DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,745,436

Bùi Bích Hà

27 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 36120)
Bùi Bích Hà
Bùi Bích Hà





blank



Sinh năm 1938 tại Gia Hội, thành phố Huế. Tốt nghiệp đại học sư phạm Huế ban Pháp văn. Dạy học tại Đà Nẵng, Sài Gòn. Định cư tại Laguna Hill, quận Cam, Cali USA từ 1986. Xuất hiện trên báo Người Việt từ 1987.

Tác phẩm đã xuất bản:

Buổi Sáng Một Mình (truyện, Người Việt 1989)
Bạn Gái To Nhỏ (hỏi đáp tâm lý, Người Việt 1991)

Trả lời tạp chí Văn Học - ba câu hỏi chung, về sáng tác
(Văn Học số 110 tháng 6 năm 1995)

"Thỉnh thoảng có hôm lái xe từ nhà đến sở làm trên một quãng đường vắng vùng Irvine chợt nhìn thấy trước mũi xe những cái lá nhỏ, màu nâu, khô nỏ, lăn chấp chới trong gió.

Trông chúng vui, tung tăng như bầy trẻ con. Một cảm giác nhẹ nhõm khiến tôi cảm thấy như có một nỗi vui vô cớ cùng nhảy nhót khinh khoái trong lòng.


Viết với tôi cũng bất ngờ , cũng là một cái xô đẩy tình cờ, như những chiếc lá khô nhỏ đùa vui trên quãng đường sương mù và gió lạnh sáng sớm hôm nào. Tôi ý thức chiếc xe đưa tôi đến sở làm là một thực tế nghèo nàn, buồn bã, không chối bỏ được, nhưng bù lại tâm hồn tôi ở giữa lòng đường, cùng với đám lá khô tung tăng bốc theo cơn gió, xoáy theo chiều đứng, trông giống như những vũ công ba lê tí hon nhón trên đầu những ngón chân nghệ thuật.


Tôi viết đủ mọi chuyện, khi ngẫu hứng. Viết như nói, như thở, như xúc động, như chào hỏi, như từ giã, không có nguyên tắc gì cả. Viết như trang trải, chia xẻ cùng người (ai? ở đâu ?) một thứ ‘gởi hương cho gió’ . Viết như một an ủi, tháo gở với bản thân (để sống còn)"



Bùi Bích Hà



Bùi Bích Hà, trong cõi văn chương nữ giới, quê người

 

Những người quan tâm tới sinh hoạt văn học Việt Nam ở quê người, không khỏi mừng rỡ, hân hoan, khi nhận thấy, nơi quảng trường Văn học Việt lưu vong, càng lúc, càng thấy sự xuất hiện đông đảo, dập dìu rất nhiều khuôn mặt nữ giới. Đội ngũ phong phú, ồn ào những người viết văn phái nữ này, mấy năm gần đây, đã trở thành nét đặc thù của hơn 20 năm văn học tỵ nạn. Đóng góp của họ, là những đóng góp không nhỏ trong dòng sống văn chương phồn thịnh, đa dạng, hăm hở quăng mình về phía trước.

Hiện tượng này càng được chú ý hơn nữa, khi mà, những người cầm bút lớp trước 1975, ở quê người, đã lần lượt bỏ cuộc. Hiện tượng này càng được trân trọng hơn nữa, khi hàng ngũ những người cầm bút, nam giới, sau biến cố 30-4-75, cũng cho thấy nhiều dấu hiệu bế tắc, quẩn quanh, khô cạn...

Nhưng, đông đảo dập dìu nào, cũng mang tính hỗn độn, xáo trộn giữa những tinh ròng và hào nhoáng.

Nhưng, phong phú, ồn ào nào, cũng xao xác tạp âm, khiến cho tiếng suối đầu nguồn bị khuất ngầu bởi những ì uồm kênh, rạch.

