DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,443,469

Ngô Quang Trưởng: Lần giữ nước thứ hai - Phan Nhật Nam

Friday, August 17, 201212:00 AM(View: 12369)
Ngô Quang Trưởng: Lần giữ nước thứ hai - Phan Nhật Nam

Ngô Quang Trưởng


LẦN GIỮ NƯỚC THỨ HAI


nqtruong

Tr/tg Ngô Quang Trưởng

ql_1_0




Bắt đầu mùa Hè 1966, miền Trung dậy nên cơn bão lửa ly khai từ sự kiện Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Vùng 1 (Đà Nẵng) vào Sài Gòn họp Hội Đồng Quân Lực (10 tháng 3) và bị những Tướng lãnh Trung Ương (Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Hội Đồng. Nguyễn cao Kỳ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Nguyễn Hữu Có Tổng Ủy Viên Quốc Phòng) cách chức. Ngoài lý do Tướng Thi ‘’bất tuân thượng lệnh’’ vì đồng thuận để những nhân vật khuynh tả, phản chiến (lãnh tụ Phật Giáo khối Ấn Quang, Trí Quang nhóm Giáo Sư Đại Học Huế, Thị Trưởng Đà Nẵng Bác Sĩ Mẫn, một người du học Pháp về) khuynh loát, giật dây, ông còn là một đe dọa chính trị đáng ngại đối với chức Chỉ Tịch Hành Pháp (Thủ Tướng) của Nguyễn cao Kỳ, cũng cần tính đến những hiềm khích, đấu đá vì hành vi tư cách cá nhân giữa hai người. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh (Huế) được cử vào Đà Nẵng thay thế Tướng Thi giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn, Đại Tá Phan Xuân Nhuận, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân thay thế Tướng Chuân chỉ huy Sư Đoàn 1.

Ngày 12 tháng Ba, lấy cớ yêu cầu phục hồi chức vụ cho Tướng Thi, phong trào chống đối chính phủ trung ương nổ bùng ở Huế, Đà Nẵng, cũng đồng thời đòi chính quyền Quân Nhân (Sài Gòn) giải tán, thành lập một chế độ dân cử, sinh viên, thanh niên võ trang thuộc Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng dưới quyền điều động của nhóm Tăng Sĩ Phật Giáo quá khích thực sự tiến hành cuộc khởi loạn (trong giai đoạn này cũng như vào thời gian sau, có nhiều xác chứng phong trào đã hoàn toàn bị dẫn dắt bởi cán bộ cộng sản nội thành của những Tỉnh cực Bắc Trung Bộ, Trí Quang sau năm 1975 là một bằng cớ). Chính phủ Quân Nhân ở Sài Gòn tạm thời hòa dịu, hứa hẹn thành lập Hội Đồng Tư Vấn, soạn thảo Hiến Pháp trong vòng hai tháng để chuẩn bị bầu Quốc Hội Lập Hiến, sau đó sẽ có bầu Tổng Thống vào năm 1967. Chủ Tịch Hành Pháp Nguyễn cao Kỳ còn xác định rõ một thời điểm, 15 tháng 8 sẽ bầu Quốc Hội (sau dời lại tháng 10 năm 1966). Nhưng tất cả chỉ là những giải pháp tạm thời, bề mặt, phe tranh đấu (thành phần chỉ huy của phong trào Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng) tiếp tục biểu dương uy thế và bày ra điều yêu sách cuối cùng: Chấm dứt chiến tranh, người Mỹ ngưng oanh tạc và rút quân khỏi Việt Nam bất chấp chiến thuật khôn ngoan của Trí Quang qua buổi thuyết giáo (18 tháng 4) tại Chùa Từ Đàm: ‘’Kêu gọi Phật Tử ngưng biểu tình, Quân Nhân ly khai nộp súng đạn lại cho chính phủ’’. Những cuộc biểu tình ‘’chống Mỹ cứu nước’’ ở Huế, Đà Nẵng tiếp theo lan rộng khắp cả nước, tại những Thành Phố quan trọng, nơi có quân Mỹ đồn trú. Tình hình trở nên xấu hơn khi xẩy ra sự kiện một binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ xông vào đám biểu ngữ bài Mỹ (viết bằng Anh Ngữ) trong một buổi biểu tình tại Huế. Chính phủ Quân Nhân tại Sài Gòn đợi đến lúc phong trào trở nên quá khích một cách lộ liễu (bài Mỹ chống Công Giáo), để có duyên cớ chính đáng (nhất là giải thích với Tòa Đại Sứ, dư luận báo chí Mỹ) gởi quân trừ bị ra Đà Nẵng. Lực lượng Quân Đội ly khai phần đông là Quân Nhân thuộc các đơn vị chuyên môn nên không thể nào đương cự với Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân từ Sài Gòn đưa ra. Cuối cùng, đến ngày 16 tháng 9, cuộc binh biến miền Trung hoàn toàn bị dẹp tan. Dẫu Trí Quang dùng đến biện pháp cuối cùng, bày bàn thờ ra mặt lộ ngăn cản hướng điều quân của phe trung ương. Các Tướng lãnh chỉ huy những đơn vị Vùng 1 bị đưa ra Tòa, chịu hình phạt quân kỷ và buộc giải ngũ. Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ binh (Quảng Ngãi) được chỉ định nhậm chắc Tư Lệnh Quân Đoàn I. Đại Tá Ngô Quang Trưởng, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn Nhảy Dù giữ nhiệm vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1. Đại Tá Trưởng có Đại Tá Lê Văn Thân Phụ Tá, Đại Tá Thân, một trong Tứ Kiệt của Binh Chủng Pháo Binh. Người đứng đầu nhóm bốn người tuấn kiệt này là Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng vị Tướng thanh liêm nhất (theo dư luận chung của quân dân miền Nam mà báo Diều Hâu, Sài Gòn đã phổ biến đề cao).

Đại Tá Ngô Quang Trưởng nhận đơn vị, Sư Đoàn 1 Bộ Binh trong một hoàn cảnh bất lợi toàn diện. Những Quân Nhân giữ chức trọng yếu, kể cả Sĩ Quan chỉ huy trung cấp và Hạ Sĩ Quan (nếu là gốc Phật Giáo) đồng bị tuyên chuyển sang những đơn vị thuộc các vùng chiến thuật khác, người còn lại không tin những bạn đồng ngũ mới tuyên chuyển đến (tình hình tương tự ở các cấp chính quyền, quân sự miền Nam như sau đảo chánh 1 tháng 11.1963). Nhưng Đại Tá Trưởng vững tin nơi bản lĩnh cá nhân mình, cùng khả năng đơn vị, đã được thử sức sau hơn mười năm dài chiến trận miền Nam. Ông cũng rất cậy trông vào vị Tư Lệnh Phó, người có khả năng Tham Mưu, tổ chức cao, tâm chất trung trực, đạo đức, thế nên chỉ sau một thời gian ngắn, Sư Đoàn đã chỉnh đốn lại đội ngũ, phục hồi tư thế chiến đấu như hằng có. Bắt đầu với những sĩ quan trẻ, những sĩ quan cấp Úy thuộc các Khóa 14, 16 đến 20 Võ Bị Đà Lạt hoặc các Khóa tương đương của Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, đơn vị dần thâu đạt những tiến bộ vượt bực sau một thời gian ngắn ngũi trong vòng một năm. Chiến trận Mậu Thân 1968, Hành Quân Lam Sơn 719 và cuộc phản kích mùa Hè 1972 sau nầy là những bằng cớ chứng thực. Đơn vị thuộc quyền của Người Chỉ Huy Ngô Quang Trưởng là Sư Đoàn Bộ Binh tác chiến hàng đầu của Quân Lực. Không chỉ với Quân Đội miền Nam nhưng nếu so sánh cùng thế giới, chúng ta vẫn giữ toàn quyền hãnh diện. Đại Tướng Abrams sau nầy, khi thay thế Tướng Westmoreland chỉ huy Quân Đội Mỹ tại Việt Nam đã nói cùng những sĩ quan, Tướng lãnh của ông: ‘’Sư Đoàn của Tướng Trưởng tác chiến trong rừng giỏi hơn chúng ta’’ (13). Sự biến đổi thần kỳ nầy không là chuyện hoang đường. Trận làng Lương Cổ, Thừa Thiên đầu năm 1967 là một thí dụ điển hình của lần vượt dậy hào hùng kia.

