, tựa đầu vào khuôn cửa, tận hưởng khoảnh khắc hạnh phúc bất chợt của thiên nhiên vốn ác độc và hay lật lường. Tôi thấy ánh tà dương có một mùi thơm, mùi thơm tựa như hoa sởi trộn với dạ hương, thứ mùi làm kinh sợ tuổi thiếu niên và khai nở những giấc mộng tình. Cái dạ dày sôi sục của tôi xẹp xuống, dường như cơn đói tạm lui. Tôi bắt đầu lơ mơ...
Có tiếng bước chân lẹt xẹt. Tôi mở mắt: Một lão già đầu trọc lụ khụ bước lại phía tôi, xanh lét như một thây ma biết di động. "Sao ở đây lại có người già?" Tôi giật mình. Lão già gật gật đầu như chào tôi, môi nhếch lên như cười.
Tôi đứng dậy:
- Chào đồng chí.
- Chào đồng chí...
Thây ma thều thào đáp.
Tôi nói:
- Tôi đến gặp đại đội trưởng Tạ văn Húc.
Lão trọc gật đầu, giơ tay chỉ về phía những ngọn núi đàng sau doanh trại, nơi tiếng rù rì bí ẩn đang phát ra không ngớt:
- Thủ trưởng và đơn vị đang ở hiện trường. Chỉ có em giữ doanh trại.
- Lúc nãy đồng chí ở đâu, tôi tìm không ra?
- Em đi đồng, em bị kiết lỵ...
Nói xong, lão nhăn trán, ôm bụng. Có lẽ vì cơn đau hành hạ. Lúc ấy tôi mới thấy hàm răng trắng nõn của lão, hai bên cánh mũi mịn và đuôi mắt không vết nhăn. Hình như đây là người bệnh lâu năm chứ không phải lão già. Nhưng cái đầu trơ trụi, không một sợi tóc khiến tôi hồ nghi, tôi hỏi:
- Đồng chí bi kiết lị lâu chưa?
- Bốn năm bảy tháng, sau khi nhập ngũ được một năm rưỡi.
- Vậy đồng chí mới nhập ngũ được sáu năm!
- Vâng, tháng sau em tròn hai mươi bốn tuổi.
Tôi bàng hoàng nhìn cái đầu bóng lọng, xanh xám, nhìn lớp da nhăn nheo trên cần cổ, cả tấm thân trong suốt như không phải tạo bằng da thịt mà bằng một loài rêu đá:
- Đồng chí bị kiết lị, sao không chữa từ đầu?
Cậu ta ngước mắt nhìn tôi. Tôi thoáng rùng mình vì cặp mắt ấy trong veo, hệt như cặp mắt của Hoàng, cặp mắt của những chàng trai chỉ sống bằng mộng.
Cậu ta ngước mắt nhìn tôi, cười cười và đáp:
- Em có uống thuốc ạ... Nhưng bệnh chỉ khỏi từng đợt rồi tái phát... Kỳ này, nặng quá...
- Thế sao không xin chuyển về hậu phương?
- Em không muốn... Em tin em phấn đấu được...
- Bệnh phải trị bằng thuốc chớ?
- Vâng, tại kỳ này không có thuốc. Đơn vị đặc nhiệm ở sâu, khó liên lạc. Anh Húc định có đoàn nào đi qua sẽ gửi em ra bệnh viện ngoài quân khu... Nhưng chờ mãi chưa có đoàn nào qua. Mà em lại bị thêm sốt rét ác tính, hai tháng trời, rụng hết tóc...
- Đồng chí ăn uống thế nào? Đơn vị vào rừng bao giờ mới ra?
- Em ăn cháo. Thủ trưởng Húc quan tâm đến em lắm. Săn được con thú nào cũng mang thịt về cho em... Anh chắc quen với thủ trưởng?
- Chúng tôi là chiến hữu từ ngày nhập ngũ.
- Vậy anh vào hiện trường đi. Chắc thủ trưởng mừng lắm.
Tôi ngần ngừ hỏi:
- Đồng chí ở đây có một mình thôi à?
- Anh đừng lo cho em... Em quen rồi. Em vẫn giữ một khẩu A.K.
Rồi cậu ta cười, hai vành môi xinh đẹp nhưng trắng nhợt như giấy ngâm. Một tia sáng chiếu vào hàm răng óng ánh. Cậu giơ ngón tay lên làm điệu:
- Yên tâm đi. Em vẫn đủ sức bóp cò: pằng pằng pằng...
Tiếng nói yếu, đôi lúc như hụt hơi. Tôi bảo:
- Đồng chí vào nhà nghỉ. Có cần tôi giúp gì không?
- Không. Anh đi đi kẻo tối. Lối tắt đây này... Chỉ mươi phút là tới.
Tôi đi theo lối tắt mã cậu ta vừa chỉ. Lối men theo khe cạn. Chỉ mươi phút sau, lối đã tới hiện trường. Để chào đón tôi, là tiếng đổ của một thân cây lớn, làm rung chuyển tất cả. Bốn bề núi vọng ầm ầm. Có tiếng người hét và ai đó reo to:
- Hoan hô... Nghỉ đi thôi...
Những tiếng khác lao xao, nghe không rõ. Tôi vượt qua một trái núi thấp chỉ còn trơ những gốc cây đã bị cưa, nhô khỏi mặt đất chừng nứa thước. Chân tôi dẫm lên rất nhiều đống mùn cưa lẫn với cỏ. Trời bắt đầu tối. Không còn trông được rõ những rễ cây bò ngang lổm chốm, tôi vấp ngã luôn luôn...
Chừng hút tàn điếu thuốc, tôi nhìn ra một ngọn lửa ở phía trước mặt. Đồng thời tôi đụng phải những khúc gỗ lớn nhỏ ngổn ngang, những dàn cưa dựng cao sừng sững. Không gian nức mùi gỗ. "Đơn vị thằng này làm thợ xẻ. Tiếng rù rì lúc nãy là tiếng cưa. Có thế mà mình không nhận ra". Xung quanh đống lửa, lăng xăng những người chạy qua chạy lại. Vì đi từ chỗ tối ra nên tôi nhìn thấy họ, nhưng họ không thể thấy tôi. "Thế này mà có thám báo, chắc bị chúng xơi gọn.
Hớ hênh quá. Xưa nay thằng Húc có liếng là cẩn thận cơ mà". Tôi nghĩ vậy và đi vòng quanh một gốc cây lớn để tìm Húc. Cuối cùng, tôi thấy cậu ta nằm chênh ềnh trên chồng ván xếp gần đống lửa, dáng điệu vừa mệt mỏi vừa thỏa mãn...
- Ai? Giơ tay lên!
Một cái nòng súng lạnh buốt dí ngang sườn tôi.
- Giơ tay lên !
Tiếng quát lặp lại. Tôi giơ hai tay lên cao. Húc ngồi dậy và đám người đi lại nhốn nháo quanh cậu ta cũng lùi lại sau lưng Húc. Cậu ta có vẻ một con voi đầu đàn. Cái nòng súng chọc vào lưng tôi đau nhói:
- Đi!
Tôi tiến về phía Húc, vừa đi vừa lo ngay ngáy. Kẻ áp tải mình lỡ tay chạm cò súng thì nguy! Chiến tranh, mạng một tù binh đâu có đáng giá gì...
Húc đã đứng lên. Cậu ta giương mắt nhìn tôi chằm chặp. Tôi nhìn lại cậu ta rồi bất chợt buông tiếng cười. Quả thật, vẻ mặt căng thẳng của Húc rất khôi hài.
- Anh Quân...
Húc reo lên, nhảy tới ôm lấy tôi.
- Anh Quân... lâu quá... lâu quá...
Húc lắp bắp. Cậu ấy có tật nói lắp mỗi khi xúc động.
Tôi bảo:
- Định giả bộ tụi thám báo dọa các cậu. Ai dè bị lính của cậu dí súng vào lưng điệu đi. Cái điềm này khéo tôi sắp trở thành tù binh thật.