Những người theo dõi sinh hoạt hai mươi năm văn học Việt Nam, quê nhà, còn nhớ rằng vào cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, miền nam Việt Nam, cũng ghi nhận được sự đóng góp tốt đẹp của tươi tốt của hàng ngữ những cây bút nữ. Đó là sự bứt lìa khỏi đám đông, bước ra khỏi khung cửa nội trợ, khỏi bếp lửa gia đình của một Nhã ca, rồi một Trùng Dương, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, vân vân... Những tên tuổi này, dù mỗi người một phong cách, khác nhau, nhưng vẫn họ có chung một mẫu số: mẫu số tài năng, trải qua giai đoạn đãi lọc thời gian, khắc nghiệt. Nhưng những tên tuổi này, dù mỗi người một đường kiếm huê dạng khác nhau, họ vẫn có chung một mẫu số: mẫu số nhân cách, mẫu số tâm thành với chính mình.

Trong khi đó, gần đây, ở hải ngoại, hàng ngũ những người cầm bút nữ giới của chúng ta, tuy mỗi người cũng một cách thế vung gươm, tuy mỗi người cũng một cách thế nhập cuộc..., nhưng có người, đã ghi nhận rằng cho rằng, trong số những cây bút nữ hôm nay, ở hải ngoại:

- Đã có, không dưới một người chọn cách thế tiến ra quảng trường chữ nghĩa bằng trường báo, trận văn.

Đã có, không dưới một người, lấy sự quảng giao làm phương tiện đi tới.

Đã có, không dưới một người, đứng hẳn vào một phe nhóm, làm thế tựa lưng.

Và cũng đã có, không dưới một người, khai thác sự tạo bạo, chửi bới, thô tục đến không còn yếu tính văn chương, để chiếm lĩnh được sự chú ý của dư luận...

Tựu trung, theo quan điểm của những người chia sẻ với nhận xét vừa nêu ra, thì, dường như đã không có một tương đồng nào, giữa lớp văn chương nữ giới trước 1975 ở quê nhà, và lớp văn chương nữ giới, cầm bút sau 1975, ở quê người.

Tôi không đồng ý hoàn toàn với ghi nhận bi quan này. Cách gì, nhận xét kia, theo tôi, cũng có phần khắt khe, bất công và hàm hỗn. Bởi vì, trong đám đông những cây bút nữ ồn ào, phăng phăng tiến ra quảng trưởng văn học tỵ nạn ta, vẫn còn những cây bút chĩu nặng tâm thành, chói lọi nhân cách.

Tôi không chia sẻ tận cùng đáng tiếc nọ. Cách gì, trong hơn hai mươi năm văn học tỵ nạn, quê người, theo tôi, cũng vẫn có những cây bút nữ, lặng lẽ, với một đời sống bình thường, không làm dáng trong văn chương, không ồn ào trên đường phố, vẫn còn thấy đỏ mặt với những thô tục được ném lên trang giấy, một cách hân hoan, nhí nhố.

Cách gì, trong hơn hai mươi năm văn học hải ngoại, cũng vẫn có những cây bút nữ, mà tài năng, mà trí tuệ, thể hiện qua sinh phần chữ nghĩa của họ, khiến chúng ta phải nghiêng mình, trân trọng.

Một trong những cây bút nữ, khiến chúng ta phải nghiêng mình, trân trọng trước tài năng đó, là Bùi Bích Hà, truyện ngắn.

 Thế giới truyện ngắn mang tên Bùi Bích Hà là một thế giới tĩnh, lặng. Người đọc sẽ thất vọng, nếu có ý định đi tìm trong sinh phần văn chương họ Bùi, những cơn sốt tình dục, những ám ảnh sinh lý. Người đọc sẽ thất vọng, nếu có ý định, những làm dáng trí thức, làm dáng phẫn nộ, buồn nôn, đối kháng, thậm chí, những thô lỗ, sỗ sàng với những danh từ, những hình ảnh dâm dục trần trụi trong cõi văn xuôi của nhà văn nữ này.