Hệ thống các làng Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thuộc Huyện Hương Trà, Thừa Thiên, Tây-Bắc Thành Phố Huế, kết thành một giải hành lang thiên nhiên mà các đơn vị bộ đội cộng sản từ các mật khu vùng Tây-Nam Huế (A Sao, A Lưới), thường sử dụng để xâm nhập tiếp cận Thành Phố (do cố tránh các tiền đồn thượng nguồn sông Hương, mặt Nam Thành Phố). Những làng nầy từ chiến tranh 1945-1954 đã là những căn cứ địa vững chắc ‘’những chiến khu-vùng tự do’’, mà quân đội Liên Hiệp Pháp không thể nào kiểm soát được, bởi hệ thống kinh lạch của ba con sông, sông Hương, sông Bồ, sông Mỹ Chánh tạo nên một vùng trũng thấp nằm giữa Phá Tam Giang, cửa Thuận An và Quốc Lộ I ngăn cản sức tiến của bộ binh, khả năng cơ động của những người chỉ huy quân sự vùng Thừa Thiên-Huế. Lực lượng cộng sản bám chắc củng cố vùng bản lề nầy bởi đấy cũng là nơi ém quân để mở những chiến dịch quan trọng: Cắt đường số I, chận viện lên mặt phía Bắc (Quảng Trị, Đông Hà và xa hơn, Cồn Tiên, Gio Linh, Khe Sanh…) Đại Tá Trưởng sử dụng một Tiểu Đoàn Bộ binh cơ hữu làm thành phần nút chặn dùng Đại Đội Thám Kích của Sư Đoàn, Đại Đội Hắc Báo và Tiểu Đoàn 9 Dù (tăng phái), hợp cùng Chi Đoàn 2/7 Thiết Vận Xa M-113, đơn vị thống thuộc của Sư Đoàn mở hai mũi dùi tấn công chính vào hệ thống công sự, giao thông hào mà có lẽ đã đào từ ngày bắt đầu cuộc chiến và càng ngày càng củng cố độ dày để chịu đựng nổi pháo binh cùng phi cơ oanh kích. Và cũng có thể đây là lần đầu tiên phía bộ đội cộng sản gặp phải một đối thủ kỳ lạ những địch thủ tiến thẳng vào hàng rào hỏa lực của họ. Trận chiến kéo dài từ sáng sớm kéo qua trưa, phía Nhảy Dù, Bộ Binh, Thiết Giáp đồng bị thiệt hại khá nặng nhưng vẫn không thể tiến vào khu làng qua những cánh đồng ngập nước. Cuối cùng Đại Tá Trưởng chuyển lệnh trực tiếp đến cùng với Thiếu Tá Nguyễn Thế Nhã, Tiểu Đoàn 9 Dù, đơn vị tăng phái cho khu chiến thuật: ‘’Đơn vị mới thành lập (do biết rõ khi ông giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn Dù), anh lại vừa thay thế anh Huệ (viên Tiểu Đoàn Trưởng vừa tử trận tháng trước trong trận Đèo Ba Giốc, vùng Phi Quân Sự), thế nên tất cả thành bại của đơn vị là ở trận nầy đây.’’ Ông không nói hết lời, nhưng người Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng đơn vị Dù tăng phái hiểu được ý: ‘’Đây cũng là lúc quyết định một phần sự nghiệp riêng của chính ông, viên Tư Lệnh chiến trường một Tướng lãnh xuất thân từ Binh Chủng Nhẩy dù và cả danh dự Binh Chủng cũng sẽ được chứng thực nơi chiến trường hiểm hóc, xa xôi này’’. Thiếu Tá Nhã chuyển lại lệnh cho các Đại Đội Trưởng tác chiến. Và trên cánh đồng loáng nước, trong ánh sáng chập choạng của buổi chiều diễn ra một cảnh tượng khốc liệt hùng tráng…Những chiếc M-113 theo lệnh của Đại Úy Hóa, Chi Đoàn Trưởng đồng mở bung pháo tháp, các xạ thủ đại liên 50 siết cứng ngón tay vào lẩy cò tuôn loạt đạn công phá mở toang các vị trí cố thủ của đơn vị việt cộng, lính Nhảy Dù tùng thiết vượt qua mặt chiến xa, tiến lên thanh toán mục tiêu bằng cận chiến. Những Thiếu Úy Thuận Văn Chàng, Phạm Văn Thành, Chuẩn Úy Nguyễn Thành Văn…xông lên trước hàng quân với lựu đạn mở chốt cầm sẵn ở tay. Thân hình họ lảo đảo ngã xuống bờ ruộng xong đứng lên lại với những tiếng hô…xung phong…xung phong hòa lẫn tiếng đạn súng tay nổ bục trong thân thể, da thịt người vì đường đạn đi quá ngắn. Đám bộ đội cộng sản cố thủ không lường được thế trận với những người lính đối phương quá đỗi kiên cường, nên đồng loạt đứng dậy khỏi giao thông hào, đưa cao tay đầu hàng. Trận chiến kết thúc với lời khai: ‘’Chúng cháu được lệnh cố thủ vị trí vì đây là vùng giải phóng, quê nhà của đồng chí Đại Tướng!’’ Hóa ra Đại Tá Ngô Quang Trưởng đã phá vỡ huyền thoại từ đã lâu được phổ biến trong bộ đội cộng sản miền Bắc: ‘’Quân giải phóng đã kiểm soát được ba phần tư lãnh thổ miền Nam, nhất là những vùng căn cứ địa cách mạng cũ (trước năm 1954), hoặc cơ sở địa phương, quê hương các đồng chí lãnh đạo’’. Làng Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá là quê hương của Nguyễn chí Thanh, nhưng bộ đội miền Bắc đã không vào tiếp thu với ‘’chào đón của nhân dân giác ngộ cách mạng’’, mà bởi những người lính Cộng Hòa theo một cách thế khác hẳn lời tuyên truyền. Tuy nhiên, trận làng Lương Cổ đầu năm 1967, hoặc lần đánh bật toàn diện hạ tầng cơ sở, đơn vị du kích, lực lượng địa phương của bộ đội cộng sản vùng mật khu Phú Thứ, Tây-Nam Huế, bên trái Quốc Lộ 1 đường đi Đà Nẵng vào khoảng gần cuối năm sau nầy chỉ là phần dạo đầu. Phải đợi đến buổi thử sức toàn diện. Khi cộng sản quyết tâm giải phóng miền Nam bằng cuộc Tổng công kích-Tổng nổi dậy theo lời thúc dục từ Hà Nội, với lời thơ ‘’Chúc Tết’’ của Hồ chí Minh đọc trong đêm Giao Thừa Tết Mậu Thân 1968. Trận thử sức làm sáng tỏ một điều đơn giản cao quý: Quân đội của bên nào thật sự nắm giữ sắc cờ Nhân Nghĩa của Quê Hương.

27 tháng 2 năm 1968. Những giờ cuối cùng ở Ngũ Giác Đài, McNamara sử dụng quyền lực còn lại sau 1558 ngày nắm giữ chức vụ trọng yếu nhất nền Quốc Phòng Mỹ để phủ quyết yêu cầu của Tướng Westmoreland về đề nghị tăng cường thêm 200.000 nhân sự bổ sung trong các lãnh vực Chính Trị, Kinh Tế, Quân Sự và Chiến Tranh Tâm Lý. Hành động ‘’được ăn cả ngã về không’’ gọi là khôn ngoan nầy không phải do trí lực sáng tạo riêng, nhưng ông ta đã họ được từ Dean Acheson, theo cách người nầy đã một lần từ nhiệm chức vụ Thứ Trưởng Tài Chánh khi không đồng ý với chính sách tài chánh của Tổng Thống F. Roosevelt đầu thập niên 1930. Nhưng thật chỉ là một cách nói, bởi McNamara đã giữ chức vụ lâu hơn bất kỳ vị tiền nhiệm nào, lâu đến bảy năm với khả năng quyền lực đặc biệt giành riêng qua hai đời Tổng Thống. Danh tính ‘’McNamara’’ đã được dùng để đặt tên cho một phòng tuyến căn cứ hỏa lực chạy dài từ Cửa Việt ở biển Đông đến Trại Lực Lượng Đặc Biệt Làng Vei sát biên giới Lào-Việt. Cần nói thêm một điều: Chiến tranh Việt Nam có lúc được giới nghiên cứu chiến lược quốc tế gọi là ‘’cuộc chiến McNamara’’ vì người này đã ‘’tổ chức’’ hoạt động quân sự ở Việt Nam kia thành một tiến trình tiếp vận khổng lồ với phí tổn đến 4 Tỷ Đô la khởi đi từ 1965, thời điểm lực lượng bộ binh Mỹ bắt đầu tham chiến ở Việt Nam. Sư Đoàn 1 Không Kỵ, lực lượng bộ binh cơ động nhất thế giới với một Sư Đoàn trực thăng hơn 400 chiếc cơ hữu cũng là sản phẩm đắc ý nhất của ông Chủ Tịch Ngân Hàng Thế Giới sau lần rời chức vụ. Nhưng bởi không muốn mang danh là người có liên hệ đến một thất bại, nên đang trong lúc cao điểm sôi bỏng nhất của cuộc chiến. Bộ Trưởng Quốc Phòng Liên Bang Bắc Mỹ, McNamara từ chức.