Chú lính gác cười cười, chúc mũi súng xuống đất. Húc phởn chí nói:
- Anh coi thường em quá... Húc cơ mà! Vẫn nhớ nguyên những bài bản anh dạy ngày xưa. Lại bổ xung kinh nghiệm chiến đấu...
Cậu ta dắt tay tôi tới ngồi bên đống lửa. Bộ ngực trần bóng như xoa mỡ bắt ánh sáng trông giống pho tượng đồng.
Tôi hỏi:
- Sao dạo này đen thế ?
Húc giơ tay chỉ:
- Suốt ngày phơi lưng trên đồi trọc kia kìa, mai anh sẽ thấy.
Tôi hỏi tiếp:
- Biền đâu?... Cậu ấy có khá không?
- Biền sắp gánh cơm lên đây. Khỏe như ông hộ pháp mà tốt bụng lắm. Anh cho em cậu ấy bằng cho vàng. Chúng em đã kết nghĩa tử sinh rồi đấy. Chúng em bằng tuổi nhau.
- Thế thì tôi mừng lắm.
- Biền nhắc đến anh luôn.
Tôi gật đầu:
- Chúng tôi là bạn đồng môn, lại cùng làng.
Thấy người tôi đầy bụi và ướt đẫm mồ hôi, Húc đưa tôi xuống suối tắm. Trời tối mịt. Chúng tôi dắt nhau mò mẫm đi . Khi sắp xuống bãi sỏi, Húc bảo:
- Cách đây bảy mươi thước là bếp ăn của đơn vị. Biền đang lo sắp quang gánh đem lên.
- Bếp sao tối thui tối mò như vậy?
- Đề phòng tụi thám báo. Dù trên F đã công bố khu vực này không thuộc phạm vi hoạt động của chúng nhưng em vẫn lo. Chẳng lo chúng đánh lén mà lo chúng vào ăn trộm muối. Ở đây, muối còn quí hơn máu người.
Đợt trước, đơn vị em chết non chục người vì phù thủng. ăn tro cỏ gianh, tro lá rừng mãi, có cậu đái ra thứ nước tiểu đục như nước đất. Không có muối, thịt thú rừng ăn vào miệng cũng muốn nôn ra...
Húc bước xuống suối trước:
- Xuống đây anh. Đoạn này lòng suối thoải ngon lành lắm...
Tôi cởi quần áo, mò mẫm xuống theo. Những gợn nước, ánh trong đêm, như đường trườn của rắn. Mắt tôi đã quen với bóng tối, nhìn lờ mờ được cảnh vật nhờ ánh lân tinh quanh quất giữa những đám lá mục hắt lên. Nước lạnh mát, dễ chịu.
Húc bảo:
- Quần áo bẩn để sáng mai giặt. Ít nhất anh cũng ở đây chơi với em và Biền vài ngày.
- Cũng muốn ở nhưng ngại ông Lương kỳ kèo...
Nói thế nhưng tôi cũng đưa mớ quần áo bẩn cho Húc gài lên cây. Tắm xong, bụng đói cồn cào. Hai chúng tôi trở về . Đống lửa cháy rực lên giữa rừng đêm, lộng lẫy. Anh em xúm quanh.
- Mau lên, đói quá thủ trưởng ơi...
Một cậu kêu to.
Húc quát:
- Sao không ăn trước.
Lúc ấy, Biền vụt đứng lên ôm lấy tôi. Tôi yên lặng vỗ vai cậu ta. Một tích tắc sau, bọn tôi ngồi xuống ăn cơm. Đó là một trong những bữa cơm ngon nhất trong đời. Cơm chỉ còn âm ấm nhưng gạo thơm sực mùi cám. Mùi gạo ấy đem hương vị của mùa gặt làng quê tới tận chốn thâm sơn này. Thức ăn gồm đu đủ xào mỡ, ớt mọi trộn mắm tôm.
Húc bảo:
- Anh ở đây vài ngày. Em sẽ đi kiếm con nai về nướng ăn.
- Tôi đi lâu quá rồi. Sư đoàn họ riềng cho...
- Vài ngày là bao?... ra đêm nay em vác súng đi ngay được, nhưng sắp phải nộp hàng.
- Hàng à?... Tôi thấy các cậu đẵn cây, cưa gỗ. Làm gì?
- Lát nữa anh sẽ thấy. Hàng đặc biệt dành cho chiến trường.
Một cậu lính cười hô hố:
- Thủ trưởng không thấy cổng doanh trại của bọn em đề chữ gì ư?... "Đơn vị đặc nhiệm. Làm hàng hóa đặc biệt cho chiến trường."...
Tôi bảo:
- Rau nào sâu ấy! Từ đại đội trưởng tới lính, cả lũ đều mắc chứng ỡm ờ.
Húc cười. Đám lính của cậu ta cũng cười phá lên. Rồi Húc ghé tai tôi nói:
- Anh cứ ăn cho ngon cơm. Nguyên tắc của tụi em là chỉ kể chuyện tiếu lâm và thực phẩm trong bữa cơm, cấm chỉ mọi chuyện khác.
Biền có đem tới một thùng chè đen cho mọi người uống sau bữa cơm. Húc bảo chính Biền đã phải lặn lội đi bốn chục cây số để đổi gạo kho lấy gạo tươi của dân bản và mua chè. Nếu không có ông khổng lồ ấy, cả đơn vị đêù bị phù thũng vì gạo kho lâu năm ăn xốp như bông, không còn chất cám. Húc còn nói thêm là đám con gái Vân kiều cứ nhìn thấy Biền là đờ đẫn như hít phải thuốc mê. Có cô vượt bảy chục cây tới chầu chực ở bìa rừng... Húc kể tới đó, đám lính cười rú lên... Biền cúi mặt, lẩm bẩm:
- Ông này chuyện lằng nhằng...
Tôi cũng cười, vỗ vai Biền nói:
- Người anh hùng của đơn vị .
Ánh lữa đùa giỡn trên mọi gương mặt trẻ trung. Những lưỡi lửa vọt lên cao, rền dừ, rồi lại tụt xuống thấp, uốn lượn giữa những đám tàn lửa rực rỡ. Mọi hình ảnh đều có thể nảy sinh trong làn ánh sáng cổ xưa và huyền bí ấy, cả những ảnh tượng tương lai chưa rõ nét tới những kỷ niệm xa mờ của dĩ vãng.
Lửa đêm, quà tặng của cuộc trường kỳ kháng chiến.
Trong ánh lửa, gương mặt sốt rét nào cũng trở nên hồng hào! Làn da xám ngắt vì chứng tê thấp hay suy dinh dưỡng cũng được tô điểm thành tươi sáng! Mọi ánh mắt đều long lanh!
Tôi biết ngày mai ánh mặt trời độc ác sẽ vạch trần sự thực. Nhưng đầu sao, vẻ đẹp của lửa đêm, vào khoảnh khắc ấy vẫn cuốn hút tâm hồn tôi... Tôi cũng không hiểu tôi nữa!
Tôi buồn, tôi khắc khoải, tôi say mê...
Đám lính xung quanh vẫn chuyện rào rào. Các trận cười nổ ran như pháo. Húc bảo chẳng mấy khi được có khách nên anh em hứng chí, thức khuya. Mọi hôm, cứ cơm nước xong là mọi người đi ngủ. Làm việc nặng cả ngày, đặt lưng xuống tức khắc ngủ như chết.
Mọi cuộc vui đều phải có lúc tàn. Chín giờ đúng. Húc bảo mọi người đi ngủ và nhắc:
- Chỉ còn ngày mai. Sáng ngày kia có người đến lấy hàng. Anh em chuẩn bị tư tưởng làm kiệt lực. Chúng ta còn thiếu mười lăm chiếc.
- Rõ.