Khác hơn một số cây bút nữ cùng thời, nhan sắc văn chương Bùi Bích Hà không cần tới lớp phấn son lòe loẹt. Thế giới văn xuôi Bùi Bích Hà không cần tới những mánh khóe mang tính ảo thuật. Đó là một sinh phần truyện ngắn mà người viết đã làm chủ toàn phần những con chữ của mình. Tính điềm đạm, lắng, sắc xuống những đáy tầng tâm thức nhân sinh là nét đặc thù đầu tiên, của tấm căn cước nhà văn mang tên Bùi Bích Hà. Chính cái điềm đạm tới lặng lẽ, lắng sâu và sắc xuống kia, của cõi văn xuôi Bùi Bích Hà, đã như tấm gương hắt lại cho người đọc, cái chân dung cô đơn, cái nhân dáng thất lạc, gẫy, vỡ của lớp người tỵ nạn Việt, hôm nay, trong cảnh tình luân lạc này.


Du Tử Lê



Bùi Bích Hà nói chuyện


(Nhân buổi ra mắt sách “Giữa Hai Miền Mưa Nắng” của Hoàng Mai Đạt)


bbh

Nhà văn Bùi Bích Hà nguyên Giám Đốc đài phát thanh VNCR




Trả lời cuộc phỏng vấn của chương trình văn học nghệ thuật đài Tiếng Nói Việt Nam do Lê Quỳnh Mai thực hiện, phát thanh tại Montréal Canada ngày 26-3-2000, khi được hỏi “Theo ông hạnh phúc lớn nhất của người viết văn là gì?” nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã nói “là được người ta đọc truyện của mình.” Nhà văn, nhà thơ Huy Trâm, tạp chí Hương Văn số mùa hè năm 2000, cũng phát biểu một điều tương tự: “Cái an ủi lớn lao cho người viết văn, làm thơ là có đông đảo người đọc chia sẻ nguồn cảm hứng” (Thú văn chương, trang 85). Chắc hẳn cũng còn rất nhiều quí vị nhà văn, nhà thơ khác có cùng nỗi khao khát cái hạnh phúc thương đau này trong suốt cuộc đời mang nặng nghiệp dĩ văn chương của họ.

Một cách chung nhất, có thể giải thích tâm trạng này cũng giống như tâm trạng những người làm cha mẹ, khi tạo ra một hay nhiều đứa con, đưa chúng vào đời, những mong chúng hữu ích cho xã hội, được nhiều người đón nhận và có một phần số như kỳ vọng của cha mẹ. Bên cạnh đó, có lẽ cũng không nên loại bỏ một yếu tố nhân sinh bình thường khác, ít quan trọng hơn, là cha mẹ những đứa con tốt đẹp ấy rồi sẽ nhờ vào chúng mà được tiếng thơm, được cái hạnh phúc đã tạo ra những công trình tử tế.

Nếu có ai đẩy câu hỏi đi xa hơn một chút nữa, là tại sao các tác giả lại cần người đọc đến như thế? Ngoài câu trả lời võ đoán và hời hợt tựa như “vì tác giả muốn nổi tiếng, bán được nhiều sách và thu lợi về nhiều,” câu trả lời đúng nhất sẽ là “bởi vì tác giả cần sự đo lường để biết tiếng nói của mình đã cất lên dùm bao nhiêu người, vấn đề mình đặt ra đã đánh động đến cái chung lớn dường nào?”

Tuy nhiên, dẫu có thế, những câu hỏi và trả lời này luôn luôn đến sau cảm hứng viết của người cầm bút. Nhà văn khi viết, trước hết là để giải tỏa nỗi lòng của chính mình, là để sống thực sự cái bản lai diện mục của chính mình thường xuyên bị vùi lấp vì những giới hạn của đời thường. Do đó, viết căn bản là một hành vi ứng xử, với bản thân và với ngoại cảnh, ngoại vật, trong mối liên hệ có khi thuận hòa, có khi đối kháng nhưng hầu như trong mọi khi, không gian, thời gian và tiếng nói hàng ngày của sinh hoạt xã hội không bao giờ cho phép một giãi bày cặn kẽ.

