DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,841,827

Tản mạn đôi chuyện vui buồn về Tết - Vương Văn Quang

30 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 18287)
Tản mạn đôi chuyện vui buồn về Tết - Vương Văn Quang


Vương Văn Quang


Tản mạn đôi chuyện vui buồn về Tết


234385739fc1b337fb8d2443fb7f_grande_1_-thumbnail


Một triệu tám trăm ngàn đô-la Mỹ là bao nhiêu tiền mình? Lẩn thẩn nghĩ và tôi liền rút chiếc điện thoại di động ra để sử dụng chức năng máy tính. Màn hình hiện lên dòng chữ: “Ngoài phạm vi”. Tôi bèn tính nhẩm, nhưng bất lực. Đành lọ mọ lấy giấy, bút mà nhân lên theo cách thủ công. Kết quả là con số mà phải đọc mãi mới ra. Hai-mươi-tám-tỷ-tám-trăm-triệu đồng Việt Nam.

Con số này một người làm công ăn lương loại trung bình ở những thành phố lớn, như Hà Nội, Sài Gòn …, làm bao nhiêu lâu thì có? Sẵn giấy bút, lại tiếp tục lọ mọ tính toán. Kết quả: nếu như tính mức thu nhập trung bình người làm công ăn lương ở những thành phố lớn (chứ tỉnh nhỏ hay nông thôn thì quên đi, nhé!) là khoảng hai triệu đồng Việt Nam, thì người đó phải lao động trong 1200 năm, mà là lao động từ lúc lọt lòng mẹ cho tới khi chết, và nhớ là chỉ làm ra cất đi chứ tuyệt đối không được tiêu pha gì đấy nhá.


Tất nhiên, đây chỉ là những phép tính và so sánh rất lẩm cẩm, cho vui mà thôi. Vậy cái con số một triệu tám đô Mỹ mà tôi mất công nghĩ ngợi tính toán kia nó là số tiền của cơ quan hay tổ chức nào? Đầu tư từ nguồn vốn nào? Vào công trình gì? Chẳng to tát quan trọng thế đâu, nó chỉ là món tiền mà ông tổng giám đốc của một ban quản lí dự án nào đó thuộc bộ Giao thông – Vận tải, quăng vào mấy trận cá độ đá banh thôi mà.


Báo chí những ngày cuối năm này đưa tin, nhưng hình như dư luận xã hội không mấy giật mình, bởi những chuyện như thế này có vẻ như không còn quá giật gân ở Việt Nam. Bản thân tôi cũng không lấy gì làm ngạc nhiên (cơ chế này, xã hội này, con người này, không có những chuyện đó mới là lạ), nhưng tôi chợt liên tưởng tới việc một số cầu thủ bóng đá trong đội tuyển U-23 Việt Nam tham gia cá độ, và số tiền còm các chàng trai trẻ này thu lợi từ bán độ. Thật quá nhỏ nhoi. Nhưng tại sao báo chí lại làm ồn ã, dư luận căm phẫn kích động hàng tháng nay chưa nguội như vậy [1]? Có thể lý giải, rằng người mọi người đã đặt niềm tin vào các cầu thủ, và khi niềm tin của họ bị phản bội, họ sẽ phẫn nộ? Không hẳn. Cách lý giải này, có thể đúng, nhưng chưa đủ. Nếu đủ, cần bổ sung, ở Việt Nam chỉ được phẫn nộ khi được phép. Thực tế cho thấy, rất nhiều vụ việc bị dìm đi, ngay cả khi ban đầu báo chí có đưa tin, nhưng sau đó, “quyền lực thứ nhất” chỉ đạo stop là cái “quyền lực thứ tư” ở Việt Nam câm như hến liền [2]. Và dư luận xã hội có muốn thì cũng chả có điều kiện mà phẫn với chả nộ. Cùng để ý nhé, rồi xem cái vụ ông “tổng” kia sẽ được báo chí mổ xẻ phanh phui tới đâu. Tôi thì đoán, nó sẽ chẳng đi xa hơn vụ Lương Quốc Dũng.