Đám lính đáp lời và đứng lên. Tôi nhìn quanh quất.Không hiểu họ sẽ ngủ ở chỗ nào. Trên đầu là trời. Xung quanh là không gian thăm thẳm. Xa hơn nữa, nơi những làn sương phập phồng trên vực tối là rừng núi... Nhưng đám lính tỏ vẻ không ngại ngần gì hết. Họ thẳng tới một tấm ván mới xẻ chất đầy những quần áo và tăng võng. Người nào tìm đồ của người nấy. Húc bảo Biền:
- Đêm nay để anh Quân nằm cạnh cậu nhé. Tha hồ nghe chuyện làng!
- Vâng.
Cậu đưa cái chăn thám báo của tớ cho anh Quân. Tớ sẽ đắp chiếc áo thu-đông của cậu.
Biền gật đầu:
- Ổn rồi.
Đoạn Biền đi tới nơi cất giữ quần áo cho đơn vị. Vài phút sau, Biền quay lại. Lúc ấy, đám lính đã tản đi. Biền bảo tôi:
- Đi đi .
Húc nói:
- Mai anh Quân cứ ngủ cho kỹ nhé. Tụi em phải dậy sớm.
Biền đưa cho Húc chiếc áo. Húc đi.
Tôi với Biền đi sang hướng khác.
Càng xa lửa, mọi người càng khuất bóng dần. Họ len lỏi giữa những gốc cây cụt, những dàn xẻ, những khúc gỗ lăn lóc . Chân tôi sục vào mùn cưa. Chợt nghe giọng Húc oang oang:
- Đêm nay cậu nào gác?
Có tiếng đáp tức khắc:
- Em. Quang.
- Nghiêm chỉnh đấy nhé. Khéo hổ về!
- Thủ trưởng yên trí.
Biền chợt dừng lại, bảo tôi:
- Đây rồi.
Cậu ta kéo tay tôi lại gần, chỉ cho tôi thấy một vật trăng trắng nằm ngay dưới chân tôi:
- Anh ngủ ở đây.
Tôi thấy vật trắng dài bốc mùi nhựa gỗ. Biền bảo:
- Em cậy nắp cho anh. Anh nằm vào rồi em đậy lên.
Tôi lạnh gáy, bật kêu:
- Quan tài hả?
- Vâng. Đơn vị đặc nhiệm chuyên đóng. Lúc nãy anh Húc không cho nói sợ anh ăn mất ngon... Tụi em ở đây quen rồi.
Tôi đứng im, không biết nói gì, không cảm giác. Chỉ thấy các đầu ngón chân tê tê. Biền nói tiếp:
- Hồi đầu, đơn vi đóng hòm ở hiện trường, tối kéo về ngủ tại doanh trại. Nhưng, đốn hết gỗ núi gần, phải đốn đến núi xa, ăn ngủ, di chuyển cách rách quá nên anh Húc quyết định chuyển bếp nấu ăn lên đây. Còn ngủ, cứ mỗi anh chui vào một cỗ quan tài. Vừa sạch, vừa có nắp đậy tránh sương gió.
Biền cúi xuống kéo tấm ván nắp hòm ra:
- Anh nằm vào đi... Quen ngay ấy mà.
Tôi nằm vào quan tài. Biền đắp chăn cho tôi. Tấm chăn dù thám báo nhẹ bông, mát lạnh. Xong, Biền đậy nắp ván.
Rồi cậu ngồi thụp xuống, quờ quạng hồi lâu. Lát sau, Biền đặt một mẩu gỗ lên đầu quách, kê cho giữa thành hòm và mảnh ván có một khe hở. Biền ngắm nghía, nói:
- Thế này đủ thoáng khí. Hở rộng quá sợ đêm lạnh và hơi người bay nhiều, hổ dễ đánh mùi.
- Vùng này lắm hổ thế cơ à?
- Vâng. Đây được coi như hậu cứ nên ít có bom. Hổ từ các khu rừng núi bị oanh tạc dạt về.
- Các cậu có ai bị không?
- Không, chưa ai bị vì tụi em luôn luôn có người gác. Chủ yếu là gác hổ. Sau mới tới đề phòng thám báo. Cứ nghe mùi hôi là nổ súng liền. Dạo em mới về đơn vị chứng kiến hổ tha cái đầu của một cô gái ngay trước cổng doanh trại. Chắc là giao liên.
Biền tự nằm vào hòm của mình, nhưng không đậy ván. Cậu ta nhô đầu lên hỏi chuyện tôi. Vừa nói tôi vừa nhìn qua kẽ hòm. Ở đấy, trên nền trời mông lung, hiện lên vành trăng hạ tuần gầy guộc. Trăng có màu tím ngắt, tựa hồ cánh bông cúc tím tàn. Nghe chuyện xong, Biền nói:
- Tôi thương bố tôi quá...
- Ư hừ, tao thì lại ghét bố tao!
Rất tế nhị, Biền lảng chuyện:
- Bao giờ chiến thắng?
- Tao đã hỏi ông Lương, ông ấy không trả lời.
Chúng tôi im lặng hồi lâu. Rồi Biền nói:
- Ngủ đi Quân nhá. Mai tôi phải dậy sớm.
Kéo tấm chăn thám báo lên ngang mũi, tôi nhắm mắt.
Mùi gỗ mới hòa với mùi mồ hôi tẩm trong chăn bỗng trở nên quen thuộc. Tôi không còn áy náy. Dường như sinh ra, tôi đã quen ngủ trong chiếc giường loại này. Tôi ngủ say...
Có hàng triệu con ong đang bay. Không trung trong biếc như ngọc. Tiếng rù rì miên man ru ngủ tâm hồn... Rồi một cánh đồng cúc tím xôn xao hiện lên dưới ánh rạng đông. Những bông cúc tím trĩu nặng sương, trĩu nặng mật. Đàn ong hòa nhập vào cánh đồng cúc, rù rì, rù rì...
Một tổ ong khổng lồ bằng sáp trắng hiện ra giữa không trung. Mặt trời rọi bạc. Đất bên dưới mờ mịt khói lam, trôi phiêu diêu như tấm khăn choàng bị gió cuốn. Tiếng rù rì của triệu con ong vẫn vang không ngắt. Giai điệu buồn tẻ, đơn điệu lặp lại dai dằng làm sao! Âm điệu ngập tràn tất thảy như cơn hồng thủy, nhấn chìm mọi âm thanh khác, nuốt hết mọi tiết điệu khác và chế ngự vũ trụ. ..
Tôi mê man trong âm điệu kỳ vĩ đó.
Tôi đi, trên cánh đồng cúc tím, mê man đuổi theo làn sóng âm thanh... Tôi đi, đi hoài...
Tôi cũng phiêu diêu như mặt đất. Rồi tôi thấy mình râu tóc bạc phơ, áo quần tơi tả, cứ chạy mãi chạy hoài trên cánh đồng.
Có một tiếng sấm vang rền nơi chân trời, tia sét rạch giữa không trung chan hòa ánh nắng. Tôi kinh hoàng ngước mắt lên, tôi thấy chiếc ổ ong khổng lồ kia đang tan chảy.
Mỗi ô cửa lục lăng rơi xuống một cỗ quan tài. Hàng triệu cỗ quan tài rơi xuống mặt đất, chồng chất lên nhau...
- Anh Quân... hét gì mà to thế?...
Luồng ánh sáng chói lóa khiến tôi choáng váng. Tôi vội kéo chăn phủ kín đôi mắt.
- Dậy đi anh...
Tôi nhận ra tiếng Húc. Định thần vài phút, tôi tung chăn ngồi lên. Húc đang đứng chống nạnh trước mặt tôi, nhăn nhở cười:
- Khiếp! Mê gì mà hét to thế ?
Tôi cười trừ, trèo ra khỏi quan tài. Mặt trời đã lên cao, sáng lóe như gươm đâm. Xung quanh tôi, cả trăm con người đang nỗ lực làm việc. Những đàn cưa xếp chéo cánh sẻ, xoèn xoẹt không ngừng. Bụi gỗ bay mù, không khí thơm phức.