Một tháng trước lần McNamara từ nhiệm, 36 của 44 Tỉnh lỵ, 5 của 6 Thành Phố, 64 của 242 Thị Trấn, Quận Lỵ Thành Phố Miền Nam đồng loạt bị tấn công bởi một lực lượng 323.500 bộ đội cộng sản gồm 97 tiểu đoàn và 18 đại đội đặc công biệt động. Cuộc tấn công khởi đi từ đêm Giao Thừa Tết Mậu Thân, đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968. Và không phải Sài Gòn với Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu, Tòa Đại Sứ Mỹ dẫu đã là mục tiêu hàng đầu của cuộc tấn công nhưng Huế lại là Thành Phố hứng chịu tàn phá nặng nề nhất của trận chiến kéo dài 26 ngày, và không những chỉ thế, cư dân Huế lại là đối tượng phải thực hiện lần ‘’trả nợ máu’’ theo cách định giá của tập đoàn quân đội cộng sản, những tiểu tổ hành quyết nằm vùng trong những ngày chiếm đóng, khi thua trận rút lui. Món nợ máu mà họ không hề vay nhưng phải trả giá đắt với chính cái chết thảm khốc mà chỉ vào thời Trung Cổ các đội binh xâm lược thường hành xử đối với quân, dân của xứ sở đối phương. Phải chăng là giá máu trong vùng ‘’bị Mỹ-Ngụy tạm chiếm’’ vùng đất mà họ đã sống từ trăm năm xưa cũ, bắt đầu từ Thế Kỷ 17, khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa.

Nhưng cuối cùng, Thành Phố Huế được chiếm lại, phục hồi, đạo binh xâm lược từ miền Bắc, từ các mật khu Tây-Nam Huế, vùng Dãy Phố Buồn Thiu dọc Phá Tam Giang buộc phải rút lui, để lại những chiến tích, những hầm chôn người tập thể tại Trường Gia Hội, Bãi Dâu, Khe Đá Mài vùng núi Ngự Bình, những truông, vực thuộc Thôn Ngũ Tây, Quận Nam Hòa. Cảnh tượng tàn bạo nầy càng đậm thêm tính ác độc của danh tự ‘’việt cộng’’, cùng mối kinh hoàng do họ gây nên. Một mặt khác, khi người dân nghe tiếng báng súng đập lách cách vào những thân người di chuyển, hoặc âm động rì rầm của máy xe thiết vận xa M-113, chiến xa hạng nặng, lời chuyển lệnh rì rào từ các máy truyền tin có khoa khuếch đại của bộ binh Mỹ…Họ hé cửa nhìn ra từ những căn nhà mái thấp, sụp vỡ, leo lét ánh đèn dầu, qua hàng rào lá chè loang lỗ trốc gốc, cảnh tượng u tối, đe dọa của thời chiến tranh trước 1950, và thì thào lời mừng rỡ chưa hẳn tin là thật…Lính tới, lính tới…Lính mình tới…Mỹ tới…Mỹ tới…khi họ thấy chạy thấp thoáng theo đội hình, dọc hè phố vươn vãi thây người trên gạch ngói đổ nát rơi rớt, những dạng người lính với y trang màu lục đậm (bộ binh), hoặc tác chiến hoa của các Binh Chủng Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến với ba lô nổi gồ trên lưng, khối tròn quen thuộc của chiếc nón sắt. Tất cả đã trở nên biểu tượng của linh thiêng cứu viện, nguồn hy vọng thiết thân giữa cảnh chết, sau bao ngày đe dọa hung hiểm bởi cái chết bao vây. Và khi Huế được sống lại, qua tiếng lời người dân, danh tính, vị Tướng quân: ‘’Ông Trưởng trong Mang Cá ra Gia Hội thăm đồng bào’’ gắn liền cùng chiến công Giữ Nước-An Dân, như Trần Hưng Đạo đã kiên trì bảo vệ Thăng Long (cuối Thế Kỷ 13), của Văn Thiên Tường đời Nam Tống (đầu Thế Kỷ 13) chết cùng Thành Tương Dương, hoặc M. I. Kutuzov trải thân với vận mệnh Moscow trong chiến tranh chống Napoléon năm 1812. Chúng tôi không đặt điều so sánh trong văn chương, chữ nghĩa, nhưng xác chứng với máu, xương của dân, quân đổ xuống qua dài cơn lửa đạn. Và điều nầy sẽ thêm một lần xác chứng ở mùa Hè 1972, cũng với người dân xứ Huế. Nay, chúng ta hãy cùng sống lại những thời khắc hào hùng bi tráng của quê hương. Đêm Xuân đẫm nước mắt năm Mậu Thân, 1968.

Hoạt động của phía cộng sản không chỉ là một chiến dịch quân sự thuần túy, do chiến tranh Việt Nam đã tạo nên một thất lợi tâm lý trầm trọng trong dư luận Mỹ Quốc, từ sự kiện Walter Cronkrite đã có mặt tại Sài Gòn ngay trong tháng Hai, khi trận chiến đang bùng nổ giữa những đường phố, để sau đó trong buổi phát hình ngày 27 cùng tháng, người hướng dẫn dư luận quần chúng nầy đã mạnh mẽ xác định: ‘’Hơn bao giờ hết, chúng ta có thể nói rằng kinh nghiệm đẫm máu tại Việt Nam sẽ phải mở ra một lối thoát’’. Lời tiên tri nầy được hiện thực bởi hòa hội Paris khai mạc vào cuối năm 1968 mà áp lực vốn có từ nhiều năm trước. Cụ thể lời như lời thúc dục của McNamara (lại là Mac chứ không ai khác) với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong lần viếng thăm Sài Gòn từ 1967: ‘’Chúng tôi cần thương thuyết với Hà Nội để cho cuộc tuyển cử sắp tới (trong năm 1968)’’, hoặc của Đại Sứ Bunker tại Sài Gòn: ‘’Dư luận Hoa Kỳ đã trói tay Tổng Thống (Mỹ), thế nên phải có cuộc thương thuyết hòa bình (tại Paris) để chứng tỏ cùng Quốc Hội và nhân dân Hoa Kỳ rằng chúng ta (Hoa Thịnh Đốn lẫn Sài Gòn) đều mong muốn hòa bình’’. Hoặc thái độ bất phục tùng của gia đình David Vandivier ở Khu Spanish Harlem, New York mà người cha vốn là cựu chiến binh Thế Chiến Thứ 2 qua quyết định đưa anh em David và John Vandivier đến Canada cuối mùa Hè 1968 để tránh lệnh trưng binh. Và cho dù những sự kiện vừa kể trên đã là điều thực tế, nhưng Võ nguyên Giáp sau nầy lại xác nhận với Ban Biên Tập Đặc San NAM, Nhà xuất bản Atlas, Tây Âu: ‘’Ý kiến cho rằng Trung Ương đảng đặt nặng vấn đề về các phong trào phản đối chiến tranh ở Mỹ trong quyết định tiến hành Tổng công kích-Tổng khởi nghĩa ở miền Nam là một nhận định kém cơ sở’’. Cuối cùng, sự thật chỉ phản ảnh đúng nhất qua phân tích của Khối Quân Sử, Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: ‘’Trận chiến Khe Sanh và cuộc Tổng công kích Mậu Thân, (Hiện thực Nghị Quyết 13 Trung Ương đảng) đồng có những mục đích:

- Dồn mọi nỗ lực để chiến thắng về mặt quân sự (đối với lực lượng Mỹ. Điển hình mặt trận Khe Sanh), buộc Mỹ phải rút quân ra khỏi miền Nam tương tự quân đội Pháp sau trận Điện Biên Phủ (Do dư luận phản chiến tại Mỹ làm áp lực như phần trên vừa trình bày. Tuy không là yếu tố quyết định hàng đầu).