Cây mai thế (dạng bon-sai) giá sáu-trăm-năm-mươi-triệu, là tin mà một số báo trong nước trong những ngày giáp Tết con Chó, hoan hỉ đưa tin. Ừ, quả là đẹp thật. Sáu trăm năm mươi triệu mà không đẹp thì có … họa điên! (Logic này tuyệt đối đúng trong bối cảnh xã hội chỉ còn một thước đo giá trị duy nhất: Tiền). Nhưng liệu có mấy ai chịu nghĩ, cây mai này phục vụ ai, ai đủ tiền chơi nó? Còn ai vào đây ngoài những ông “tổng” kia. Công bằng mà nói, từ khi cơ cấu kinh tế có nhúc nhích thay đổi, cũng có những người bằng tài năng mà làm giầu một cách chân chính đáng tự hào; nhưng tôi dám cá (lại cá độ) mười ăn một, rằng không có ai giầu có một cách chân chính ở Việt Nam lại động rồ bỏ ra ngần ấy tiền chỉ để chơi hoa mấy ngày Tết. Tiêu tiền kiểu ấy, nếu không là lợi dụng quyền chức tham nhũng thì cũng là thứ dựa vào những thế lực kia để bán buôn, làm ăn bất hợp pháp, kiểu mafia.


Khi viết những dòng này, thì của đáng tội, tôi chưa biết cây mai “sáu trăm năm chục triệu” kia đã bán chưa và bán cho ai, nhưng tôi biết chắc, giờ phút này khối người đã sắm sửa những chậu mai giá vài ba, dăm bẩy chục triệu. Nhưng cũng theo sự hiểu biết của tôi (và tôi tin chắc vào sự hiểu biết của mình trong trường hợp này), trong số những người chơi những cây mai cỡ “thường thường bậc trung” đó, chưa có người nào là chủ doanh nghiệp tư nhân và làm ăn hoàn toàn “sạch”.


Vài năm gần đây, thú chơi đào thế, mai bon-sai đã trở nên khá phổ biến trong tầng lớp thượng lưu thành thị; đó là hiện tượng lành mạnh, nếu sự giầu có này là lành mạnh. Nếu không thế, nó chỉ là thú chơi lố bịch của một lớp trọc phú, trưởng giả mà thôi.


Nói tới hoa, lại nhớ về một Hà Nội thời “tiền chiến”, tức là trước 1954. Qua những tản văn xuất sắc của nhà văn Vũ Bằng, ta có thể thấy, người Hà Nội phần nào có lý khi tự nhận mình là thanh lịch. Cách ăn, cách mặc, cách chơi …v.v, trong đó có chơi hoa ngày Tết . Có thể kể ra đây, thú chơi hoa Thủy Tiên (Ăn Tết Thủy Tiên – Vũ Bằng), thú đi chợ hoa Hàng Lược (Hàng Lược giờ đi bộ xuống lòng đường còn chả có chỗ chen chân, nói gì chợ hoa chợ hoét), thú chọn đào bên Nhật Tân (Hỡi ôi, Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm, giờ biệt thự chóp củ hành, khách sạn mi-ni phục vụ “hoa người”, mọc lên hết đất rồi còn đâu cho đào với chả quất) … v.v, nhiều lắm, nhiều cách ăn cách chơi, tao nhã có, cầu kì có, nhưng không thấy cách chơi nào đặt nặng giá trị tiền bạc như bây giờ. Có lẽ, vì khi đó phần lớn mọi người cả giầu lẫn nghèo đều làm ra tiền bằng mồ hôi nước mắt chăng?