Anh em chuyển những tấm ván xẻ cho nhóm cưa tấm và vào mộng. Mấy chàng lính còm được giao việc căng dây, lăn mực, tay đen nhẻm, bút chì dắt tai, hệt đám phó mộc vườn. Tiếng chí chát xen tiếng cưa miên man dội trong bầu không gian lặng lẽ...
Húc giơ tay chỉ những trái núi trọc, lô nhô gốc cây cụt và những đám dương xỉ bò quanh:
- Anh thấy không? Tụi em đã quét cơ man nào là gỗ.
Tôi gật đầu:
- Khiếp thật!
Húc nói tiếp:
- Hàng nộp cho chiến trường tăng vô kể, làm bã xác cũng không kịp. Em đang đề xuất trên bổ sung thêm một trung đội lính khỏe. Trên đã duyệt nhưng chưa có lực lượng thực thi. Hiện tại thì vẫn phải cố gắng... Anh xem kia... Húc chỉ cho tôi thấy một tấm băng rơi lắt lẻo trên cành cây:
- Khẩu hiệu em nghĩ ra, anh xem có thuận tai không?...
Đoạn, Húc hét to:
- Lâm ơi, treo lại cái khẩu hiệu cho có khí thế! Cậu nào trưa qua mượn tạm dây căng chưa trả hả?...
Cậu lính tên Lâm đáp:
- Nhóm hạ cây mượn để bật mực thủ trưởng ạ... Nhưng em tìm được dây thay đây rồi.
Cậu ta lấy một đoạn dây buộc tấm băng vào vị trí cũ.
Tôi đọc thấy những dòng chữ kẻ nắn nót bằng thú mực bật gỗ đen như than:
"Đơn vị đặc nhiệm quyết tâm hoàn thành vượt mức kế hoạch. Mỗi chiên sĩ là một nhà phát minh sáng kiến, tập trung trí tuệ tập thể, cải tiến lao động, tăng năng xuất, phấn đấu giao nộp hàng tốt cho chiến trường. "
Tôi nói:
- Hay lắm.
Húc bảo:
- Xưa nay em có thuộc loại văn hay chữ tốt đâu... Nhưng phải tìm cách động viên lính. Anh xem, bi nhốt giữa chốn thâm sơn cùng cốc thế này, sách báo, thư từ hàng năm chẳng có, ăn uống chật vật khốn khổ, thuốc men cũng thiếu... May mà có Biền nó chiụ khó xoay sở nên đơn vị mới được như ngày nay.
Tôi bảo:
- Cậu có tay săn sát thú, sao không truyền cho anh em?
- Săn là một nghệ. Có phải cứ truyền là thành tài đâu. Đơn vị chỉ có em với cậu Lâm đi nổi. Nói thật với anh, tụi em không tự túc được chất tươi thì quị từ lâu. Vùng này, nước xanh như mắt mèo. Thượng nguồn suối, thuần thứ rừng lim già, ác mó... Anh ăn sáng đi nhé. Em phải sang xem họ vào mọng ra sao.
Húc đưa tôi suất ăn sáng, đoạn tất tưởi đi sang trái núi trọc bên kia.
Tôi kiếm một khúc gỗ ngồi, giở gói lá ra: một vắt cơm bằng con sò lớn, trên quệt cục mắm tôm. Một khúc sắn luộc. Tôi nhai từng chút một, ngon lành.
Xưa kia, tôi không biết ăn mắm tôm. Mùi tanh khắm của nó làm tôi kinh sợ. Tôi cũng ghét lây cả những người đàn bà thường xà xuống quanh mẹt bánh đúc mắm tôm, thè dài lưỡi đón miếng bánh một cách say sưa, bất kể đến vẻ đẹp . Từ ngày nhập ngũ, tôi quen dần với món ăn này. Giờ thì nghiện! Mùi tanh khẳn của nó gợi cho tôi những xóm chài, bờ biển, ngọn lửa nướng cá cháy liu riu nơi bãi cát, tiếng rì rào của rừng phi lao... Tất thảy cảnh xót thương của những xóm mạc miền Quảng bình: Nơi tôi đã sống gần trọn ba năm, đã quen thân những con người chất phác và vị tha, những con người chịu ăn sắn suốt bốn mùa để gửi tới hạt gạo cuối cùng cho các chiến sĩ.
Những người dân ấy, có lẽ chẳng bao giờ nhớ tôi, nhưng tôi luôn luôn nhớ họ. Một ngọn khói mờ vấn vương không dứt trên hoang nguyên thăm thẳm của dĩ vãng...
- Xoẹt, xoèn xoẹt, xoèn xoẹt...
- Chát, chí chát, chí chát...
Xung quanh tôi, công trường vẫn hoạt động náo nhiệt, hối hả.
- Xong chưa Huân, nhanh tay lên, trưa mẹ nó rồi!
- Chỉ còn chiều nay thôi đấy nhé, con lạy các bố khẩn trương lên cho!
- Quát ơi, mày sang băng cho thằng Toàn một tí, lưỡi cưa xoẹt vào bắp tay nó...
Một chiến sĩ di ngang qua chỗ tôi ngồi, mỉm cười:
- Anh rủi quá, đến đúng lúc rối tinh rối mù lên! Bảnh mắt sáng mai, đám Vân kiều tới nhận hàng.
Tôi bảo:
- Tốt thôi. Tôi ăn sáng rồi, sẽ giúp cậu một tay.
Cậu ta ngần ngại:
- Thôi, thủ trưởng Húc mắng em.
- Có mắng thì nó mắng tôi chớ không mắng cậu.
Cậu ta ngần ngừ một tí rồi nói:
- Em ở vào tổ mọng, việc kỹ thuật anh không làm được đâu Anh chiụ khó sang tổ chuyển ván và phụ việc của Khoa nhé.
Tôi gật đầu:
- Gì cũng được.
Thế là tôi nhập vào nhóm chiến sĩ khuân ván và làm việc vặt do các tổ kỹ thuật khác yêu cầu. Tóm lại, đó là nhóm người vụng dại nhất.
Chúng tôi làm việc tới đúng trưa. Ai nấy mồ hôi chảy như tắm từ tóc xuống chân. Người nào cũng mặc quần đùi.
Lúc Biền đưa cơm ra thì Húc trở lại. Chúng tôi cùng ăn. Rồi tôi xuống suối tắm, giặt. Mớ quần áo gài trên cây hôm qua khô cứng lại thành cục, phải ngâm một lúc lâu. Biền đưa tôi tới nhà bếp, vương quốc của nó! Biền bắt tôi ngủ trưa, ăn cả một con gà rừng nó bẫy lúc mờ sáng. Con gà non, thịt ngọt lừ .
Biền bảo:
- Cẩn thận, xương gà gô cứng lắm đấy.
Tôi gật đầu. Biền lại hỏi:
- Bao giờ chúng ta gặp nhau?
Tôi ném khúc xương ra ngoài, đưa mắt nhìn bờ suối:
- Biết thế nào mà nói trước... Chiến tranh này... Những gì làm được cho mày, tao đã làm. Giờ mày muốn gì nữa, cứ bảo tao. Sức có tới đâu tao làm tới đó...
Biền cúi nhìn mũi giày, lặng thinh. Chóp mũi nó ửng hồng. To như gấu mà lại mau nước mắt. Tôi nói thêm:
- Trước khi về đơn vị, thế nào tao cũng qua sư đoàn để gặp anh Lương. Anh ấy rất thương mày.
Hai giọt nước mắt lăn trên gò má rộng của Biền:
- Tôi làm khổ mọi người... mà nghĩ cũng cực thân.
- Mày cứ nghĩ lẩn thẩn thế thì hóa rồ... Thôi đi đi, tụi lính nó ì éo gọi mày dưới suối từ nãy...
Biền lau nước mắt, nặng nề đứng lên. Rồi nó đi xuống suối . Tôi nhìn tấm lưng vạm vỡ khuất dần trong quầng sáng của cây lá đùa giỡn với ánh trời.