- Làm băng rã Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chứng minh cùng dân chúng miền Nam cũng như dư luận thế giới về sự lớn mạnh (chính trị lẫn quân sự) của phía cộng sản. Đồng thời dựng nên Mặt Trận Liên Minh Dân Chủ Hòa Bình tại Sài Gòn, Huế với mục đích vận động quần chúng nổi dậy lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

- Chuẩn bị, củng cố vai trò chính trị Mặt Trận Giải Phóng trước khi hội nghị Paris khai diễn. Nhưng cũng có dư luận cho rằng đây là ‘’đòn mật ước’’ giữa Hà Nội và Mỹ (qua trung gian của Liên Xô) để thanh toán hạ tầng cơ sở Mặt Trận (có khuynh hướng thân Trung Cộng), giúp Hà Nội có cớ khuynh loát mạnh mẽ hơn đối với thành phần lãnh đạo cộng sản miền Nam, song song với sự kiện về vai trò của Nguyễn chí Thanh bị tự trận, thay thế bởi đích danh Võ nguyên Giáp, sự xâm nhập lực lượng bộ đội chính quy cộng sản miền Bắc vào Nam với khối lượng lớn. Điều nầy vẫn là một ‘’nghi án chính trị’’ chưa soi sáng đủ. Tuy nhiên sau 1975, với lần thanh toán không nương tay cái gọi là ‘’Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam’’ cùng cách sử dụng ‘’tận diệt’’ những binh đội cộng sản thuộc ‘’chính phủ’’ nầy với lối đánh thí quân không thương tiếc do những cán bộ khung đi từ miền Bắc vào sau 30 tháng Tư năm 1975, chỉ huy ở chiến trường Campuchia (1979), đã là những chứng cớ cụ thể về lần ‘’thanh toán quyết định giá trị’’ cuối cùng của những ‘’đồng chí miền Bắc đối với người anh em mặt trận giải phóng miền Nam’’. Một tiểu đoàn bộ binh thuộc tỉnh đội Rạch Giá khi điều lên Campuchia không hề nhận được nhu yếu phẩm sinh hoạt hàng ngày, các gia đình bộ đội (hoàn toàn là cư dân miền Nam) phải tự túc tiếp tế cho con em mình! Tiểu đoàn nầy sau một thời gian ngắn đã hoàn toàn tan rã, còn lại không quá 10 người, người sống sót trốn toát qua Thái Lan bằng đường bộ (lẽ tất nhiên vùng đất dung thân cuối cùng không đầu khác là nước Mỹ). Nghi án chính trị vừa kể trên qua thực tế sau năm 1975 hẳn có mức độ khả thể đáng tin cậy.

TRẬN ĐÁNH

Ngày 20 tháng Giêng 1968, Đại Úy W. H. Dabney chỉ huy Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 26 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tiến chiếm đồi 881, cao độ giữ mặt Tây và Tây-Bắc căn cứ Khe Sanh, trên Đường Số 9 hướng biên giới Lào, mở đầu quyết định chọn Khe Sanh làm ‘’diện’’, thu hút và tiêu diệt lực lượng cộng sản trong khuôn khổ hành quân Scotland. 5 giờ 30 sáng ngày 21, những quả hỏa tiễn đầu tiên của phía cộng sản đổ chụp xuống các vị trí pháo binh, bãi đậu xe, phi đạo dã chiến, sân trực thăng, hầm phòng thủ lực lượng đồn trú. Mười ba tấn đạn đại pháo gồm 130 ly, hỏa tiễn 122, súng cối 82 ly đồng rơi xuống cứ điểm mở đầu chiến dịch dứt điểm Khe Sanh với lực lượng xung kích gồm hai sư đoàn bộ binh nặng 325C và 304 theo lệnh điều quân của đích thân Võ nguyên Giáp, còn có một sư đoàn khác làm trừ bị, do chưa điều động vào vùng nên chỉ danh không được xác định.

Trận đánh không hoàn toàn bất ngờ, vì từ buổi sáng Dabney đã nhận được một ‘’người khách không mời’’, viên Trung Úy bộ đội chính quy Bắc Việt hồi chánh với cây cờ trắng và bản tường trình chi tiết kế hoạch tấn công tiến chiếm Khe Sanh của phía cộng sản: ‘’Từ Khe Sanh, bộ đội cộng sản sẽ điều quân về hướng Đông, dọc theo Đường 9 đánh chiếm Quảng Trị. tiếp theo sẽ là Huế.’’ Nói chắc một ý niệm. Hành quân chiếm đóng toàn bộ phần đất Việt Nam Cộng Hòa Bắc đèo Hải Vân. Chưa hề thấy trong cuộc chiến lâu dài ở Việt Nam có một trường hợp lệnh hành quân bị tiết lộ một cách chính xác và mau mắn đến như vậy. Sự kiện lại xảy ra từ phía cộng sản, một phe tham chiến hằng từ lâu thực hiện tính bảo mật cao độ và có hiệu quả. Người nầy cũng không quên chi tiết chính xác: Giờ G là 12 giờ 30 của Ngày N 21 tháng 1.1968. (‘’Giờ G’’ của ‘’Ngày N’’: Giờ của ngày quyết định mở đầu diễn tiến hành quân).

Không chậm trễ, để đối lại, phía Mỹ huy động toàn bộ hệ thống hỏa lực gớm ghê của họ để ‘’Khe Sanh không thể là một Điện Biên Phủ’’ với kế hoạch đánh bom mang bí danh Niagara, mà chỉ trong vòng 24 giờ của ngày 21 tháng 1, đã có đến 600 phi vụ do phi cơ Hải Quân và Không Lực Hoa Kỳ hiệp đồng thực hiện thêm với 49 phi xuất B-52 đến từ Thái Lan và Đảo Guam. Khi trận đánh kết thúc, chuyên viên hỏa lực không yểm chiếc tính ra số liệu chính xác: Trong 77 ngày Khe Sanh bị vây hãm, Không Lực, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã thực hiện 24.000 phi vụ chiến thuật với 350 phi cơ gồm các loại A. 4, 6, 8 Skyhawk và F.4C Phantom. Đồng thời B-52 chiến lược cũng đã tham dự với 2700 phi xuất. Chúng ta nên biết thêm chi tiết: Mỗi chiếc B-52 trung bình mang 108 quả bom, mỗi quả nặng 245 ký lô.

Tổng kết, sau 77 ngày chiến trận, chung quanh cứ điểm có chiều dài hai, chiều ngang một cây số gọi là Khe Sanh kia, trên những vị trí (có rất nhiều điểm chỉ là nghi ngờ) của hai sư đoàn 325C và 304 bộ binh Bắc Việt, đã có đến 110.000 tấn bom thả xuống. Không kể đến hỏa lực trực thăng võ trang và các giàn pháo 105, 175 ly của bộ binh Mỹ. Nhưng Khe Sanh chỉ là một ‘’diện’’ của thế trận là ‘’cái cớ’’ thu hút quân đội của các phe tham chiến trên chiến địa. Nỗi ĐAU Mậu Thân. Điểm thật thực sự xẩy ra ở những nơi khác, với những người dân. Người thường dân của miền Nam nước Việt. Huế được chọn lựa làm địa điểm dấy lên vũng lửa cảnh xương máu chập chùng lớn nhất.

Đêm Giao Thừa 1967 sang 1968, đài Hà Nội phát ra lời ‘’Thơ Chúc Tết’’ của Hồ chí Minh có nội dung:

“Xuân nầy hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà.
Nam-Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên toàn thắng ắt về ta.”