Tôi không sinh ra ở miền Nam, nên không biết xưa kia, người Sài Gòn (miền Nam) chơi hoa thế nào, nhưng bây giờ thì, cũng như Hà Nội, thật là …buồn . Ngoài những trọc phú chơi những chậu mai vài chục triệu đã nói bên trên, thì người bình dân chơi gì? Ở những khu dân cư truyền thống (nhà riêng, trong hẻm, diện tích nhỏ) nhà nào cầu kì thì làm vài cành đào… Trung Quốc vẫn bán ở bất cứ đâu, hoặc đôi chậu cúc vạn thọ mà xe ba gác đạp bán tận nhà. Ở những khu chung cư thì … lôi chậu hoa ni-lon ra rửa cho sạch bụi cũng xong. Không ai có thì giờ và kiên nhẫn để chăm chút gọt giò Thủy Tiên, hay xuống vườn chọn từng bông ưng ý. Cái sự chơi bời giờ đây cũng trở nên thực dụng đến thô thiển. Trong nhà thì thế, còn ngoài phố thì sao? Ở những con phố chính, những ngày này bắt đầu rợp những đèn và hoa. Đèn thì dễ rồi, cứ chăng lên và cắm điện là xong; nhưng còn hoa? Mới chỉ vài hôm trước chỗ đó còn là dải phân cách bằng bê-tông cơ mà? Mùa xuân tới hoa chen nhau đua nở chăng? Quên đi nhé, người ta có sáng kiến rất độc, trồng hoa vào chậu hoặc giỏ, rồi mang ra những địa điểm được chọn và xếp ra, muốn hình thù gì cũng có. Thế là “thành phố muôn sắc hoa”. Nghĩ mà đau khi biết rằng Việt Nam ta, một nước nông nghiệp (theo lí mà suy thì nông nghiệp tức là phải nhiều cây xanh, nhiều hoa hoét chứ nhỉ?) nhưng tính theo tỉ lệ dân, lại có diện tích cây xanh thấp nhất thế giới.


Bên trên, tôi có nhắc tới “hoa người”, vậy nhân dịp “xuân về muôn hoa khoe sắc thắm”, tưởng cũng nên tò mò một chút về thứ hoa đặc biệt (và “liên tục phát triển” trong những năm gần đây) này. Cũng cần nói ngay, tôi sẽ chỉ tìm hiểu loại hoa “hàng chợ”, là thứ bình dân, kiểu như đào, mai Trung Quốc chứ không/chưa có ý định tìm hiểu loại hoa trong nhà kính, tức là trong các quán bia ôm cao cấp, quán tắm hơi mat-xa cấp cao; hay trong cuốn sổ điện thoại nào đó của các Tú Bà hiện đại, kiểu mai sáu-trăm-năm-chục-triệu.


Trước đây, nói tới “chợ hoa” này, thì người Sài Gòn thường nghĩ ngay về khu vực Huyền Trân Công Chúa (phía sau tòa soạn báo Công An TP SG), hoặc trước cửa công viên Tao Đàn, đường Xô Viết – Nghệ Tĩnh; còn người Hà Nội thì nghĩ về “chợ” trên mạn Hồ Tây, hoặc hồ Thiền Quang. Bây giờ thì không hẳn như vậy. Chẳng ai chấp nhận cảnh “họp chợ” công khai và tấp nập như thế giữa lòng Thủ đô hay thành phố mang tên .... Bây giờ chợ tản mát đi khắp nơi, quận nào cũng có vài cái “chợ” kiểu này. Ừ thì chợ bình thường có “chợ cóc”, “chợ chồm hổm”; vậy dại gì chợ chị em ta không phát huy mô hình này? Nó mang đầy đủ mọi ưu thế của những “chợ cóc” bình thường: rẻ, tiện lợi, dễ dàng di chuyển khi có lực lượng truy bắt. Ngay gần chỗ tôi ở, khoảng ba năm nay, cũng xuất hiện một cái chợ như thế (cuối con đường Đào Duy Anh lối đi tắt sang sân bay Tân Sân Nhất, và di động lác đác trong khu vực công viên Gia Định – Q. Phú Nhuận), có nàng đi bộ, có nàng lượn lờ vòng vòng quanh “chợ” bằng xe đạp hoặc xe gắn máy (nghe nói các nàng đi thuê). Tôi rủ một anh bạn đi thăm thú cái “chợ cóc” này.