Hồi còn nhỏ, tôi cũng đã từng nhìn vào tấm lưng nó như lúc này, nhưng không phải với nỗi tiếc thương. Hồi ấy, chúng tôi chơi thả diều. Biền khỏe nhất bọn nên bao giờ cũng cầm cuộn dây để đánh cho diều lên gió. Nó chạy trước, chúng tôi theo sau, vượt qua cánh đồng. Và vi vu, con diều chao lượn giữa trời xanh, rót xuống hồn lũ trẻ chúng tôi bao nhiêu nguồn ước vọng.
Tối hôm đó, Húc hớn hở. Kế hoạch đã hoàn thành vượt mức thời gian mười hôm, lại dư ra một sản phầm. Tôi đùa:
- Cái hòm dư ra ấy chắc cậu làm cho tôi.
Húc cười tràn. Và hứng chí bảo lính:
- Đêm nay cho các câụ vui thỏa thích. Mai nghỉ.
Đám lính hoan hô ầm ĩ. Đêm ấy, lửa cháy rừng rực, sáng mê hồn. Ăn cơm xong, mọi người xúm lại kể chuyện tiếu lâm. Rủi không tìm được chuyện kể, phải chống hai tay xuống, chổng mông lên cho mọi người phát! Hết trò, họ chuyển sang đánh bạc. Đơn vị chỉ có bốn cỗ bài, mỗi chiếu bạc tới vài chục người hò hét xung quanh. Ai thua phải nộp nửa lá thuốc Vân kiều hoặc chiụ bôi một vệt mực đen lên mặt. Tiếng cười, tiếng reo hò vang trời.
Húc nói với tôi:
- Lâu lâu chúng em mới có một đêm vui. Anh ở đây chơi nhé. Đêm mai em sẽ đi săn đãi anh bữa thịt thú no nê.
- Đêm nay em phải ngủ vì mệt quá.
Tôi gật đầu:
- Ừ, tắm mà ngủ trước đi.
Thực ra, tôi đã chỉ nói cho Húc yên lòng. Mai tôi sẽ đi sớm. Không còn thời gian...
Hôm sau, tôi chưa thức giấc đã có ba phát súng nổ. Rồi tiếng chân người chạy, tiếng thét đột ngột lẫn tiếng nói lao xao. Tôi nâng tấm ván nắp quan tài, ngồi dậy. Biền đã đứng một bên. Trời sáng nhưng chưa rõ hẳn mặt người. Tôi hỏi:
- Có chuyện gì vậy?
- Hổ về. Nó tha mất một người của ta.
- Ai thế?
Biền trỏ về phía doanh trại:
- Cậu sơn. Câụ ấy bị kiết lị nặng nên Húc giao trông nom doanh trại. Không hiểu sao lại bị hổ cám đi. Sớm nay, bên tổ đốn cây có cậu đi đồng sớm trông thấy, hô hoán lên. Anh em bắn ba phát chỉ thiên đuổi theo...
Chúng tôi đứng bên nhau, chờ đợi.
Chân trời phía đông như mảnh gốm, men rạn vỡ, màu xanh lam đan hòa những sợi trắng lạnh, khắc nghiệt. Phía trên các cánh rừng, sương phập phồng trôi. Những ngọn núi trọc, lởm chởm gốc cây cụt phơi ra trần trụi vẻ buồn bã cay độc . Cách nơi chúng tôi đứng chừng non trăm thước, những cỗ quan tài mới, chất thành đống, gọn gàng, vuông vức, đợi chờ. Khẩu hiệu căng bên trên: "Đơn vị đặc nhiệm quyết tâm hoàn thành vượt mức kế hoạch."
Tôi bảo Biền:
- Tao đi đây. Chờ thằng Húc về là tao đi.
Biền nói:
- Tôi đã gói thức ăn cho cậu mang đi đường.
Vừa lúc ấy, Húc dẫn một tốp lính trở về. Họ vừa đi vừa thở đứt hơi, mồ hôi ướt đầm đìa.
Biền hỏi:
- Thế nào?
Húc cau có:
- Cái thằng khỉ, biết thế trước đây mình cứ cho nó vài cái tát . Đã dặn đi dặn lại khi đi ngủ phải chốt chặt cửa. Ai dè nó quên, để toang hoang!
Biền nói:
- Không phải cậu ấy quên đâu.
Húc vặc:
- Lại bao che cho nó. Có bao che thì nó cũng chết rồi!
Biền đáp:
- Tôi không bênh cậu ấy. Bận trước Sơn kể với tôi: đã ba lần hổ về lượn quanh nhà. Lần nào Sơn cũng kéo hai thanh nứa cật rít vào nhau. Nghe tiếng nứa rít là hổ chạy liền. Hổ sợ nứa. Trong rừng chỉ có nứa mới có thể làm nó bị thương. Và, hễ bị thương, hổ sẽ liếm vết đau. Lưỡi nó sắc, lại bẩn, chắc chắn vết thương nhiễm trùng, hoại tử, lan rộng mãi cho tới khi con vật kiệt sức... Tính Sơn thận trọng, nhưng lần này, tôi tin rằng cậu ấy đi lị nhiều quá nên...
Húc vụt kêu lên:
- Chết tôi rồi...
Rồi mặt cậu ta xanh xám lại. Tôi bảo:
- Bình tĩnh. Đằng nào chuyện cũng đã xảy ra.
Húc nói:
- Tại em. Em chủ quan. Tuần trước em xuống doanh trại thăm nó. Nó cứ đuổi em quầy quậy: “Thủ trưởng đừng lo, em phấn đấu được, em sắp khỏe rồi, thủ trưởng cứ yên tâm làm việc.” Húc nghiến răng lại, hai đường gân nổi dọc quai hàm:
- Thật không ngờ, không ngờ...
Một tốp lính nữa trở về, nhợt nhạt. Một cậu hổn hển:
- Báo cáo... Đã tìm thấy xác Sơn...
- Ở đâu?
- Ở tảng đá đen, khúc suối quành. Hổ đã ăn mất hai đùi và ít gan.
Húc đột ngột gầm lên:
- Thôi, không phải nói nữa. Mang nó về doanh trại khâm liệm.
Cậu ta quay đi. Mọi người im lặng. Không gian cũng lặng tờ. Rồi, bất chợt, tiếng chim rừng lảnh lót vang lên, vô tư một cách độc ác. Tiếng chim chào đón bình minh.
Từ sau lưng tôi, một người lính vượt lên:
- Báo cáo anh, đoàn Vân kiều đã tới nhận hàng.
Húc quay lại:
- Được Tôi ra ngay.
Mắt cậu ta đỏ kè:
- Thật không ngờ, không ngờ cái cỗ hòm dư ra lại để dành cho nó.
Rồi Húc bảo tôi:
- Anh chờ em tí nhá, em phải ra giao hàng.
- Tôi cũng phải đi. Tôi phải trông nom trên một trăm con người như cậu. Mong là chúng ta còn gặp nhau.
Tôi nắm tay Húc, hai bên mép cậu ta hằn nếp nhăn đau khổ.
Tôi bảo:
- Tôi đã từng gặp cảnh tương tự... Tôi hiểu. Nhưng cố mà dẹp nỗi buồn. Chúng ta phải chấp nhận tất cả, vì không có quyền lựa chọn...
Húc ôm chầm lấy tôi. Chúng tôi cứ ôm nhau như thế hồi lâu, tới khi đám người Vân kiều từ chân núi leo lên.
Húc buông tôi ra:
- Anh đi mạnh khỏe nhá.
Tôi đáp:
- Ừ, sẽ gặp nhau.
Biền đưa tôi xuống bếp lấy thức ăn đi đường. Một gói lá chuối buộc sẵn, nặng chịch. Ba phong lương khô với hai hộp thịt.
Tôi hỏi:
- Mày kiếm đâu mà lắm thết Biền bảo:
- Khắc có .