Pháo Sài Gòn, các Thành Phố miền Nam nổ nhiều hơn tất cả mọi năm. Hiện tượng pháo nổ dòn dã bày ra điều cay đắng: ‘’Chiến tranh và tất cả đau thương, khốn cùng của nó là một ‘’thực thể’’ cần được tiêu trừ. Con người luôn cầu Hòa Bình đồng thời cũng sẵn sàng thực hiện Chiến Tranh’’. Nương theo tiếng pháo nầy, bộ đội chính quy miền Bắc, lực lượng vũ trang giải phóng, du kích địa phương cộng sản miền Nam đồng nổ súng hiện thực lời ‘’Thơ Chúc Tết’’ trên. Cảnh tượng bi thảm xẩy ra cùng lần trên 44 Tỉnh lỵ miền Nam với những ghi nhận đầu tiên: Vùng 1 Chiến Thuật, bao gồm những Tỉnh cực Bắc của miền Nam, từ sông Bến Hải, Quảng Trị đến Đèo Bình Đê, địa giới thiên nhiên giữa Quảng Ngãi và Bình Định với trận Quảng Trị, 4 giờ đêm và mặt trận Huế bắt đầu lúc 2 giờ sáng mồng 1 rạng mồng 2 Tết Mậu Thân (30-31 tháng 1 năm 1968). Trận đánh được bảo mật tối đa với những cán binh, bộ đội vũ trang, bằng giấy tờ giả mạo xâm nhập trước ngày, giờ khởi sự vào các Thành Phố, Tỉnh lỵ, Thị Trấn, nơi đã có sẵn những cán bộ nằm vùng cơ sở lo việc tiếp đón, tiếp tế. Đặc biệt quan trọng là những đơn vị đặc công nội thành, thành phần cốt cán, mở đợt công phá đầu tiên vào những mục tiêu, dẫn đường cho lực lượng võ trang chính quy. Từ cuối năm 1967, Hà Nội cũng đã cho xâm nhập vào miền Nam hơn 300 cán bộ gồm thành phần giáo sư, giảng sư đại học, kỹ thuật gia điện ảnh, văn nghệ sĩ, kỹ sư, bác sĩ chuẩn bị phụ trách công tác trí vận. Nhóm chuyên viên nầy được phân đều cho các Tỉnh để làm nồng cốt xây dựng mặt trận văn hóa-chính trị sau khi cuộc Tổng công kích quân sự thành công. Trận đánh cũng hoàn toàn ‘’bất ngờ và bảo mật’’ đối với những đơn vị, cá nhân thuộc lực lượng cộng sản tham dự tác chiến. Đa số, nếu không nói là hầu hết, chỉ là những thiếu niên nông thôn miền Nam hoặc những bộ đội nhỏ tuổi miền Bắc. Những người trẻ tuổi gọi là ‘’bộ đội giải phóng’’ nầy trên đường xâm nhập vào Thành Phố, Thị Trấn miền Nam đã được ‘’học tập’’ một điều phấn khởi: ‘’Vào tiếp thu những Thành Phố miền Nam, nơi bọn Mỹ-Ngụy đang dẫy chết và nhân dân đã nổi dậy cướp chính quyền dưới lãnh đạo của cán bộ cơ sở đảng.

Huế, Thành Phố cổ hơn trăm năm, Kinh Đô của nước Việt thuở hưng thịnh, đêm mồng một rạng mồng hai Tết Mậu Thân lặng chìm vũng tối. Sự im lặng cô đặc đến nỗi tiếng pháo nổ mất hút giữa tầng khối dãy tường đá tảng bất động vây quanh con sông thẫm màu với lớp dân cư nhiều thế hệ sống đời dài không chút đổi thay. Nhưng, bất thình lình, cảnh tượng bình lặng nầy bị xé rách bởi tiếng đạn súng cối, hỏa tiễn rít ngang bầu trời nháng lửa soi bóng dáng chập chờn những hình người mang lá ngụy trang lẫn lút nương theo màn đêm trên những lối đi dưới tàng cây, lề đường kín cửa. Bộ đội cộng sản xâm nhập tiến chiếm Thành Phố. Lực lượng cộng sản đánh Huế phối trí trận địa theo kế hoạch:

- Đoàn 5 do Nguyễn Vạn chỉ huy gồm những đơn vị K4A, K4B, K10 và tiểu đoàn 12 đặc công phối hợp với thành đội Huế từ vùng núi thượng nguồn Sông Hương hành quân bôn tập tấn công những cơ sở chính quyền, chiếm lĩnh vùng dân cư hữu nghị con sông, phía Nam Thành Phố.

- Đoàn 6 gồm có các tiểu đoàn K1, K2, K6 và 12 đặc công với bốn đại đội cơ hữu 15, 16, 17, 18 tăng cường một đại đội súng phòng không, toàn bộ lực lượng địa phương thuộc hai Quận Hương Trà, Phong Điền và hai đại đội biệt động có nhiệm vụ tấn công từ hướng Bắc vào các mục tiêu: Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh đóng tại Mang Cá, sân bay Tây Lộc, Đại Nội Hoàng Thành Huế.

Hai lực lượng trên được chi viện thêm các tiểu đoàn 416, 418 thuộc đoàn 9 xuất phát từ vùng núi thung lũng A Sao Tây-Nam Huế. Đơn vị nầy trước chiến dịch mang danh hiệu Cù chính Lan, tên một thủ trưởng đã chỉ huy đoàn nầy trong chiến dịch Hòa Bình Bắc Việt 1951. Vào giai đoạn sau của chiến dịch, lực lượng cộng sản được đoàn 8 (hậu thân của trung đoàn sông Lô) tăng cường, bôn tập về Huế từ mật khu hướng Tây-Bắc.

Mũi tiến công chính do thủ trưởng đoàn 6 Nguyễn trọng Dần chỉ huy đánh chiếm tất cả cơ sở quân sự trú đóng trong khu thành nội một cách nhanh chóng, ngoại trừ sân bay Tây Lộc, các cơ sở trên đều bị chiếm đóng dễ dàng bởi chỉ do các đơn vị chuyên môn, không tác chiến phòng thủ. Đoàn nầy còn có nhiệm vụ lớn, ‘’bắt sống Tướng Trưởng’’ giải về Bắc.

Tổng số quân cộng sản tham chiến gồm khoảng 7500 người cộng với lực lượng đặc công thành đội Huế. Cuối chiến dịch, phía cộng sản thiệt hại 1042 người, trong số có một cán bộ cấp trung đoàn, 8 cán bộ tiểu đoàn, 24 cán bộ đại đội và 72 trung đội trưởng.

Trong quá trình chiếm giữ Thành Phố Huế, phía cộng sản khoe đã bắt theo 600 thanh niên tòng quân, chiếm kho bạc lấy 4 triệu (khoảng 400.000 đô la theo thời giá), giải thoát 1800 phạm nhân. Nhưng quan trọng hơn hết là hình thành Mặt Trận Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, gồm có những thành phần: Chủ Tịch Lê văn Hảo, ủy viên bà Tuần Chi, Thượng Tọa Thích Đôn Hậu, huy động được một số lượng quần chúng trong những ngày chiếm đóng. Nhưng, tất cả thành quả chính trị, vật chất nầy hoàn toàn trở nên là điều vô nghĩa khi ta xét đến cuộc phản công của phía Cộng Hòa, lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ và những đau đớn tàn nhẫn mà lực lượng cộng sản đã thực hiện lên những đối tượng mà họ luôn nại đến trong sự nghiệp ‘’giải phóng’’. Những người dân bị thảm sát cực độ vô ích phí phạm.

Trận phản công Liên Quân Việt-Mỹ đã diễn ra rất mực hào hùng vì chiến trường nầy đã có mặt từ trước những đơn vị ưu tú nhất của hai Quân Lực: Sư Đoàn 1 Bộ binh Việt Nam Cộng Hòa với Đại Đội xung kích trinh sát lừng lẫy Hắc Báo Chiến Đoàn I Nhẩy Dù tăng phái gồm các Tiểu Đoàn 2, 7, 9 dưới quyền của Trung Tá Lê Quang Lưỡng. Về phía Mỹ có Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến với Chi Đoàn thiết vận xa cơ hữu. Chiến Đoàn Đặc Nhiệm X Ray do Tướng Foster Lahue, cựu chiến binh của Thế Chiến II và Triều Tiên chỉ huy gồm ba Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Ngoài ra phải kể đến hai lực lượng mạnh, hai Lữ Đoàn 1 và 2 thuộc Sư Đoàn Nhẩy Dù 101 đóng tại Phú Bài và một Lữ Đoàn Không Kỵ (Air Cavalry) chiếm giữ vùng núi Tây-Nam Huế, ứng chiến cho chiến trường Khe Sanh. Tất cả lực lượng quan trọng tinh nhuệ nầy đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc theo diễn tiến sau:

Đại Đội Hắc Báo, thành phần xung kích, Trinh Sát Sư Đoàn I Bộ Binh (đơn vị Đại Đội Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có huy chương tuyên công nhiều nhất từ hai chính phủ Việt-Mỹ, kể cả những đơn vị biệt lập của Quân Lực Đồng Minh), có nhiệm vụ trấn giữ Khu Đại Nội, Điện Thái Hòa, nơi thiết triều của các Vua Triều Nguyễn. Trước mặt Điện là sân chầu lót đá tảng, tiếp Cửa Ngọ Môn, biểu tượng uy quyền không những của Hoàng Tộc mà là quốc thể nước Nam. Kỳ Đài đối diện Cửa Ngọ Môn về hướng Nam, nơi là cờ hồn thiêng sông núi hằng tung bay. Nhưng Đại Úy Phan Gia Lâm với quân số thiếu hụt (do số lớn binh sĩ đã về nhà ăn Tết) không thể nào chống cự nổi mũi tiến công một tiểu đoàn (một trong ba nỗ lực chính, thuộc đoàn 6 bộ đội cộng sản) vào khu vực Đại Nội. Sau năm giờ cầm cự, 5 giờ sáng ngày mồng 2, Đại Đội của Lâm phải rút ra khỏi Khu Cấm Thành để cố thủ Kỳ Đài, nhưng cuối cùng, lúc 8 giờ sáng, ổ kháng cự Kỳ Đài cũng đành lâm chịu thất thủ và lá cờ ba màu vàng, xanh, đỏ được bộ đội cộng sản kéo lên trên nền trời mù sương xứ Huế ngày mưa phùn.

Nhưng lần mất Sân Bay Tây Lộc, Đại Nội chỉ là những tai nạn ắt có đầu tiên phải gánh chịu, phía Việt Nam Cộng Hòa lập tức phản công với những đơn vị chưa hề thất bại. Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù đơn vị từ lúc mới thành lập 1965, do Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy đã đánh những trận mở đầu ở Bà Điểm, ngoại ô Sài Gòn 1966, vùng Phi Quân Sự 1967, để nên thành đơn vị được xuất sắc tuyên công chỉ sau ba năm thành lập. Đêm mồng 1, từ Quận Quảng Điền, Đông Bắc Thị Xã Huế, đơn vị đã hành quân cấp tốc chạy qua hàng cây số với tất cả với tất cả sức nặng ba lô vũ khí trên lưng người lính. Nhưng lần chạy việt giã băng đồng khó nhọc nầy không hoàn toàn b́nh an v́ quân cộng sản đã phục kích ngay trên đoàn đường độc đạo từ Quận lỵ đổ ra Quốc Lộ I ở An Lỗ, trên cầu sông Bồ. Tiểu Đoàn Phó Nghi bị tử thương cùng một số binh sĩ, nhưng Tiểu Đoàn cũng đã kịp đến cầu An Hòa, (cửa ngõ đường lên phía Bắc, hướng Quảng Trị), hiệp đồng với đơn vị bạn, Tiểu Đoàn 7 Dù, đánh qua mục tiêu làng Đốc Sơ, chiếm giữ đầu cầu, cắt đường tiếp vận về những căn cứ, mật khu cộng sản thuộc vùng Phong Điền, An Lỗ, Cổ Bi, Hiền Sĩ. Những căn cứ địa vùng Tây-Bắc Thừa Thiên-Huế đã nổi tiếng từ chiến tranh 1945-1954 là những an toàn khu bất khả xâm phạm. Từ Cầu An Hòa vào đến Đồn Mang Cá, Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh chỉ hơn cây số đường chim bay, nhưng hai Tiểu Đoàn Dù 2 và 7 phải mất một ngày sau mới vào tới được. Nơi nầy, Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng đang đích thân chỉ huy cuộc chống đỡ với nón sách, áo giáp, súng cá nhân như một khinh binh. Hai đơn vị Dù đi hết đoàn đường ngắn ngủi kia với hơn hai mươi bốn giờ tác chiến liên tục, với kết quả số thương vong hao hụt hơn một nửa quân số cơ hữu. Điển hình, Đại Đội 74 mất gần trọn Đại Đội với Đại Đội Trưởng Nguyễn Lô bị thương nằm dưới hai lằn đạn, một ngày sau mới được kéo về như một xác ma. Một xác chết gần nghĩa đen nhất vì Lô phải giả chết hơn hai mươi bốn giờ qua, giữa những binh sĩ tử trận, trên nghĩa trang người chết từ lâu cùng những người hấp hối mới hôm qua. Trưa mồng 4, Tiểu Đoàn 9 Dù, đơn vị đã chạm địch từ đêm Giao Thừa ở mặt trận Quảng Trị với trung đoàn 812 cộng sản Bắc Việt, tuy đã đánh bất được những đợt tấn công của địch trong suốt hai ngày mồng 2 và mồng 3, bảo vệ được vòng đai phòng thủ Thị Xã, nhưng đơn vị nầy cũng đã bị thiệt hại đến trăm binh sĩ, cụ thể như với Đại Đội 94, đơn vị trấn giữ Khu Nhà Thờ Tri Bưu (chịu hướng tấn công nặng nhất mặt trận Quảng Trị) đã mất hẳn năng lực chiến đấu, bởi Đại Đội Trưởng Hổ, Lộc tử trận. Nhưng dù với quân số thiếu hụt nầy, Tiểu Đoàn 9 chỉ sau một ngày đến Huế, sáng mồng 5, đơn vị đã phải xuất quân chiếm lại Cửa Chánh Tây, đường thông về phía những mật khu trong Trường Sơn. Trường Thành Huế, khối đá, gạch, vuông vức mỗi chiều khoảng hơn hai cây số với những chồng gạch được ghép chặt vào nhau bởi vôi trộn mật mía, cao năm thước, trên có lối đi để binh lính tuần tra, xe ngựa di chuyển. Nhưng khối đá tảng kiên cố nầy trong những ngày đầu Xuân hôm nay đã là những chốn nguy nan khôn cùng với những tổ tam-tam (tổ chức theo ‘’tam chế- 3 đơn vị một’’) bộ đội cộng sản. Mỗi tổ tam đều có đủ trung liên, B-40 và AK cá nhân, nơi những ngã tư, điểm chốt chận đường đi đến các Cửa Thành đồng được các tổ thượng, đại liên trấn giữ. Chúng ta hãy nghe lại lời tường thuật đơn giản của một người lính trong cuộc chiến ngày ấy ‘’Khi đến gần Cửa Chánh Tây, tôi thấy rất nhiều địch đội nón cối, tay cầm xúng AK-47, B-40, đi qua đi lại trên bờ thành. Chúng tôi chờ trời tối cho kinh binh lén leo lên, dùng lưỡi lê đánh cận chiến, chiếm được một góc Thành làm đầu cầu cho Đại Đội nhào lên bắn ào ạt, khiến địch trở tay không kịp. Dùng cách nầy tuy tổn thất nhiều, nhưng vì quân địch đã chiếm lợi thế bờ Thành cao hơn 5 thước, nếu không liều mạng xông vào hang cọp, thì không sao bắt được cọp con. Sau hai ngày tác chiến, Tiểu Đoàn (9 Dù) mới chiếm được Cửa Chánh Tây, bàn giao lại cho Sư Đoàn 1, trở ngược ra sau đánh Cửa Đông Ba (Cửa Chính Đông của Thành Nội Huế). Tại đây, có một cây thượng liên đặt trên Cửa Thành cao, rất kiên cố. Chúng tôi thử xung phong nhiều lần mà không lên được. Trung Đội tôi lúc ấy còn 21 người, nhưng do khí thế chiến thắng từ Quảng Trị và Cửa Chánh Tây vừa rồi nên rất tự tin. Đợi ngay khi điều chỉnh pháo binh dập nát khẩu thượng liên cả Trung Đội vừa bắn vừa hô xung phong tiến nhanh lên chiếm Cửa Thành. Thấy tên xạ thủ thượng liên chết nằm trên súng, hai chân bị khóa bằng giây xích.

Kiểm điểm lại Trung Đội chỉ còn mười người nguyên vẹn. Mười một mạng người chết và bị thường để đổi lấy Cửa Thành nầy đây. Lính Nhẩy Dù trả nợ máu cho Quê Hương miền Nam, lấy lại bình an cho đồng bào xứ Huế. Gần 30 năm sau, trên đất Mỹ, tôi vẫn nhớ cảm giác cay cay đau đớn khi đứng trên Cổng Thành đổ nát, ngày mùa Xuân năm xưa. Mùa Xuân rây máu của xứ Huế mù trời sương đục, tang tóc đau thương’’. Hồi Ký Trương Dưỡng Một Cánh Hoa Dù, 1997 CA, USA.