Có nhiều cách thế ứng xử khác nhau. Mỗi nhà văn tự lựa chọn một cách thế riêng biệt để diễn tả mình và những suy tưởng của mình về mọi việc. Nhà văn Hoàng Mai Đạt, từ tác phẩm đầu tiên là tuyển tập truyện ngắn mang tựa đề Cánh Đồng Cho Em xuất bản vào năm 1992, đến Giữa Hai Miền Mưa Nắng ra mắt hôm nay (ngày 6 tháng 5, 2000), đã cho thấy một khuynh hướng chuyển đổi dứt khoát nơi ông trong cách thế và vị thế của người bày tỏ. Trong một số hoàn cảnh thực tế và thúc bách, hình thái sáng tác với nhân vật và tình tiết được tạo dựng công phu dường như bị ngăn trở với người đọc bằng quá nhiều kỹ thuật, thậm chí xảo thuật, như trên một sân khấu mà người đọc là khán giả ngồi nghe, nhìn, ngắm, tưởng tượng thêm, trong khi hình thái tạp ghi chính là sự tiếp cận xương thịt nóng hổi giữa người viết và người đọc.

Trong tạp ghi, tác giả nói với người đọc bằng ngôn ngữ đời thường, không vẽ vời. Những con người và cảnh trí là những thực tế sống động mà ai cũng có thể có lúc nhìn thấy, bắt gặp, chuyện trò, với tất cả cảm xúc hay sự khiếm khuyết không thể sửa chữa được nằm trong số phận chúng. Người viết tạp ghi bộc bạch mỹ quan, cảm thức, tâm hồn và trái tim mình giống như những khách hàng nhậy cảm và tinh tế, nhón hai đầu ngón tay lựa ra những mẫu mã đẹp nhất trong cái xô bồ của một cửa tiệm có đủ thứ để phục vụ đám đông. Tạp ghi cũng khác với ký hay hồi ký. Ở đây tác giả không phải là trung tâm điểm vận hành các biến cố hay dữ kiện xoay quanh mình. Họ chỉ là đôi mắt thầm lặng, từ một góc độ nào đó, nhìn, quan sát, ghi nhận, cảm, ôm lấy hết những điều họ thấy, phả vào chúng hơi thở của mình để hồi sinh chúng cho một đời sống lâu dài trên trang giấy.

“Giữa cành lá lấp lánh ánh sáng mùa xuân và mùa hè California, tôi vẫn thấy nhiều bóng đen ngồi ở bên đường, mấy đứa bé bán vé số bám theo du khách, những phụ nữ làm việc trong bóng tối tại Việt Nam. Tôi nhớ hai bà lão quanh quẩn trong nhà, nhớ khói thuốc trong một buổi nói chuyện thâu đêm, nhớ cơn mưa trút xuống khu xóm nghèo, nhớ xóm làng lụp xụp dài theo đường lên cao nguyên…”

Tuy nhiên tạp ghi Giữa Hai Miền Mưa Nắng cũng đã bắt đầu bằng một cái nhìn lại mình đầy cảm xúc với “Thế hệ Macarena” “Tôi không có nơi để trở về. Tôi không có nhiều gốc rễ ở bên kia, tôi cũng không có gì ở bên đây. Những người bị rời xa quê hương quá sớm đều không có nơi để trở về. Họ là những người không có gì cả. Một thế hệ số không, thế hệ zero.” Chữ nghĩa ở đây dùng vừa đủ, không hoa hòe hoa sói, không cường điệu. Vấn đề ông nêu ra là khoảng không và bóng tối trong cái đầu của những người trẻ, như ông, và chắc chắn là có rất nhiều, đi trong đêm, “thử đưa hai tay ra, ngửa bàn tay lên, để tay lên vai” để lắc theo điệu Macarena, vừa lắc vừa rùng mình vì “chưa thấy nhà ở khúc quanh đường.”

Với “Đêm pháo Stockton,” địa danh một thành phố nằm sâu trong thung lũng San Joaquin miền trung California, người đọc được nhìn thấy một mảng cộng đồng người Việt khác sinh sống ở một nơi mà nếu không có Giữa Hai Miền Mưa Nắng, chắc không ai có dịp hình dung ra định mệnh nào đã đưa đẩy dúm người Việt tỵ nạn trôi dạt đến đây, vừa đi mua tự điển học Anh ngữ vừa đốt pháo mừng Giao Thừa bất chấp lệnh cấm, đánh bầu cua cá cọp ngay trên hè phố, chỉ nghe nhạc Sơn Tuyền, Chế Linh và Tuấn Vũ, “duy trì được dòng văn hóa riêng một cách đầy hãnh diện và không chút mặc cảm” trước làn sóng hội nhập hung hãn của bản năng sống còn.

Trong “Êm dịu đêm Giao Thừa,” người đọc sẽ bắt gặp cái hình ảnh gãy vỡ, lạ mắt và đầy cảm thương của một cậu con trai mới lớn, lấn cấn với một thân thể bắt đầu biết rạo rực và sự ham muốn nhìn hình phụ nữ khỏa thân nhưng trái với những điều được văn chương mô tả, cậu lại không dám ôm hôn cô bạn gái đầu đời của mình; của những người trẻ yêu nhau hay ham muốn nhau chỉ được nghe “tiếng ngáy khò và một cái mồm há ra thở vì mệt.” Người đọc cũng còn thấy một cái xã hội nhỏ gồm những người tị nạn Việt Nam thích tô hồng quá khứ, dựa dẫm vào nhau mà sống qua những tháng năm lưu lạc âm u như mùa đông quanh năm tuyết phủ nơi họ ở. Hoàng Mai Đạt kể chuyện buồn bằng một giọng điệu vui mà bình thản, như không có mình ở trong, bằng sự cười cợt chua chát và cam chịu, một vẻ hồn nhiên và tỉnh táo làm người đọc vừa ngậm ngùi vừa thấm thía đến ngây rợn.

Phần dài nhất và quan trọng nhất của Giữa Hai Miền Mưa Nắng là chuyến trở về Biên Hòa của tác giả cùng với vợ con để thăm gia đình bên vợ và đặc biệt là bà nhạc mẫu mà ông cảm thấy quí mến vì “đã để lại tính tình hiền hậu cho người con gái nay trở thành vợ ông,” vì ông cảm nhận nếu không thực hiện ngay chuyến đi này, có lẽ ông sẽ không bao giờ còn cơ hội nhìn thấy sự sống quí giá nơi bà nữa. Trong nỗi băn khoăn, tất tả của ông để chuẩn bị ngày về thăm viếng này, người đọc tưởng như nhìn thấy cùng với ông cái biên giới mong manh giữa hơi thở huyền nhiệm là dấu chỉ của mạch sống linh thiêng nơi một bà mẹ già và sự tan rã trong im lặng tuyệt đối của thiên thu khi trái tim không còn sức đập nữa. Ai trong chúng ta không từng trải qua cái cảm giác tung hứng giữa hai bàn tay nhỏ, hòn lửa bất an và nóng rẫy này khi nhìn vào đôi mắt mờ sương khói của cha mẹ già, mà sự chia lìa chắc chắn rồi sẽ đến, vô tình như một chiếc lá khô chao rụng giữa thinh không.

Từ đây đến trang sách cuối, là nỗ lực “sống hết kinh nghiệm Việt Nam với tất cả giác quan” của tác giả, là đêm không ngủ, là nhìn, là nghe, là nếm, là ngửi, là sờ soạng Việt Nam trong hai tuần lễ như ông viết ở trang 104. Thấp thoáng đó đây, giữa những trang giấy dầy đặc chữ, là cái dáng vẻ lủi thủi, cô quạnh của tác giả trải qua một thời thơ ấu côi cút, với rất nhiều câu hỏi không có lời giải đáp. Đời người có nhiều giấc mơ. Với chuyến trở về Việt Nam ngắn này, Hoàng Mai Đạt đã bắt gặp nhiều hình ảnh vẫn đến chập chờn trong giấc mơ của ông lúc ông ngồi nhìn tuyết rơi mênh mông trắng xóa ngoài cửa sổ căn nhà tồi tàn ở Pennsylvania, lúc ông một mình lái xe xuyên qua lục địa Hoa Kỳ, lòng vẩn vơ tự vấn đâu là quê hương? Cái cậu bé mồ côi chạy trốn mùa đông buốt giá hết một thời tuổi nhỏ, hết một thời thanh niên, chợt thấy mình khao khát làm một người đi gom góp lá khô để đốt lên ngọn lửa ấm, sưởi trái tim mình và trái tim nhân gian. Cậu mời gọi những mắt nhìn, những tay nắm, những cận kề san sẻ, một nén nhang cho ngôi mộ nằm cô quạnh trên một sườn đồi ở quê nhà, chút không khí trong lành cho đàn cá ngoi ngóp dưới vũng bùn cạn. Cậu hà hơi vào những phận người vô tri lem luốc, chiếu lên họ một chút ánh sáng và dọn cho họ một chỗ tạm trú xanh tươi. Cậu có trong tầm tay cả một thế giới người và vật sinh động, phơi phới niềm tin và hy vọng. Với Hoàng Mai Đạt, người ta có thêm một kinh nghiệm sống, một thứ vũ khí chống lại cô đơn và buồn tủi, một phương cách vươn lên từ những ám ảnh của một số phận phiền muộn. Nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc quả đã rất tinh tế khi ông nhận xét rằng “qua cảm thức ấy, tôi tin Hoàng Mai Đạt là một người có hạnh phúc.” Để kiếm tìm hạnh phúc, ông không đi đâu xa, ông cảm nghiệm bắt đầu từ chính sự khao khát và rung động bên trong mình. Nhiều người khác, trong đó có cả cái tôi đang diện kiến trước quí vị, đã từng trải qua, được mặc khải cùng một cung cách phấn đấu với nghịch cảnh và sự khốn khó để sống còn, để vươn lên, từ những tối tăm trong cuộc đời, như Hoàng Mai Đạt, không bằng cách nào ngoài sự cảm nghiệm nơi chính mình tình thương yêu và niềm gắn bó hồn nhiên đối với người và việc xung quanh. Những hạt mầm cứu rỗi này có rất sẵn trong mỗi chúng ta, như trong buổi chiều nắng đẹp này, khi quí vị đến đây, chúng lấp lánh như những đốm lân tinh trong tâm hồn quí vị, soi rọi xuống nỗi đợi mong và niềm vui của một người, hai người, ba người trong gia đình họ Hoàng. Chúng tôi ước mong biết bao lát nữa đây, khi quí vị rời khỏi hội trường ấm cúng tình thân này, bụi đường và tốc độ xe dù có vùi lấp chúng cách nào thì những chồi nụ long lanh đã một lần bén rễ ấy, sẽ vẫn cứ chờ những cơn gió thoảng khác để sẽ nở thành những đóa hoa mãn khai.

Xin gửi riêng đến Đạt và Minh Thủy lời cám ơn và chúc mừng. Cũng xin vô cùng cảm ơn quí vị đã lắng nghe và cho phép tôi dài dòng.

BBH




Mời nghe đọc truyện:

 

Ký Ức Miền quê ngoại – Bùi Bích Hà

(xin bầm vào chữ Nghe bên trái)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 20183:08 CH(Xem: 161)
Độc giả đã đọc và biết nhiều về một Đặng Tiến với những bài phê bình
11 Tháng Bảy 20183:03 CH(Xem: 178)
(h. Hoàng Lâm) Nguyễn Tất Nhiên tên thật: Nguyễn Hoàng Hải. Sinh: Biên Hòa. Năm sinh: 30/5/1952. Năm mất: 3/8/1992 tại Ca, Mỹ.
04 Tháng Bảy 20188:08 SA(Xem: 169)
(h. K.H) Khái Hưng đã chết như thế nào? Từ rất lâu, mỗi lần gặp lại tên Khái Hưng
27 Tháng Sáu 20187:22 SA(Xem: 190)
Võ Hồng sinh ngày 2-12-1922 (khai sinh ghi 5-5-1921) tại làng Ngân Sơn,
18 Tháng Sáu 20188:20 SA(Xem: 273)
Điều phải nói đầu tiên về con người Cao Đông Khánh là sự say đắm cuộc đời một cách đến là lạ kỳ.