Rồi Biền đeo ba-lô, tiễn tôi một đoạn đường. Khi xuống thung lũng, tôi nhìn thấy đám Vân kiều đi thành hàng, mỗi người cõng trên lưng một cỗ quan tài. Lưng họ gù xuống, vóc thấp bé nên trông họ giống như những người dân đồng chiêm cõng chiếc thuyền nan.
Tôi bảo Biền:
- Nặng thế mà sao họ cõng nổi!
- Cũng phải quen. Đoạn này xe không vào được. Họ phải cõng hàng sang qua núi bên kia...
Tôi gật đầu, ngẫm nghĩ: “Ừ, cũng phải quen thật... Con người phải học thói quen...” Mặt trời đã lên. Sương đóng không còn màu men rạn mà biến thành những lớp mây ngọc trai óng ánh. Các ngọn cỏ leo và các đọt cây nhuốm mặt trời hóa trong suất, hồng hồng...
Đoàn người mang những cỗ quan tài in hình trên đường viền của núi, giữa khung cảnh rạng đông. Bóng họ đi động chậm chạp nhưng kiên nhẫn, mê mải. Hành trình. Con người tự vắt kiệt sức mình để đem được quà dâng cho chiến trường. Trong các tặng vật ấy, biết đâu chẳng có một chiếc dành cho tôi?... Và tôi, và bất cứ người lính nào cũng đã sẵn sàng tiếp nhận món quà kì lạ đó... Trong cả hai hành động, có chung vẻ đẹp tuyệt vời của chiến tranh.
Bất chợt, tôi sực nhớ tiếng kêu xé ruột, man đại của mẹ tôi, gương mặt dầm mồ hôi, nỗi đau làm méo mó một cách kinh dị. Rồi cũng chính trên gương mặt méo mó kinh dị ấy, ngời lên nụ cười rạng rỡ hạnh phúc khi tiếng khóc oe oe của đứa con cất lên và đôi bàn chân đỏ hỏn của nó quẫy đạp trong không khí... Đó, vẻ đẹp mặn mòi của đời sống, vẻ đẹp của tạo sinh.
Vẻ đẹp ấy đã xa vời. Nó lẩn khuất với những kỷ niệm vụn vặt thời thơ bé. Tôi bỗng kinh hoàng. Người ta không thể cùng một lần đắm mình vào hai dòng nước.
Tôi, tôi và những bạn hữu của tôi, chúng tôi đã sống đời lính quá lâu, chúng tôi đã đắm chìm trong vẻ đẹp thời binh đao... Liệu bao giờ, và có thể được chăng, tìm lại ngọn nguồn của vẻ đẹp tạo sinh, niềm đam mê của đời sống an bình?...
Tôi dừng lại, bảo Biền:
- Thôi, mày về đi.
Biền dặn:
- Đi cẩn thận nhé.
Tôi bật cười, buột mồm văng tục:
- Cẩn thận cái cục cứt! Bom đạn tránh người chứ người làm sao tránh được bom đạn. Thôi, về đi. Khỏi lo cho tao, liệu mà lo cho cái thân mày.
Biền làu bàu:
- Rõ thật là...
Tôi giơ tay chào rồi quay phắt đi.
Tôi rất sợ những cuộc chia tay bịn rịn. Nó làm tim ta não nề, ngấm mãi nỗi buồn vào những tháng năm sau...



Tôi thấy mẹ tôi ngồi trên bậc cửa, chân duỗi dài, cho một cái đầu lâu bú. Bầu vú của mẹ, quá quen thuộc với tôi, một bầu vú tròn, mịn, với núm vú rất nhỏ màu nâu hồng.
Mẹ ấn núm vú giữa hai hàm răng trắng nhởn của chiếu đầu lâu .
“Bồng bồng, bống bống, bang bang...” Lời ru bay lên tận đỉnh trời. Và tận đỉnh trời, nắng vàng rây xuống. “Bồng bồng, bống bống, bang bang...” Em tôi đã chết, cớ sao mẹ làm vậy?... Mẹ cứ ấn mãi núm vú giữa hai hàm răng khô. Nước mắt mẹ lã chã rơi, nhỏ vào hai hốc xương tối thui. Nhưng mà cái đầu lâu cứ nghiến chặt hai hàm răng như thế. “Bồng bồng, bống bống, bang bang...” Tôi tỉnh dậy, thấy mình ngồi tựa vào một gốc cây sồi ma ven đường. Ba lô và nửa gói cơm lăn lóc bên cạnh. Một đàn kiến leo qua đùi tôi để tiến công món ăn béo bở đó. Tôi vội vàng mở lá gói, đuổi kiến. Rồi tôi cột chặt gói đồ ăn vào ba lô tiếp tục đi. Mặt trời rọi thẳng trên đỉnh đầu. Một giấc mơ đúng ngọ...
Chân trời tiền duyên lúc ấy tím ngắt. Chỉ quanh quẩn khóm chuối tan nát với những mảnh cột kèo. Hố bom thật chăng? Vì tất cả đã xáo trộn nháo nhào. Chợt một người đàn bà bận quần áo đen tất tưởi chạy đến. Vừa chạy, chị ta vừa hét:
- Chú tê đứng đó mần chi?
Tôi quay lại:
- Chào chị.
Hình như không nghe thấy tôi chào, chị ta hét tiếp:
- Đứng đó mần chi?
Tôi đi tới trả lời:
- Em tìm ông cụ... với con cháu nhỏ...
Không đợi tôi nói hết câu, chị bảo:
- Bom đánh trúng lỗ đáo, hầm trú rồi...
Đoạn, chị kéo tay tôi:
- Đi đi ngay khỏi đây, đi đi...
Tôi chạy theo chị. Lát sau, tới trước cửa hầm, chi mới dừng lại thở hổn hển và giải thích:
- Bom đánh chừ đó. Tới giờ cao điểm rồi... B52 nó rập đúng giờ lắm...
Vừa lúc, từ trong miệng hầm, ba bốn cái đầu nhô ra:
- Mạ, mạ...
Người đàn bà kéo lay tôi:
- Vào đi Hầm sực mùi xăng, mùi cát, và cả mùi bọ chét. Nó khiến tôi nôn nao. Lúc sau, quen bóng tối, tôi biết chị không phải có ba hay bốn mà tới sáu đứa con. Sáu đứa trẻ lóc nhóc sàn sàn nhau như một bầy vịt chưa ra ràn. Chúng quây lấy tôi:
- Cháu chào chú bộ đội.
Tôi chưa kịp đáp lời chúng thì đứa lớn nhất bọn đã ngỏng cổ nghe ngóng rồi hét:
- Hắn tới đó!
Theo hiệu lệnh ấy, cả bọn chui xuống tấm ván ngựa kê giữa hầm, đứa nào đứa nấy rúc đầu vào trong chổng mông ra ngoài. Mẹ chúng hét:
- Rúc xuống ván chưa?
Cả sáu cái miệng đồng thanh:
- Rồi i i.. Mạ nờ……ờ...
Tới đó, tiếng bom bắt dầu rền như sấm.
Người đàn bà, hai tay bịt tai, miệng hét to:
- Chú bịt tai lại lẻo lộng óc chừ...
Tôi cười thầm thấy chị chỉ huy tôi cũng như đàn con nhưng tôi làm bộ áp hai lòng tay lên thái dương cho chị hài lòng.
Trận bom rền liên tục ba đợt. Chắc tốp B5Z này gồm ba chiếc. Lòng đất rung lật bật từng hồi khiến cát sỏi từ nóc hầm lọt qua phên lót rơi lắc rắc xuống đầu tóc tôi và mặt ván ngựa. Hai mươi phút sau, tất cả lại yên tĩnh.
Lũ trẻ lốc nhốc chui ra, lắc đầu, nghiêng tai cho hết cát . Mẹ chúng bảo:
- Để yên cho chú nghỉ, không đứa nào được quấy nghe.