Khi Huế bị đánh, về phía Mỹ không có một lực lượng tác chiến nào trong Thành Phố, ngoài Bộ Chỉ Huy MACV ở sát cạnh Tiểu Khu Thừa Thiên. Mãi đến chiều ngày mồng 3 Tết (2.2.1968) mới có một Đại Đội Thủy Quân Lục Chiến đầu tiên đến tăng cường giữ MACV. Liên tiếp trong ba ngày 1, 2, 3 tháng Hai, lực lượng của Tiểu Đoàn 2/5 Thủy Quân Lục Chiến như trên đã nói mới vào vùng hành quân với mục tiêu là Khu Đại Học Huế và Bộ Chỉ Huy MACV. Thủy Quân Lục Chiến Mỹ có đại bác ONTOS sáu nòng có khả năng công phá mục tiêu, công sự nặng. Họ đánh mỗi ngày một mục tiêu, mỗi đường phố, đến tối rút về khu MACV, thế nên, diễn tiến hành quân hóa nên trì chậm, không phát triển được thảnh quả ưu thế hỏa lực và tính cơ động của đơn vị. Những ngày sau, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tiếp tục truy kích, chiếm đóng Khu Đường Lê Lợi, ngang Viện Đại Học và trước mặt Nhà Ga. Khai triển thành quả, lực lượng Mỹ đẩy lui địch ra khỏi khu vực Phú Cam, khiến địch phải phân tán mỏng rút về phía Nam Giao. Hồi 16 giờ chiều ngày 10 tháng Hai, một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến trực thăng vận tăng viện cho Tiểu Đoàn 2/5. Tuy thời thiết rất xấu, nhưng cuộc chuyển quân cũng hoàn tất, trong cùng lúc một Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến khác được đưa từ Phú Bài vào Huế bằng xe. Chính quyền và dân chúng đồng lòng nô nức trước lần tăng viện mang lại phấn khởi nầy.

Giai đoạn quyết định giải tỏa mặt trận Thành Phố Huế được đánh dấu bởi lần thay thế Chiến Đoàn A Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. Chiến Đoàn nầy được không vận từ Sài Gòn đến sân bay Phú Bài, từ đây di chuyển đến cầu tàu hữu ngạn sông Hương, dùng thuyền đổ bộ lên Bến Bao Vinh để tiếp xâm nhập vào Thành Nội Huế. Chiến Đoàn A gồm 3 Tiểu Đoàn bộ chiến do Thiếu Tá Hoàng Thông chỉ huy. Sáng ngày 18 tháng Hai, Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến do Thiếu Tá Phan Văn Thắng chỉ huy, Tiểu Đoàn 5, Thiếu Tá Phạm Văn Nhã Tiểu Đoàn Trưởng xuất phát từ Thành Nội Huế, để từ đây mở rộng ra hướng Cầu Bạch Hổ. Trận chiến ở Khu Vực Thủy Quân Lục Chiến được mô tả như sau dưới mắt nhìn của Nguyễn Tú, Phóng Viên Niên Trưởng của làng báo Sài Gòn ba mươi năm trước ‘’Đại Đội 4 Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến do Trung Úy Nguyễn Xuân Tòng chỉ huy, anh chỉ cho tôi hướng tiến quân: Địch đang ở trong cái chùa cách chúng ta 30 thước và cách trường học phía bên trái 60 thước…’’ Bất ngờ tiếng nổ ầm cách chúng tôi khoảng mười thước, ném tung đất bùn lên đám lính đang ngồi thấp chờ lệnh. Phía cộng sản bắn hỏa tiễn vào đội hình của đoàn quân. Trung Úy Tòng gọi máy về Bộ Chỉ huy để xin chiến xa tăng cường yểm trợ cuộc tiến quân. Khoảng ba phú sau, ba chiếc tăng không biết từ đâu ùn ùn chạy đến. Đại Bác chiến xa đồng khai hỏa, tiếp loạt đạn đại liên 50 ly chém gẫy cây lá, lá rơi tơi tả. Đạn súng đã bắn ra mà tiếng dội còn vang vọng trong sương mai lạnh lẽo. Trung Úy Tòng ra lệnh cho toán quân Chuẩn Úy Nhựt tiến chiếm ngôi chùa. Nhựt dẫn đầu toán lính, vừa bắn vừa chạy, tản rộng hai bên bọc lấy những bức tường của ngôi chùa, sau đó tiếp tục đánh vào mục tiêu thứ hai, khu trường học, nơi những địch quân vừa từ chùa chạy về cố thủ. Phản lực được gọi đến yểm trợ, những trái bom rơi gần chỉ trong khoảng cách 100, 150 thước, những mảnh gang văng tới tận khu chùa, đen sì, nóng bỏng như vừa được lấy từ lò đúc. Qua máy truyền tin, tôi được biết có một toán Thủy Quân Lục Chiến vừa thanh toán được một hầm cố thủ mà toán việt cộng trong ấy khoảng 15 tên đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Tôi muốn chạy sang bên ấy để chụp hình thì người lính bên cạnh đã ngăn cản: ‘’Không được, ông chạy qua bên ấy dễ ăn kẹo vi xi lắm, đợi chúng tôi dọn sạch cái nhà và ngôi trường, hơn nữa phải đào hầm lên mới chụp hình được chứ’’. Tôi nghe hợp lý nên ngồi lại. Bỗng một tiếng la lớn: ‘’Chế cha, Chuẩn Úy Nhựt chạy trước kìa… Đâu có lệnh cho lên ?!’’ Người lính chưa kịp dứt lời thì tràng đạn ‘’tắc, tắc’’ nổ dòn…Một bóng người ngã gục trên khoảng đất trống, cách chùa mười lăm thước…Có ai đó đã lấy một tấm pông-sô phủ lên hình hài Chuẩn Úy Nhựt. Một người lính nói với tôi ‘’Ông biết không, Chuẩn Úy Nhựt hăng lắm. Đại Đội 4 chúng tôi trong trận Cai Lậy lấy được nhiều súng nhất đến 95 khẩu đủ loại’’. Vô tình người lính đã đọc một bài điếu văn giản dị, đơn sơ mà bao giá trị bao ý nghĩa.

Gần chỗ cỏ xanh loang máu đỏ lẫn với bùn, nơi Chuẩn Úy Nhựt ngã xuống cho lần giải phóng Thành Nội Huế, một chiếc nón sách nằm trơ, ngửa lên bầu trời vẫn mây xám, mưa phùn, gió rét. Hai bên nón sắt có giòng chữ và chữ ký ngang tàng, phóng túng: ‘’Sống bên em, chết bên bạn’’ của người lính đã chết trong buổi đầu Xuân. Người lính còn rất trẻ.

Mặt trận Thành Phố Huế chấm dứt với lần tham chiến của hai Tiểu Đoàn 21 và 39 Biệt Động Quân có nhiệm vụ tảo thanh Khu Gia Hội, vùng cư dân nằm dọc theo Sông Đào và Sông Hương. Vùng nầy nhà cửa ít bị thiệt hại nhưng đầy đặc những hầm xác người bị thảm sát do lần rút đi trong thất bại của lực lượng cộng sản sau 26 ngày chiếm đóng. Bốn giờ chiều ngày 24 tháng Hai năm 1968, hình ảnh bi tráng linh thiêng của chiến tranh Việt Nam hiện thực: Người Huế, những người lính chiến đấu ở Huế bật khóc khi Lá Cờ Vàng Ba Sọc lên cao trên Kỳ Đài giữa mù sương và mưa bay. Và cũng như lần chào cờ đầu năm cách đó 26 ngày, Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh toàn thể lực lượng giải tỏa Thành Phố Huế suốt khoảng thời gian dài kia đã không hề nghỉ ngơi, với trang bị nón sắt, áo giáp như một người lính ở đầu tuyến. Ông đi tới vị trí phòng thủ của binh sĩ tiền trạm Lữ Đoàn I Dù (gồm những lính yểm trợ, tiếp vận), cùng những đơn vị lính chuyên môn (Quân Y, Quân Xa, Truyền Tin…) của Sư Đoàn 1 những ‘’đơn vị tác chiến’’ đầu tiên mà ông vận dụng được để chống cự đợt tấn công cường tập đầu tiên của binh đội đặc công E 6 do thủ trưởng Nguyễn trọng Dần đích thân chỉ huy. Ông có mặt nơi Trung Tâm Hành Quân, theo dõi các vụ ném bom, phản pháo, cố thủ những vị trí tái chiếm, điều quân tăng viện. Ông đến đầu giường của thương binh vừa được chuyển về Quân Y Viện, ông có mặt với những ca mổ nghiêm trọng, an ủi thân hân binh sĩ thiệt mạng. Ông đã là Tướng lãnh độc nhất của Quân Lực Miền Nam sống trọn vẹn với chiến trường, với mỗi người lính, khi cần có những quyết định khẩn cấp, hiệu quả kể từ ngày khởi đầu trận đánh, để đến hôm nay trong buổi oanh liệt, chỉ huy lễ thượng kỳ. Khuôn mặt khắc khổ chĩu nặng ưu tư của người chỉ huy chiến trường lặng xuống trong khoảng khắc.

Quân và Dân đã một lần bật khóc
Khi lá Cờ Vàng Ba Sọc
Lừng lững lên cao
Giữa mù sương xứ Huế mùa Xuân nào…

PNN

Mời nghe nhạc:


Việt Nam tôi đâu? Nhạc và tiếng hát: Việt Khang

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, January 18, 20216:00 PM(View: 8)
Chị kể hồi ở Sài Gòn hay tới một quán cháo vịt ngon muốn xỉu, nhưng tới hơi trễ chút là phải chịu bụng đói ra về. Bởi quán chỉ bán đúng sáu con vịt, không thêm không bớt. Khách có kì kèo hay đòi nằm vạ cũng chỉ nhận được nụ cười, “chịu khó mai quay lại”. Hỏi khách quá chừng đông sao không bán thêm, chú chủ quán cười, nhiêu đây là đủ. Nhưng đủ cho cái gì, chú không nói thêm. Ngồi quán đó, chị nhớ quán bán bánh canh cua của má nổi tiếng xóm hẻm hồi xưa. Mỗi ngày nấu đúng bảy chục tô, hỏi mua tô thứ bảy mươi mốt về làm thuốc cũng hên xui. Sáng dọn chưa ấm chỗ, vèo cái hết nồi bánh, bà dành cả thời gian còn lại của ngày để nằm võng nghe Thái Thanh, hoặc dẫn con Chó đi chơi dài xóm. Chó, là tên của con vịt xiêm cồ. “Sống như má mình không phí cuộc đời. Đâu phải giàu mới vui”, nhắc tới đó chị bùi ngùi. Người ra thiên cổ lâu rồi, nhưng ký ức động đậy như người vẫn đi lại quanh đây. Chị nói người sống ung dung kiểu vậy giờ ngày mỗi hiếm, nhưng không phải không có. Họ đang ở đâu đó,
Thursday, January 14, 20212:14 PM(View: 72)
Những lá cờ VNCH có thể được nhìn thấy qua các hình ảnh được truyền trực tiếp từ các hãng truyền thông Mỹ về cuộc biểu tình sau đó biến thành bạo động của những người ủng Tổng thống Donald Trump tấn công vào Điện Capitol trong lúc các thành viên Quốc hội Mỹ bỏ phiếu xác nhận chiến thắng của ông Joe Biden, bước cuối cùng chấm dứt các nỗ lực của ông Trump nhằm lật ngược kết quả bầu cử. Cuộc bạo loạn đã khiến 5 người thiệt mạng, trong đó có một cảnh sát bảo vệ Điện Capitol, và bị nhiều người lên án vì đã tấn công vào nơi được coi là thành trì dân chủ của Hoa Kỳ. Quartz, một hãng tin quốc tế có trụ sở ở New York, đã thu thập hình ảnh các lá cờ được thấy tại cuộc biểu tình tấn công Điện Capitol hôm 6/1, trong đó có cờ vàng 3 sọc đỏ của VNCH. Trang mạng tiếng Anh này liệt kê ra những lá cờ của các nhóm thượng đẳng da trắng, gồm Pround Boys – một tổ chức cực hữu phát xít mới chỉ toàn đàn ông chuyên cổ vũ và tham gia bạo lực chính trị hiện đang bị Canada xem xét đưa vào danh sách khủng bố
Tuesday, January 12, 202112:13 PM(View: 135)
Chuyện chưa đi đến đâu, thì nạn dịch Corona bùng phát. Nằm nhà “trốn dịch”, đọc Email do hai thằng bạn cố tri gởi đến: chuyện Đông, Tây, kim, cổ; thời sự nóng bỏng - đọc mệt nghỉ! Khổ nỗi, là ‘thằng kỳ co’ gởi các tin tức và các bài bình luận bất lợi cho TT Trump; còn ‘thằng hay nói’ gởi điều ngược lại làm “điên cái đầu”… Hồi nào đến giờ, cộng đồng người Việt ít khi đồng lòng về một vấn đề chính trị. Đó là điều bình thường trong một xã hội tự do - tranh luận cho vui, rồi thôi, ai về nhà đó, giữ lấy lập trường của mình. Nhưng từ ngày Ông Donald Trump đắc cử TT, trong cộng đồng người Việt chia thành hai phe rõ rệt: Phe “binh” – phe “chống”- choảng nhau kịch liệt đến nỗi: cha giận con, vợ ghét chồng, bạn bè từ nhau. Đó là hiện tượng lạ. Điều gì Ông Trump nói ra , “phe chống” bảo: “nổ”, “láo”. Còn “phe cuồng” bảo: “đó là chiêu độc”. Cứ thế chống nhau, rồi phát sinh một số tiếng nghe lạ tai như: “cuồng Trump”, “Truyền thông thổ tả (TTTT)” . “Fake News”…v.v… Trong khí thế hừng hực
Sunday, January 10, 202111:10 AM(View: 159)
Thứ tư tháng 1 ngày 6 vừa qua, một cuộc tấn công vào nền dân chủ của Mỹ đã xẩy ra khi toà nhà quốc hội Mỹ bị một nhóm người biểu tình bạo động tràn ngập. Trong khi cả thế giới sửng sốt theo dõi những diễn tiến đang xẩy ra, có rất nhiều người Mỹ gốc Việt cảm thấy họ mang thêm trong lòng một nỗi xấu hổ khi thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ bị phơi bày bên cạnh những dấu hiệu và biểu tượng của phong trào Da Trắng Thượng Đẳng. Đối với hầu như tất cả người Việt thì lá cờ vàng, tượng trưng cho sự đi tìm nền dân chủ và tự do-biểu tượng của sự đoàn kết, niềm hãnh diện và lòng danh dự, sẽ không thể nào có chỗ đứng chung với biểu tượng của lòng thù oán. Với tuyên bố trên, chúng tôi lên án và cực lực phản đối những vu cáo trong những tháng qua nhằm tấn công vào tính trung thực và công bằng, tự do của cuộc bầu cử, những thứ vu cáo xằng bậy dựa trên thứ thuyết âm mưu sai lạc và nguy hiểm, đã đưa đến một trong những giai đoạn bỉ ổi nhục nhã nhất của nước Mỹ. Là những công dân Mỹ gốc Việt, chúng tôi
Friday, January 8, 202111:19 AM(View: 322)
Cuộc bạo loạn, tấn công vào Điện Capitol - tòa nhà quốc hội, cơ quan lập pháp của nước Mỹ - do những người biểu tình gây ra theo lời kêu gọi, kích động của đương kim tổng thống Mỹ, ông Trump Donald Trump bị cả thế giới tự do chế diễu, lãnh đạo các nước Đức, Ý, Pháp, Canada, Anh.., chỉ trích, lên án. Mạng xã hội như Twitter, Facebook, SnapChat, Youtube, Instagram... đã đồng loạt đóng băng các tài khoản của ông Trump để ngăn chận những tin nhắn xúi dục, hô hào gây bạo loạn tiếp theo của Trump. (1) Không nói đến những thiệt hại về tài sản, nhân mạng với 4 người chết, nhiều người bị thương kể cả 14 nhân viên cảnh sát, thiệt hại nặng nề nhất là biểu tượng tự do, dân chủ của nước Mỹ đã bị hoen ố, phủ mờ vì cuộc biểu tình, vì sự phá hoại, tấn công vào hiến pháp có chủ đích của ông Donald Trump với sự tiếp tay của một số dân biểu, nghị sĩ đảng Cộng Hòa như Ted Cruz, Ken Paxton… Cơ quan cảnh sát liên bang FBI đang công khai kêu gọi dân chúng Mỹ cung cấp tin tức, hình ảnh, video cho họ