Không đông vui tấp nập như các chợ bình thường ngày giáp Tết, chợ “hoa người” có vẻ đìu hiu. Sau vài cú vòng xe, chúng tôi tiến lại gần một “bông hoa”. Nàng nhoẻn miệng cười – không biết nên viết, rằng đây là nụ cười kiểu gì – không chờ chúng tôi hỏi, nàng nói (giọng Bắc Kỳ nhà quê chiêm trũng. Cũng chỉ là ngẫu nhiên thôi, chứ đội ngũ này giờ rất “liên hợp quốc”, tỉnh, thành, vùng, miền, nào cũng có): “Dù đôi tám chục. Dù một năm chục. Bao phòng”. Thấy chúng tôi mắt vẫn láo liên, nàng nói tiếp: “Gía thế là hạ lắm rồi, gần Tết ít người đi chơi nên mới thế, chứ bình thường là bẩy chục, dù một”. Tôi hỏi: “Sao Tết lại ít khách?”. “Thì Tết nhất người ta lo về quê, lo sắm sửa, lo bao nhiêu việc khác nữa. Vừa thiếu tiền vừa thiếu thời gian mà”. Tôi hỏi tiếp: “Dù đôi và dù một là thế nào”. Nàng liếc xéo (khá dễ thương): “Thì các ông đi hai người đấy thôi”. Thấy chúng tôi rút thuốc ra hút, không nói gì, nàng dò xét: “Các anh chơi được bao nhiêu?”. Tôi đưa nàng hai chục nghìn, bảo rằng biếu nàng và chỉ muốn được chụp hình. Nàng nhẩy cẫng lên, gạt cái máy hình, thái độ rặt Bin Laden: “Thôi biến mẹ các ông đi cho tôi nhờ. Xui quá”. Đi một quãng, quay lại nhìn, tôi thấy nàng đang bật hộp quẹt gí vào … háng.


Như vậy, giá “dù đơn” ở “chợ cóc” là bẩy chục nghìn ngày thường, và năm chục ngày giáp Tết có bao luôn phòng. Theo một số thông tin trên các báo, thì giá này vẫn thuộc hàng “trung lưu”, vì giá thật bèo để phục vụ loại khách như mấy anh giai đứng ở chợ người Giảng Võ chẳng hạn, là tương đương tô phở Hòa (Sài Gòn), tức là từ hai chục tới hai lăm nghìn đồng … một phát.


Cùng là “hoa” nhưng rõ ràng, “hoa người” không phải là nhu cầu của thị trường trong những ngày giáp Tết. Tôi chợt chạnh lòng khi nhớ lại truyện ngắn “Người ngựa, ngựa người” của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Nhưng đó chỉ là “hoa” ở thị trường bình dân thôi nhá, còn khu vực quí tộc tôi chẳng muốn bàn (giá chót ở thị trường này là 500 nghìn một “bông”, “tầu nhanh”. Còn hàng sang nữa thì …vô giá. Có thể tương đương với cây mai sáu-trăm-năm-chục-triệu. Mà cũng có thể hơn), vì bàn sẽ vừa buồn vừa …ấm ức. Nghe nói, thị trường này cuối năm, giáp Tết hoạt động vẫn sôi nổi chẳng kém ngày thường, có khi còn sôi động hơn, vì các đại gia mafia, các quan lớn cần dùng “hoa” để “xả xui” cuối năm mà. Không biết, nếu Nguyễn Công Hoan còn sống, liệu ông có viết về “làng hoa” và khách “chơi hoa” quí tộc không? Và ông sẽ có câu chuyện với tiêu đề thế nào? (Dựa theo văn phong và cách nhìn của nhà văn này, tôi đồ rằng, rất có thể tên truyện ngắn đó là …[2] )


Dịp Tết là lúc mà nhiều mặt hàng ở Việt Nam vào mùa “sale off”, như quần áo, đồ dùng gia đình …ngược lại, cũng nhiều mặt hàng lợi dụng cơ hội để tăng giá vô tội vạ, như rượu Tây (để biếu xén), bia, thực phẩm …v.v. Nhưng chẳng có mặt hàng nào như món “hoa người”, vừa hạ giá đìu hiu, lại vừa rộn ràng nâng giá.


Năm 1994 tôi có dịp sang Trung Quốc, khi đó nước này đã có lệnh cấm đốt pháo [3]. Trong một bữa tiệc nhà hàng tại một huyện nọ, tôi chứng kiến một đám cưới; và họ đốt pháo thì thật khủng khiếp (Ôi, nhắc tới pháo, tôi nhớ nôn nao, nhớ cồn cào cái không khí đêm giao thừa! Nhang trầm và khói pháo, đó là Tết). Băng pháo không tính bằng mét như ta, mà tính bằng “bành”[4] (một “bành” có đường kính 1m, băng pháo cuộn lại có đường kính một mét là một “bành”. Tôi nhớ khi đó, ở Việt Nam, tết nhất, cưới xin đốt cỡ 2, 3 mét pháo là ghê lắm rồi). Chứng kiến cảnh đốt pháo đó cùng chúng tôi có ông chủ tịch huyện (là chủ bữa tiệc ấy- huyện này thuộc tỉnh Triết Giang, tôi không nhớ tên), ông ta rất khoái chí và tỏ ra tự hào khi chúng tôi tỏ vẻ thán phục. Như vậy, có thể thấy, mặc dù có lệnh cấm đốt pháo từ Trung ương, nhưng người Trung Quốc không hề chấp hành triệt để lệnh này. Tại các tỉnh, huyện nhỏ, thậm chí những thành phố không thuộc Trung ương, người ta vẫn đốt. Và do đó, ngành sản xuất pháo của họ vẫn duy trì. Bằng chứng là những ngày cuối năm nay, báo chí trong nước có đưa tin về những vụ bắt pháo lậu, mà nguồn hàng thì 100% là từ Trung Quốc. Rất có thể, trong tương lai gần, nhà nước ta sẽ gỡ bỏ lệnh cấm pháo (vì ta luôn theo đuôi người “anh hai”[5] này mà. Chẳng phải lệnh cấm pháo là bắt chước Trung Quốc đó sao?); lúc đó dân Việt ta sẽ tha hồ mà đốt pháo Tầu. Người dân miền Bắc (và cả nước?) chắc hẳn chưa quên làng pháo Bình Đà nổi tiếng một thời; khi nhà nước cấm pháo, họ bị mất cân bằng cuộc sống trong nhiều năm, bởi bỏ đi một nghề có tính gia truyền hàng trăm năm đâu phải chuyện chơi. Làng nghề là một nét văn hóa, phá thì dễ mà xây thì khó. Bằng chứng là những cuộc phát động khôi phục làng nghề trong những năm gần đây nó nhem nhuốc lôi thôi thế nào. Chỉ thương cho dân làng Bình Đà, nghề nghiệp từ đời ông tằng tổ phút chốc vứt đi cho những đồng nghiệp bên Tầu hưởng lợi, chỉ vì những quyết định bốc đồng, ngớ ngẩn!


Chẳng phải đặt vấn đề hoài (niệm, cảm, cổ) như Tưởng Năng Tiến chân nhân, mà rõ ràng, ngày Tết, với người Việt là khoảnh khắc thời gian người ta thường nhớ về những điều tốt đẹp trong quá khứ và hy vọng, chờ đợi những điều tốt đẹp trong tương lai. Trong hai vế vừa nêu, dường như vế thứ nhất (hoài niệm) luôn hiện diện rất rõ nét trong tâm thức người Việt, nhất là những người già. Có lẽ chính tâm thức này phản ánh và lí giải tục thờ cúng tổ tiên của người Việt?


Không phải là ngoại lệ, Tết đến gần, tôi cũng thường dành chút thời gian mà trầm tư mặc tưởng, ngẫm sự đời, sự người, sự mình. Nhưng lạ một điều, dù chưa già nhưng tôi luôn tơ tưởng theo kiểu rất ông cụ: “Ôi, bao giờ cho tới ngày xưa !”. Và cái tơ tưởng kia của tôi không phải không có lí của nó, cứ nhìn hiện tại mà xem …, cái hiện tại này có điều gì, dù là rất nhỏ, để tôi hy vọng ở tương lai?


Nói vậy thôi, chứ tôi vẫn luôn hy vọng, nhất là vào thời khắc cuối năm này

Sài Gòn

-------------


Ghi chú:

[1] Tôi hiểu và chia sẻ nỗi bức xúc của mọi người, nhưng tôi không hiểu và đặc biệt khó chịu với thái độ của báo chí “mậu dịch”, khi họ hùa vào lên án các cầu thủ này (thậm chí, họ nâng quan điểm, coi những cầu thủ này là … bán nước) mà không hề trăn trở để lí giải tại sao các cầu thủ kia có thể làm những việc dại dột đến vậy. Họ có biết rằng, những cậu trai mới lớn (dưới 23 tuổi) kia đa phần đều thất học? (Văn Quyến là một đứa trẻ trâu, được phát hiện khi mới 11, 12 tuổi, và từ đó chỉ biết có đá bóng). Trong khi đó, xã hội đầy rẫy những kẻ lớn đầu, học hành bằng cấp đầy đủ, nắm quyền cao chức trọng, chúng sẵn sàng bán bất cứ thứ gì miễn là được giá, vậy thì trách cái gì mấy đứa trẻ con ít học bán độ?
[2] Tôi đoán rằng, tên truyện ngắn đó sẽ là: “Địt mẹ đời”.
[3] Trung Quốc chính thức cấm đốt pháo trước Việt Nam 1 năm.
[4] “Thuật ngữ” này tôi nhớ không chính xác lắm.
[5] HCM gọi Liên Xô là “Anh cả”. Trung Quốc là “Anh hai”.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Một 20187:06 SA(Xem: 22)
Nhưng ở thế kỷ XXI này, có một nữ tiến sĩ người Ý lại đi ngược so với mọi người; chị bỏ nơi giàu sang, văn minh để về với nghèo khó, lạc hậu. Đó là Elena Pucillo Truong. Tình yêu đã khiến chị đi ngược so với nhiều người
05 Tháng Mười Một 20188:15 SA(Xem: 81)
Từ ngày 03 tháng 9 năm 2018 đến nay, mới vừa đầy 2 tháng, nhà thơ Chu Vương Miện đã liên tiếp trình làng 23 chùm Thơ Thiền
28 Tháng Mười 20183:29 CH(Xem: 138)
Sau đó thì đúng như tôi hình dung, có hẳn một chủ trương “cho phép tác giả rời Cà Mau”
19 Tháng Mười 20187:46 SA(Xem: 161)
Ta ngắt đi một cùm hoa Thạch thảo. Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi.
11 Tháng Mười 20189:13 CH(Xem: 234)
Trần Thiện Thanh sinh ngày 12 tháng 6 năm 1942 tại Phan Thiết. Trưởng nam trong gia đình có 7 anh em. “Thật sự dòng họ Trần Thiện từ ông tổ gần là Trần Thiện Chánh (1822-1874), tài kiêm văn vỏ, cho tới thân phụ của Trần Thiện Thanh là Trần Thiện Hải nức tiếng khắp