Chị quay sang bảo tôi:
- Chú nghỉ đi, tui trộ ( Tiếng vùng Bình Trị Thiên- Tui: tôi , Trộ: nhìn thấy. ) chú xanh mét... Nghỉ đi rồi , tui kêu dậy ăn trưa.
Tôi xúc bát gạo đưa cho chị, đoạn leo lên bộ ván nằm.
Bộ ván gỗ mát như thạch. Tôi tức khắc ngủ ngay. Giấc ngủ êm, không mộng mị...
Rồi một dàn âm thanh ran như pháo bên tai tôi:
- Chú bộ đội, dậy ăn cơm...
- Chú ơi, má tui biểu kêu chú dậy...
- Bớ chú bộ đội, dậy mau tề...
Tôi ngồi lên, năm cặp mắt nhỏ long lanh, năm cái miệng nhỏ chẩu ra chờ nói. Tôi cười. Đứa con gái lớn nhất, chừng tám chín tuổi đang giúp mẹ dọn cơm. Tôi nghe nó nói:
- Tụi hắn đi rồi. Mang cơm lên trên (Tiếng vùng Bình Trị Thiên- trên ấy) mà ăn.
Người đàn bà cự nự:
- Mày chỉ bày việc. Ăn dưới hầm.
Con bé lảu nhảu:
- Mần răng mà mẹ nạt tui?
Mẹ nó quát:
- Ôi chao, cái miệng mi nhọn rứa?... Mang cơm lên trên.
Con nhỏ cười hi hí. Nó bưng mân lên hầm. Tụi trẻ reo:
- Lên trên, lên trên...
Rồi chúng túm áo tôi:
- Ăn trên... chú bộ đội... Mạ cho lên trên...
Mâm cơm bày dưới gốc cây mít. Thứ mâm hình vuông, chân cao chừng non gang tay, đóng bằng gỗ. Trên mâm chất tú ụ sắn cơm, loại sắn tôi từng ăn ròng rã mùa mưa ở Quảng Bình. Một nắm muối đâm với ớt và mắm tôm đặt lên lá mít.
Lũ trẻ ngồi xúm xít xung quanh, chờ đợi. Nắng rực rỡ khiến mắt chúng hấp him, cánh mũi chúng nở ra vì hít gió.
Ở dưới hầm nhiều, chúng nhớ hơi gió. Đứa con gái lớn ra giọng răn đe:
- Ngồi im nghe, chờ mạ. Đứa nào hoang (nghịch.), tao khẻ (đánh) què tay.
Cặp mi đen rướn cong như mi thiếu nữ. Lúc ấy, người đàn bà từ dưới hầm đi lên, một tay bưng tô cơm vun tới ngọn, một tay bưng tô canh:
- Rồi ..i i...
Chị đặt tô cơm, tô canh xuống góc mâm còn trống, đoạn lấy chiếc bát úp trên tô cơm với đôi đũa đưa cho tôi:
- Chú ăn cơm. Nhà không có chi. Lưa (còn) mấy con tép khô nấu canh chua me cho chú.
Chị lựa sắn, nhấc củ to, đặt củ nhỏ, sao cho sáu phần sắn như nhau:
- Nè, phần con Hoa, phần con Hà, phần con Hướng...
Những đứa bé chìa tay nhận phần sắn, nhưng mắt chúng liếc tô cơm lén lút rồi vội cụp mi xuống. Tôi giữ tay người đàn bà:
- Chị chia cơm cho các cháu. Em ăn sắn.
Chi lắc đầu:
- Không được.
Tôi nói:
- Chi không chịu, em không ăn.
Chi bảo:
- Chú phải ăn mới có sức leo núi, mới có sức đánh Mỹ.
Tụi con tui đang tuổi lớn, ăn chi cũng lớn.
Thằng bé nhỏ nhất chợt nhìn thấy một cục cơm lăn xuống mâm. Nó nhặt bỏ vào miệng. Con chị cả hét lên:
- Hư, răng mi dám ăn phần cơm chú bộ đội?... Ai đánh Mỹ cho mi hả ả ả... ?
Nó đập vào tay em. Thằng bé, nhiều nhất cũng hai tuổi rưỡi òa lên khóc... Tôi giữ tay người đàn bà:
- Chị không được làm thế. Trước ở Quảng bình, em ăn sắn trừ cả mùa mưa. Vả lại, sắn cơm ăn không biết chán.
Chị cau mày, nói gay gắt:
- Tôi không đôi co với chú mấy hạt cơm. Trước kia, nhà tôi thóc tràn vựa, tôm bạc cả thúng, có thèm khát chi mô. Chừ, lâm cảnh binh đao, phải chiụ cực mới đánh được giặc chớ?
Tôi lắc đầu:
- Không.
Người đàn bà ngọt giọng năn nỉ:
- Chú không chịu hiểu điều phải quấy. Chú có nhiệm vụ ăn để lên đường đánh giặc.
Tôi bảo chị:
- Em không nói lý luận. Nhưng nếu chị không nghe, em sẽ đi ngay.
Tôi đứng lên, làm bộ bỏ xuống hầm lấy ba lô. Tới đó, người đàn bà đầu hàng. Chị hớt hải níu áo tôi:
- Nè, thì thôi... Tui nghe chú...
Chị sớt cơm cho lũ trẻ, nhưng vẫn ép tôi ăn một bát.
Chị không đụng tới một hạt.
Tôi nhìn người đàn bà mới ba mươi tuổi mà nếp nhăn chi chít hai bên khóe miệng, tự hỏi: Chị là ai và chị sống ra sao?... Chừng như hiểu nỗi băn khoăn đó, chị cười:
- Chú đừng lo cho tui. Xưa nhà tui hai tòa gỗ đỏ như son. Chồng tui đem dỡ lát đường cho xe kéo pháo (Xe chưa qua, nhà không tiếc)... Mà đó là gia cơ mới tu tạo một đời. Hồi cải cách, bố chồng tui bị quy phản động, còng tay đem ra trường bắn. Trên đường đi, có lệnh hoãn thi hành án, đem giải lên tỉnh. Từ tỉnh, người ta đưa ông lên giam trên rú (rừng). Vậy mà ông vượt ngục, lần lút trên rú sống một năm. Tới khi sửa sai rồi, được trả lại Đảng tịch, ông mới về... Lúc tui về làm dâu, ba bố con rúc trong cái chòi lá. Bảy năm sau, bố chồng tui cất nhà ngói to nhất làng.
Tôi hỏi ướm:
- Anh đi đâu chưa về?
Người đàn bà đáp:
- Chồng tui hy sinh hồi tháng chạp năm ngoái. Anh ấy là đội trưởng đội vận tải đường thủy.
Tôi nhìn chị ngạc nhiên:
- Vận tải đường biển?
- Phải. Tui gốc dân biển. Nhưng từ hồi đánh Mỹ, nửa làng sơ tán lên đây...
Nói rồi, chị vuốt tóc đứa con trai nhỏ nhất:
- Mai sau cu sẽ về đi thuyền. Còn hai thằng anh thì lên rú lấy gỗ dựng nhà cho mạ...
Ngưng một lát, chị tiếp:
- Miễn là, giặc Mỹ cút đi...
Mắt chị mơ màng nhìn xa... Tôi biết, phía ấy là biển. Sẽ có một con thuyền chờ đợi chàng thủy thủ tí hon cởi truồng đang ngồi thèm thuồng liếm từng hạt cơm dính trên mép tô . Miễn là... còn có ngày ấy...
Tôi chào chị, ra đi, tiến đến chân trời tiền duyên. Vào phút đó, nó tím như một miền cúc tím...
Thần may mắn chưa rời bỏ tôi. Đang thất thểu đi, vớ ngay được một đoàn xe tải. Tôi đứng chắn đường. Chiếc xe thứ nhất dừng lại cách tôi hai mét:
- Điên hả?
Tay lái xe hét xong, nhảy xuống nói to:
- Phanh trợt mẹ nó rồi! Có ăn bánh đâu?... Suýt nữa thì toi mạng, mà lại đưa người ta ra tòa án binh. Oan gia...
Tôi nhăn nhở cười:
- Xin lỗi người anh em... thông cảm.
Tay lái xe gắt:
- Lên đi, bố già.
Tôi lẳng lặng leo lên ca bin. Đi được một đoạn ngắn, anh chàng quay sang hỏi tôi:
- Ông tên gì?
- Tôi là Quân.
- Còn tôi là Vũ, hai lăm tuổi. Quê Hưng khôi. Còn ông... chắc ba mươi nhát có lẻ?
- Mới hai mươi tám nhát nhưng sầu đời nên tóc bạc!
- Tôi ở Đông tiến.
- A ha à à... Thế là huyện ông sát nách huyện tôi!
Chúng ta là anh em đồng hương. Kết nghĩa vườn đào nhá?
- Đồng ý.
- Hội đồng hương trong sư tôi đã tới hai mươi ba nhân mạng. Ông tham gia nhé?
Tôi đáp:
- Được thôi.
Một cú xốc khiến tôi chồm về phía trước, chút xíu là đập đầu vào cửa kính. Vũ bậm môi đánh vô lăng rồi nói:
- Cẩn thận. Đoạn này đường lởm lắm... Không chú ý là vập gẫy răng!
Tôi túm chặt thanh chắn, thò cổ nhìn ngoài. Trong ráng chiều, những bụi cây lạc tiên bám đầy bên thành ta-luy vàng rực. Phía dưới tàn lá của chúng, ló lên những túm dương xỉ màu ngọc già... Và những ngọn cỏ leo! ! Tôi bàng hoàng đưa mắt nhìn ra xa: một thung lũng mênh mông trải tới chân trời.
Vũ hỏi:
- Ông qua đây rồi chứ gì?... Thung lũng Bảy-oan-hồn đấy . Tởm lắm, lơ mơ là làm mồi cho mối như chơi!
Tôi lặng im, cố tìm cho ra vùng rừng cũ. Những đám dương xỉ, cỏ leo... và sau đó là rừng môn thục. Bộ xương trắng trẻ trung cười... "đằng ấy đừng oán hận gì tớ nhé. Tớ đã mang ba lô đến tận làng Em nơ, giao cho mẹ. Tớ không ở được lâu vì người đèo tớ đến đàng ấy là một gã khó tính, tớ không muốn làm phiền hắn..." Tôi khấn thầm. Tôi đã đến Em nơ, hỏi thăm bà Đào thị Lý, Người ta chỉ cho tôi tới một bà lão nhỏ nhắn, tóc muối tiêu ngồi bán hàng ngay dưới gốc đa đầu đình. Khi tôi tới, bà đang chuyện trò rôm rả với hai người đàn bà khác, tay không ngừng phe phẩy chiếc quạt nan trên chõng hàng. Tôi chào bà rồi gỡ ba lô xuống. Nhìn thấy chiếc ba lô, mặt bà trắng nhợt. Bà hét:
- Con ơi... rồi ngã lăn. Người ta bôi dầu vào hai lòng bàn chân, cõng bà vào nhà.
Một trong hai người đàn bà ngồi lại trông hàng kể với tôi:
- Bà cụ chỉ có một mình nó. Ông cụ chết đúng năm bà cụ mang thai. Làm đám tang chồng được ba tháng thì sinh nở. Phúc đức là thằng bé ngoan, lại có tài gảy đàn bầu, thổi tiêu, thổi sáo. Gái làng mê tít mà nó chẳng để mắt cô nào... Con trai lớn tướng vẫn còn lẵng nhẵng bám đũng quần mẹ.
Từ ngày nó đi, đã tám năm, ngày nào bà cụ cũng dậy từ mờ sương làm hàng bán... Nhặt từng hào để sau này lấy tiền cưới vợ cho con... Chõng hàng của bà lão có đủ thứ: bún riêu, bánh đúc, bánh dợm, bánh đa lại thêm mấy lọ kẹo bột, kẹo vừng, kẹo bi xanh đỏ...
Vũ đột ngột hỏi:
- Làm gì mà thộn mặt ra thế . Nhớ mẹ à? Hay nhớ nàng?
- Đâu có .
Tôi chưa trả lời hết câu thì lại một cú xốc mạnh. Vũ nói:
- Đã bảo mã... Đoạn này đường tởm lắm. Nó men theo phía đông thủng lũng Bảy-oan-hồn... ông nhìn rõ chưa?
- Ở cũng rõ. Trừ phía kia, chỗ rừng màu cúc gấm.
Vũ quay đầu nhìn hướng tay tôi chỉ rồi đáp:
- Đó là rừng thộp. Mà chính nó là điều khủng khiếp nhất với lính. Thung lũng này mang tên Bảy-oan-hồn cũng vì thế... ông thấy không, phía đông và phía nam thung lũng có màu xanh khác: ấy là màu rừng gai, dương xỉ lẫn môn thục ở các chỗ trũng. Nửa phía tây và tây bắc toàn thộp. Rừng thộp ăn lan qua các dãy núi bên kia. Lạc vào đó, mênh mông bể sở, không sao lần được lối ra: Cây thộp giống nhau như gạch cùng một khuôn nên không dễ gì tìm đặc điểm điạ hình, đia vật. Tôi đã bi lạc cũng chính từ cái rừng thộp ông vừa chỉ lúc nãy...
Tôi hỏi:
- Thông tin, hay công tác đặc biệt?
Vũ lắc đầu:
- Khốn nạn, công tác công teo gì... Tôi đi ị . Lúc ra, không tìm thấy đường. Quay tứ bề, thấy chỗ nào cũng thế, hệt như bi bỏ bùa mê. Cứ vậy là lặn sâu vào rừng thộp. Hú gọi, kêu gào chẳng ai nghe. Lại không mang súng bắn báo động. Gọi mãi không được, đành liều đưa chân. Càng đi càng mê man những thộp. Mà ông biết, chẳng tìm được cái gì bỏ vào mồm. Hai tay trắng, dao không, bát chén không, bật lửa cũng quên trong ca bin... Năm ngày trời, tôi loanh quanh như hồn ma, không hột cơm, không ngụm nước. Tới ngày thứ sáu, không bò được nữa, lăn ra gốc cây chờ chết... Đúng lúc ấy, đơn vị đổ đi tìm. Anh em thương tôi nên giao hàng xong, họ xin thêm người, chia làm ba tốp đi lùng sục. Vừa tìm vừa bắn súng báo hiệu cho nhau. Họ thấy tôi ngất xỉu dưới một gốc thộp, liền cáng về. Trên võng, tôi mê man. Khi bình phục rồi, anh em kể rằng: “Trên đường tìm tôi, họ qua một hang đá. Trước cửa hang có bảy bộ xương người. Da thịt, áo quần, giấy tờ, ba lô... Tất thảy đã bị mối ăn. Chỉ còn bảy bộ xương và bảy khẩu súng hoen rỉ. Xung quanh, mối đùn từng ổ. Từ đấy, chúng tôi đặt cho thung lũng này cái tên thung lũng Bảy-oan-hồn."
Tôi im lặng nghĩ tới oan hồn thứ tám. Và biết đâu, thứ chín, thứ mười?... Làm sao đếm được chính xác những oan hồn trong cuộc binh đao?...
Vũ hỏi:
- Chẳng biết sau chiến tranh, người ta có tới nhặt xương lính không nhỉ?
Tôi nói:
- Chưa biết... Nhưng trường hợp thất lạc thế... thì cũng khó.
Vũ chép miệng:
- Đến lúc ấy thì cũng mục mẹ nó rồi còn gì!
Tôi không trả lời. Xe rù rù chạy. Lát sau, Vũ bảo:
- Tí nửa nghỉ nấu cơm ăn. Tôi sẽ giới thiệu ông với các đồng hương. Chắc mọi người sẽ vui lắm.


D
ương Thu Hương
(còn tiếp)


Mời nghe nhạc:

 

Tình Ca. Phạm Duy.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn