DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,821,005

Tình ca con dúi - Nguyễn Thị Thảo An

10 Tháng Chín 201212:00 SA(Xem: 9701)
Tình ca con dúi - Nguyễn Thị Thảo An

Tình Ca Con Dúi

 

 

 

rung_4



Mấy năm trước, trong một trận football, khi cháu tôi đang ôm quả bóng cà-na chạy thụt mạng, đột nhiên có thằng xông tới cản đường. Không tránh kịp, nó té xấp. Lỡ trớn, đám cầu thủ đang rượt theo hết tốc lực cũng té dồn cục trên mình nó. Khi mọi người đã đứng dậy, thằng cháu vẫn không nhúc nhích. Tai nạn làm nó chấn thương mặt, lọi xương chân và khuỷu tay. Trải qua một thời gian dài trị liệu cả về tâm lý, gia đình chị tôi mới có cuộc sống bình thường. Sau, thằng cháu cũng trở lại trường với cái chân cà quỷnh. Tưởng đã yên, ai ngờ chuyện sóng gió mới bắt đầu khi nó biết yêu. Nhắm lúc chắc ăn, thằng cháu tôi tỏ tình. Không dè, con bạn học hàng ngày thân thiết như đôi tình nhân từ chối một cách thẳng thừng. Tuyệt vọng, nó như té thêm lần nữa, xem chừng còn nặng hơn lần trước. Nó không oán con bạn, cứ hận đôi chân tật nguyền. Đôi lúc quẩn trí, nó tự tử, may được người nhà phát hiện. Từ đó, nó bỏ học, ru rú trong nhà, chờ cơ hội. Khuyên giải mấy cũng không được, chị họ tôi đành nghỉ làm, ở nhà canh chừng con.

Khi biết tôi sắp về nước, chị gửi gấm, gắng mua cho được mật gấu, thứ này trị trật khớp xương rất công hiệu. Chị nói, loài gấu trèo cây ăn cắp mật, bị ong đánh té từ trên cao vẫn không sao, vì mật gấu tan rồi có thể tụ lại làm nó tỉnh dậy như thường. Chị căn dặn, muốn biết mật gấu thật giả, chỉ cần xoa một ít lên lưng bàn tay, xong xoay lòng tay lại liếm, nếu thấy đắng là thứ thật. Tôi hỏi, đắng cỡ nào? Chị nhún vai, chỉ nghe nói vậy, đâu đã thử.


Tôi nghi ngờ niềm tin của chị. Ngoại trừ uống, may ra mật gấu giúp nó can đảm chấp nhận số phận. Còn thất tình, là chuyện mưa nắng của đời người. Thuốc chữa chính là thời gian, đâu cần mật gấu.


Vừa bước xuống phi trường, tôi quên phứt chuyện này. Niềm vui đoàn tụ chen lẫn nỗi xót xa khi điểm lại những người thân còn, mất. Mười tám năm, thời gian đủ biến tôi thành kẻ lạ. Cái quê hương tôi hoài niệm bấy lâu, giờ chỉ là ảnh ảo. Dù ở trong ngôi nhà cũ, hay đang lang thang trên hè phố, tôi vẫn như một cánh chuồn là đà, không chỗ đậu.


Khi niềm vui lắng xuống, tôi thực hiện một chuyến đi dài. Tour du lịch sẽ dừng ở những nơi như Đà Lạt, Tháp Chàm Phan Rang, ghé Tháp Đôi ở Quy Nhơn, viếng mộ Hàn Mặc Tử, đến Hội An, lên Ngũ Hành Sơn, rồi dừng ở Lăng Cô trước khi vào Huế. Nhưng vừa đến Mộ Đức đã nghe đang lụt ở Huế, sắp bão ở Hội An. Cả đoàn ngừng lại bàn tán. Cuối cùng, anh tài xế cũng là hướng dẫn viên đề nghị đổi hướng vào khu du lịch Đak Tre ở huyện Kon Plong, và thăm suối nước nóng Đak To. Anh nói, Kon Tum có nhiều thắng cảnh, thịt rừng và đồ mỹ nghệ đẹp, rẻ. Nếu quay về, công ty cũng không hoàn lại tiền bao chuyến. Nghe vậy, chúng tôi gật đầu.


Xe quẹo qua đường 628, hai bên là vườn cây, lá bám đầy bụi đỏ. Càng về hướng Tây, độ dốc càng cao, cây thưa dần. Xa xa, nhiều đồi đất đỏ chênh vênh, sau lưng những dãy núi xanh mờ ẩn hiện. Gần vào xã Hiếu, nhà cửa san sát. Đa số xây gạch, mái ngói, sân tráng xi măng, rào cổng ngăn nắp. Nếu không thấy những nhà Rông, loại nhà khách, không ai biết đó là những làng Thượng. Tôi ngạc nhiên, nhà Rông có nhiều kiểu. Anh tài xế bảo, huyện có nhiều làng, mỗi làng là một sắc tộc. Rồi anh chỉ, loại sàn nứa, vách dài, mái dốc đứng như hai bàn tay chắp lạy, của người Tơ Drá; loại bằng tranh, đầu mái tròn và thấp của người Cơ Tu; loại bằng cây, cửa trổ, có lan can đằng trước là làng người Bà Na; loại có gắn sừng thú trên mái của nhóm Hré; mái có đòn gát chéo là nhà người Cadong.


Gần tới huyện, dọc đường có nhiều người gùi hàng đi ngược về làng. Họ nép sát lề mỗi khi xe vụt qua. Đàn bà mặc áo bà ba, quấn váy Thượng. Đàn ông, quần tây, áo sơ mi. Anh tài xế bảo, đó là những người trong buôn đem hàng ra chợ, không phải dân của huyện. Một người khác hỏi, trông họ giống nhau, sao phân biệt được. Anh tài chỉ, trông cách ăn mặc, địu con thì biết. Người Gia Rai mặc váy chàm, tua trắng; váy người Cơ Ho viền đỏ; dân Hré quấn váy hai tầng, người Gié Triêng mặc váy ống, dài từ ngực. Đàn bà Chu Ru địu con đằng trước, trong khi Bà Na lại địu phía sau. Thiếu nữ Ê Đe đeo vòng thành xâu, con gái Rơ Măm chỉ thích lục lạc trừ ma trên đầu.


Tới xế, xe vào huyện. Sắp xếp phòng trọ xong, chúng tôi theo nhau ra ngoài. Trời còn sớm. Nắng chiều hắt qua phố, bên trong lồng chợ tối om. Bên ngoài, những người Thượng gùi măng rảo bán dọc đường, gặp khách không buồn hỏi. Lang thang hồi lâu, chúng tôi tới khu du lịch lúc nào không biết. Nghe nói, buổi tối có nhiều tiết mục đặc sắc. Trước cổng, người đông như chợ. Người lớn bán hàng lưu niệm như gùi, giỏ, rá, lờ, lọ, ché,... và có cả những nhà sàn tí hon làm bằng mây tre lá. Đám con nít gùi những giò lan to tướng, ỳ ạch đuổi theo du khách. Một ông già ăn vận nửa Thượng nửa Kinh, nói sõi tiếng Việt, gạ tôi mua thuốc. ông lôi trong nải xách nhiều thứ giới thiệu. ông nói, xương cọp, nấu cao hổ cốt; vuốt cọp chữa mắc xương cổ; mật gấu trị trật khớp xương, bong gân, nhức xương; mật cầy giông chữa hậu sản; mật kỳ đà trị phong thấp; thịt tắc kè chữa hen suyễn; nhung nai, gạc hươu có đủ. ông móc trong túi vải đen, khoe. Đây, còn có Hổ gió, Cạp nong, rắn Ráo, bộ ba ngâm Tam Xà Bửu, rất quý. Nghe vậy, tôi nhảy nhổm. Nhìn kỹ, ba con rắn khô queo giống y rắn nhựa. Chợt nhớ thằng cháu ở Mỹ, tôi hỏi mật gấu. ông kể, buôn làng ở tuốt trong rừng sâu, săn được thú xẻ phơi khô, lâu mới có dịp xuống đây bán đem về cho cả bản. Nghe vậy, tôi ưng mua, không trả giá, cũng không thử.


Khi tôi vào trung tâm, người trong đoàn đã tản đi đâu mất. Trước mặt, một khu nhà sàn lọt thỏm trong rừng cây, toàn là đại thụ. Nhà cất nhiều kiểu, tượng trưng cho mỗi sắc tộc. Chính giữa là ngôi nhà Rông, mái có nhiều hoa văn, trông xa như ai giăng chiếc chiếu khổng lồ. Bên dưới, vách là những tấm phên đánh vec-ni, nối nhau bằng những hình khối đẹp mắt. Đằng sau là kho chứa thóc, giống hệt chuồng bồ câu cao vượt lùm cây. Chân sàn có mắc những tấm thớt to bản, chống sóc, chuột.


Cuối kho thóc là bến sông. Dọc bờ có dãy chòi tranh, nóc tròn. Vòm nóc treo những lồng chim: chim trả, chim sâu, chích chòe, chèo bẻo, chào mào, chim sáo, gỏ mõ, cú vọ, cu xanh,... Dưới có bày bàn ghế cho khách nghỉ ngơi, uống nước, nghe chim ríu rít. Khách buồn chân, có thể sang sông. Người Thượng dùng voi thay đò. Hai con voi ốm, tai nhỏ, được trang điểm như voi đoàn xiếc. Lưng phủ thảm đỏ, tua vàng, trên đặt chiếc ghế bành sặc sỡ giống chiếc ngai vua. Khi voi lội nước, chiếc ghế lắc lư trông như ngai vàng sắp đổ.


Buổi tối, mọi người tập trung trước nhà Rông xem văn nghệ. Một toán đàn ông cầm giáo chạy ra nổi lửa. Đống củi phựt cháy. Một toán khác ở trần, quấn khố rằn mang dàn chiêng. Mỗi dàn có bảy chiếc lồng vào nhau theo thứ tự lớn nhỏ, gọi là chiêng bằng. Người Ê Đe diễn tấu đàn cing. Nghệ nhân ngồi trên ghế gỗ hình con thuyền. Chiêng lớn treo lên xà nhà, đặt úp lên mặt ghế, các chiêng khác đặt chếch. Dùi gỏ bằng gỗ, đánh vào mặt lõm của chiêng. Tiếng đập vang xa. Tiếng hồi âm vọng về mạnh mẽ, hòa lẫn những âm thanh mới phát nghe dữ dội. Khi ngọn lửa bập bùng bốc cao, tiết tấu càng nhanh, âm thanh càng độc đáo. Những người đàn ông cầm giáo bước ra, nhảy quanh đống lửa.


Tiếng đàn cing vừa dứt, một nhóm thiếu nữ Bà Na tiến ra trước sân nhà Rông. Họ hợp tấu đàn Đing But. Những cô gái luân phiên vỗ tay vào những ống nứa dài ngắn. Hơi luồn vào ống, tạo thành những cung bậc thăng trầm. Tiếng vỗ điêu luyện hòa tiếng trống, tạo thành những âm thanh man dại, mê hoặc của rừng khuya.


Nghe hồi lâu, tôi lảng ra tìm nước uống. Rải rác trong khu có vài đống lửa nhỏ, cạnh là ông Già Làng ngồi cời than, kể truyện. Tiếng Kinh, tiếng Thượng lẫn lộn, nghe không hiểu. Tôi đứng dậy bỏ đi. Được vài bước thấy có đám chụp hình. Người mẫu là một thanh niên trẻ, trang bị kiểu đi rừng. Trên quấn hai chéo vải, dưới vận khố rằn ri. Chân đất, đầu trần, tay phải chống chiếc nỏ mun xuống đất, tay trái cầm mớ cung tên. Nhiều người xúm lại chụp hình. Tôi đứng lại ngắm, trông hắn rắn như một lõi lim. Được một lúc, khách tản dần. Hắn nhìn tôi, có ý hỏi. Tôi chỉ đống lửa nói, muốn chụp chung với cả Già Làng. Hắn nhếch môi, cười khinh mạn, nhưng sau cũng bước tới. Chụp hình xong, hắn bảo, đó là Già giả, không phải Già Làng. Thấy tôi ngạc nhiên, hắn giải thích, Già Làng là chủ làng, đâu đi kiếm tiền kiểu đó. Tôi phản đối, cũng có người đi buôn cho làng như ông già bán thuốc hồi nảy. Thấy hắn nghi ngờ, tôi lôi túi mật mới mua làm chứng. Không dè, hắn nhìn túi mật cười ngất. Rồi nói, xưa nay chỉ thấy người Kinh gạt người Thượng, chưa từng có Thượng gạt Kinh. Đây mật con gì, có trời mới biết. Coi chán, rồi hỏi tôi muốn mua, nhà hắn có thứ thật. Mật lấy từ bụng gấu, chính mắt tôi thấy, không thể giả được. Đang tức mình, tôi ưng đại. Hắn hẹn, ngày mai về làng sẽ đón tôi đi chung.


Hôm sau, tôi tách đoàn theo hắn, quá giang xe Kiểm Lâm, về làng. Điều không ngờ, làng rất xa. Mỗi lần hỏi, hắn đều bảo sắp đến. Xe gần đến Dak To đã rẽ qua Toumorrong, địa thế cheo leo, tôi phóng mắt nhìn ra. Núi chập chùng, đồi chênh vênh, không biết ngọn nào là Charlie, nơi những người lính xưa bỏ sinh mạng để giữ từng tấc đất, giờ hoang vu heo hút ở thời bình. Trong đầu, bùi ngùi nhớ mấy câu thơ, "Dấu binh lửa cỏ cây xơ xác. Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương."


Đoán tôi không vui, A Mang cười gợi chuyện. Không ngờ, hắn cười hiền như đứa trẻ. Tôi ngó phía trước, hỏi tên những dãy đèo chông chênh. Hắn lắc đầu, đồi núi không có tên. Thấy tôi lo ra, hắn trấn an, từ khoảng đèo Mang đến Dak Rú là nơi quen thuộc, hắn đi rừng rành như người Kinh đi chợ. Rồi nói thêm, đèo Mang là nơi sinh, tên hắn là tên đèo, không lạc được.


Xe lên càng cao, cảnh sắc càng hùng vĩ. Nhìn xuống, thảm rừng bạt ngàn. Xa xa, đỉnh Ngọc Linh tím ngắt, một dải mây trắng vắt ngang, vẻ như núi đứng trên trời. Hồi lâu, xe bắt đầu xuống dốc. Bên kia triền núi, nhiều loại hoa dại bám đầy, lấm tấm như bầy bướm đậu. Bên này là thung lũng, thấp thoáng có bóng làng mạc xen lẫn rừng cây. A Mang bảo, đó là những làng anh em sắc tộc Sédang: nhóm Tơ Drá, Xơ Teng, ở vùng cao; nhóm Mơ Nâm, Ha Lăng, Ca Dong, ở vùng thấp. Tôi để ý, nhiều làng nhỏ, chỉ lèo tèo dăm nóc nhà dài.


Đến trưa, xe rẽ vào đường đất đỏ xuống hẻm núi. Buôn làng nằm cạnh con suối, kế là rừng thưa. Xung quanh, nhiều chỗ chân núi xếp nếp, nhìn lên trông như khúc thang đứt giữa lưng trời. Gần vào làng, xe chậm lại. Một đám con nít mừng rỡ, túa ra. Đến cổng tre, xe ngừng hẳn. A Mang liệng túi hành lý, rồi nhẩy xuống đất. Mấy đứa nhỏ xúm lại, giành quảy túi đồ. Tôi trả tiền xe. Người tài xế dặn, trạm Kiểm Lâm gần buôn, khi cần xe cứ qua đó.


Buôn Thượng không hẻo lánh như tôi tưởng. Bên trong, nhiều dãy nhà sàn, đa số nóc dài. Đầu làng có sân rộng, trên có hai nhà Rông. Cái cũ, theo kiểu truyền thống, mái tranh vàng óng, nóc trang trí hoa văn cầu kỳ, vách đan bằng nứa, có bôi sáp ong bóng lưỡng, đẹp như đánh vẹc ni. Nhà mới, lợp tôn, vách ván. Trưa nóng, mái tôn mới toanh phản chiếu ánh nắng chói chang, trông xa như lưỡi rìu sáng loáng cắm ngược lên trời. Thấy tôi ngạc nhiên, A Mang nói, cái mới của chính quyền dùng làm lớp học, không phải nhà làng.


Chúng tôi đi qua sân vào nhà Rông cũ, xin phép nhập làng. Trong khi chờ đợi, tôi nhìn quanh. Bên trong, sàn nhà rộng. Trần mái cao vút, giàn kèo cột bằng dây mây. Chung quanh, tám cây cột to, loại gõ đỏ, hơi nổi vân đen, có chạm trổ hình mặt trời, người, thú. Kệ vách, giắt nhiều xương sọ, sừng trâu, với những đồ trang trí trong buổi tế thần. Bên dưới, còn chưng những bộ cồng, chiêng, trống và các nhạc cụ như đàn brang, đàn brú , đàn brooc,...... thân làm bằng nứa, hộp âm là những vỏ bầu khô, xem rất lạ mắt. Sàn nhà trống trơn, không có bàn ghế, chỉ để những ché rượu bằng sành, chạm hình rồng rắn.


Xem chán, tôi nhìn ra. Đám con nít vẫn còn lóng ngóng dưới cầu thang. Con trai mặc quần cụt áo thun giống con nít thành phố. Con gái, áo kiểu quần dài. Có đứa mặc áo khín rộng thùng thình, trong ở truồng. Cả đám lem luốc, nhìn tôi cười toe. Chừng chút sau, Già Làng tới. Tôi hơi bất ngờ, ông mặc áo thun, không giống hình ảnh ông già đóng khố cời than, ngồi bên đống lửa. Vừa gặp, ông cho biết, những người thợ rừng đã săn được gấu lớn, đang kéo về. Rồi mời tôi ở lại. ông bảo, có mấy lái thuốc người Kinh cũng đang trong làng chờ. Không còn cách nào, tôi nhận lời. Có thể, ông tưởng tôi là tay mua chuyên nghiệp. A Mang thuật lại chuyện gặp tôi bằng tiếng Thượng. ông phá ra cười. Chúng tôi trò chuyện vui vẻ. Tôi chìa mấy tấm hình chụp hôm qua. Rồi nói, ông không giống Già Làng ngoài Dak Tre. ông ngắm hình thở dài, thời đại đã thay đổi. Xong nhìn ra ngoài, mặt buồn thiu.


Tôi xách hành lý, theo A Mang về nhà. Đường làng rộng, nhiều mô gò. Hai bên là những nóc nhà dài, loại dành cho cả họ hàng, gồm mấy thế hệ già trẻ sống chung. Cũng có nhiều nhà nhỏ, sống biệt lập từng tiểu gia đình. Nhìn quanh, nhà nào cũng nghèo, vách thưa mái thấp. Trên đất, vương vãi những cành khô. Mấy con gà thả rong, lang thang mổ đất. Lâu lâu mới thấy vài căn, trước sân có cột trâu, A Mang bảo, đó là tài sản lớn. Đi một lúc, bắt gặp trên vạt cỏ thưa, mấy người đàn bà ở trần ngồi cho con bú. Những cặp vú rám, nong sữa, nặng trĩu như hai trái bầu núng nính trên da. A Mang đi trước, ngó thản nhiên, chừng như quen mắt. Đến cuối làng gần tới nhà, đã thấy mẹ hắn chạy ra, chân trần tóc rối, mặt mũi lọ lem như người vừa thoát ra từ trong đám cháy.


A Mang mồ côi cha. Từ nhỏ, thường theo Già Làng tập làm người lớn, sau này lại thích rày đây mai đó. Khi về, theo lệ làng, mỗi tối trai chưa vợ đều ra ngủ tại nhà Rông, nên khi nghe tôi ở trọ, mẹ hắn mừng lắm. Bà lăng xăng trải chiếu mời ngồi. Căn nhà nhỏ, giữa là bếp lửa, lúc nào cũng đỏ ngọn. Hai mẹ con ngồi xuống gọt sắn. Loại sắn rừng, lá vằn, nhiều củ đẹt. A Mang cười gượng, bảo tôi đến không đúng lúc. Tháng này mới trỉa lúa, không nhà nào còn thóc, cả buôn ăn củ trừ cơm. Rồi hắn nói về những tháng "ning nong" sau mùa gặt, khoảng cuối năm cũ, đầu năm mới. Đó là thời gian nghỉ ngơi, dân làng tổ chức tế lễ, ăn mừng. Họ kéo nhau vào rừng sống lại thời hoang sơ, hái lượm và săn bắt, rồi hú gọi Giàng và tổ tiên cùng về ăn cỗ. Cuộc vui kéo dài, hết nhà này tới nhà khác, mọi người chè chén say sưa, bõ công vất vả. Đó cũng là mùa cưới. Tôi ơ hờ nghe, mắt nhìn quanh. Trên vách, treo nhiều sừng và da thú. Một đầu nai khô, có đôi mắt cứ mải miết trông ra cửa. Đang cao hứng kể, khi nhắc đến mùa cưới thì hắn ngưng bặt. Rồi ngồi thu gối, mắt đăm đăm nhìn củi cháy, nhưng trong con ngươi không hề thấy bóng lửa.


Buổi chiều, A Mang đưa tôi dạo quanh. Khi ra tới sân làng đã thấy một đám trẻ nhóm vòng tròn, ca hát trước nhà Rông mới. Một cô váy quấn, áo chẽn, đứng giữa vỗ tay bắt nhịp, mấy đứa trẻ đồng ca. Tiếng Thượng líu lo. A Mang đứng lại chăm chú nghe. Tôi bỏ lên thang, thăm nhà Rông mới. Vừa bước vào, tôi chóa mắt. Một rừng biểu ngữ giăng đầy. Tám cây cột lớn và trên xà nhà đều treo cờ, ảnh, khẩu hiệu. "Kinh Thượng một nhà.", "Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm." Cuối nhà có mấy dãy bàn kê theo kiểu lớp học. Tôi lần theo vách tò mò đọc, những bản thông báo chính sách bảo vệ rừng, cấm đốn gỗ, cấm săn thú, xen lẫn thời khóa biểu lớp học tiếng Việt. Trên tấm bảng, có những dòng chữ nắn nót:


"Rừng Việt Nam xanh xanh,

Đất Việt Nam đo đỏ
Hiu quạnh giữa rừng dày
Người lính Mỹ phơi thây."

Khi tôi trở xuống, đám hát đã vãn, chỉ một mình A Mang còn ngồi đó. Chúng tôi im lặng ngắm buổi chiều. Khi mặt trời chìm sau ngọn núi, A Mang thở dài, chừng mươi năm nữa, người Thượng sẽ không còn. Cả đám con nít, chưa có đứa nào bén mảng tới nhà Rông.


Tối đó, tôi đến thăm Già Làng, gặp lại Y Sao, cô gái dạy hát hồi chiều. Nhiều người tề tựu bên bếp lửa giữa nhà. Đàn ông đan gùi, đàn bà đan rá, có kẻ mang khoai tới vùi cho bữa tối. Họ quây quần, tiếng trò chuyện râm ran. Một hồi, khi ngớt chuyện, Y Sao cất tiếng ca. Có người lấy tre gỏ nhịp, tất cả im lặng lắng tai.


"Mơ Nâm xoong rang,

Xơ Teng xoong rế,
Tơ Drá xoong linh lăng. (*)

Thấy tôi không hiểu, Già Làng ngồi kế bên dịch. Bài hát nói, người Mơ Nâm làm ruộng, người Xơ Teng trồng đay dệt vải, người Tơ Drá lượm sắt để rèn.


"Buôn làng ơi, Dậy đi trồng quế.

Trồng quế chật cả rừng, ta trồng.
Chiêng sẽ biết về, ché biết nhảy múa.
Vải, muối đầy nhà vì ta có quế trồng." (*)

Dưới ánh lửa bập bùng, khóe mắt Y Sao long lanh, miệng luôn nở những nụ cười rạng rỡ. Hết bài này tới bài kia. Tiếng hát dồn dã, thúc giục như tiếng chày giã gạo giữa đêm khuya. Khi ngọn lửa sắp tàn, Y Sao đổi giọng, hát tình ca.


"Xà nhà chàng giắt đầy đầu thú,

Bếp nhà chàng chất đầy xương cá to.
Đồ sắt chàng rèn, cuốc bền, rựa sắc.
Dao bén có mắt, rựa như có mũi.
Ngón tay chàng mòn vì đan gùi lưng em.
...Đôi ta, sẽ ăn chung rá, ngủ chung sàn.
Suốt đời như cá rô lăng dưới suối
Chồng là nhà, vợ là cửa.",...(*)

Nghe một hồi, tôi ngờ cô ám chỉ A Mang. Tôi dáo dác kiếm, bắt gặp hắn nhìn trộm Y Sao, đôi mắt giống mắt con nai tới chết vẫn trông về núi.


Tới khuya, gió lớn, A Mang đưa tôi về. Người mẹ đứng tại cầu thang lóng ngóng chờ. Bà lẩn thẩn dặn, đừng để tôi đi lang thang, ngày xưa các bộ tộc vẫn có tục bắt người đổi trâu. A Mang nói thêm với tôi, đàn bà được năm trâu, đàn ông hai. Rồi hắn cười lớn, bây giờ trâu quý hơn người, đâu ai đổi.


Đêm rừng núi, tôi không ngủ. Mắt thao láo, nhìn mấy bộ xương thú, nhưng tâm trí lan man tuốt ở rừng sâu. Trong đêm tối, những con thú này từng mò mẫm rình mồi. Giờ nằm đây, đành chết khô trên vách. Gần sáng, trời nổi giông. Trên không, gió rít ngọn từng hồi, khi sà xuống như muốn cào rừng sạch lá. Chút sau, mưa lắc rắc. Tới sáng, hóa thành sương, rồi ngưng hẳn.


Tiếng gà rừng eo óc làm tôi thức giấc. A Mang đã về tự bao giờ. Hắn soạn gùi, chuẩn bị đi rừng. A Mang khoe, đan gùi là một kỹ xảo nhà nghề, không đơn giản như đan rổ, rá. Đa số dùng lồ ồ, nứa, tre xa -mlú, loại thân dẻo, không mấu, cột bằng dây mây. Hắn lôi ra nhiều loại. Gùi thấp, miệng loe, để tuốt lúa. Gùi cao, đáy vuông, mang đi chợ, đi rừng. Gùi có nắp, chung quanh viền những hoa văn màu mè, dùng như cái tủ, đựng đồ quý trong nhà. Cuối cùng, A Mang lấy cái ba chân, có ngăn, gùi của thợ săn. Hắn đem mớ dao ra, ngắm ngía từng con, chọn để đi rừng. Dao nhọn giống hình lá dứa để thủ thân, đầu dao quắm có cù ngoéo như cán dù dùng cắt dây rừng, lưỡi và cán dao xà gạc để chặt cây, phát rừng. Tôi ngạc nhiên, những loại dao hình dáng lạ. A Mang bảo, tất cả dao cuốc đều rèn trong buôn. Trước, họ vẫn sản xuất để sang Lào đổi trâu. Giờ đã nghỉ, vì không cạnh tranh nổi với hàng công nghiệp miền xuôi. Nói xong, hắn bắc nồi kê chín mời tôi lót dạ, ăn kèm với món măng nướng. Tôi bắt chước, chọn những mụt măng sặt nhỏ cho vào lửa, đợi vỏ ngoài cháy trụi mới lột dần. Măng chấm với gói chẩm cheo, gồm muối, ớt, lá gừng, mắc khén, củ tỏi giã nhỏ, pha chút nước chua. Tôi cắn một miếng. Vị đắng của măng, chất mặn từ muối, vị cay xé của ớt, cay ấm của gừng, cay tê của mắc khén, cay nồng của tỏi, tất cả hòa lại xông lên mũi làm tôi sặc sụa, chảy nước mắt. A Mang thấy vậy cười lăn.


Chúng tôi ra ngoài nhà Rông khi trời sáng rõ. Kẻ dao, người rựa chờ nhau trước sân làng. Kể cả con nít cũng cầm rổ rá, lăng xăng chạy theo cha mẹ. Mọi người lên rừng, kiếm củ. Nhìn một hồi, tôi phát giác, đa số là đàn bà, trẻ con.


A Mang dẫn tôi ra suối chỉ chỗ dùng nước. Ngọn suối róc rách, nước trong, nom tận đáy. Tắm giặt ở bờ, nhưng nước ăn uống phải dẫn từ mạch về. Một hệ thống máng nước nối nhau bằng những thân lồ ồ dài mút mắt. A Mang dặn, máng nước là chỗ thiêng, không phạm được. Trước khi sửa hay thay máng, làng phải tế thần Nước long trọng lắm. Nói xong, hắn chuyền chân trên đá để men theo suối, vừa đi vừa ca om sòm. Tôi nhớ ra, toàn là những bài Y Sao hát. Chắc mẻm, hắn có tình. Tôi mỉm cười nghĩ, họ xứng đôi.


Đang vui chân sáo, bỗng hắn lom lom nhìn vào khe, rồi trông lên trời. Nước sủi bọt. Hắn nhảy phóc lên mấy tảng đá khác xem, đâu cũng vậy. Rồi buông giọng lo, chắc sẽ có mưa. Tôi nhìn lên, trời quang, nắng ban mai vàng hoe. Chưa kịp nói gì, đã thấy A Mang trên bờ, bứt mấy cọng cỏ gà, giơ cho tôi xem. Bông cỏ trắng phau như bạc. Giọng hắn chắc nịch, trời sẽ mưa lớn lắm. Người Thượng xem thời tiết bằng kinh nghiệm. Như, thấy con chim kling klang lượn thì biết mùa mưa đến, nghe chim ngói hót là mùa cơm mới, thấy côn trùng dời tổ là có lụt.


A Mang đổi ý không đi rừng. Hắn thăm ruộng. Ruộng miền cao kiểu nấc thang, mỗi bậc nhỏ chỉ bằng ba sãi chân, nằm chồng chất từ chân núi. Bờ giữ nước thấp, chỉ cao tới cổ chân. Trên mỗi bậc, họ gắn một ống lồ ồ ngắn. Khi mưa lớn, nước từ trên chảy chuyền xuống dưới, tránh ngập úng. Trong khi A Mang đi gắn lại mấy ống lồ ồ, tôi nhìn quanh. Rừng mênh mông. Buôn làng lọt giữa mấy quả đồi trọc, mọc đầy cỏ tranh. Xa xa, ẩn hiện mấy dãy nhà tôn, chắc đó là trại Kiểm Lâm. Gần trưa xong việc, A Mang đến ngồi kế thở phào. Tôi ngạc nhiên, ruộng có nhiều vậy, sao còn đi chụp hình. Hắn cười hiền khô, ruộng nhà chỉ được mươi bậc, còn lại làm dùm cho làng. Truyền thống trong buôn, ai rảnh thì làm, không nệ hà. Tôi trông lên mươi bậc, chịu không sao ước lượng. A Mang bảo, mỗi vụ chỉ được dăm gùi lúa, không đủ cho cả năm, nên phải trồng thêm khoai, bắp trong nương rẫy, hoặc đào củ rừng. Chỉ khá khi may mắn săn được thú quý. Rồi đột nhiên, hắn thở dài, giờ thú quý rất hiếm lại được bảo vệ, có săn cũng là săn lậu. Tôi thắc mắc, lợi tức kém vậy, làm sao sống nổi. Hắn nói, nghề lâu dài là trồng quế. Trước hết, phải biết lựa thế quay về hướng mặt trời mọc, quế mới tốt và nhiều tinh dầu. Quế trồng bằng hạt, mười lăm năm mới lột. Vỏ đem về dầm sương hay ngâm nước, rồi hong khô cho hết nhựa, xong ủ mấy ngày mới bán được. Người trong buôn, cứ cha trồng con hưởng. Hắn cũng được mươi cây gầy vốn để sau này lập gia đình. Nghe vậy tôi cười trêu, xứ này con gái cưới chồng, lo chi. Hắn mắc cở, đỏ bừng tai, chỉ ước sao giống trai Kinh, được quyền yêu ai cưới nấy.


Trên đường về, A Mang nói, thời tiết ở đây khắc nghiệt lắm. Mùa Hè, có những cơn mưa xối xả phủ trắng đất trời. Mưa dầm dề, dai dẳng, với những cơn lốc sụt đất, lở rừng. Đến mùa khô thì nắng chói chang, thiêu đốt. Mặt trời như muốn hút cạn những giọt nước cuối cùng của đất. Những con đường nóng ran, bụi nhẹ tênh, bay hờ trong không, nhuộm đỏ lá rừng. Xong, hắn kể, mấy năm trước, Già Làng thường xuống miền xuôi. Mỗi tối, nhà Rông thiếu người kể chuyện. Rượu nhạt, lửa reo cũng không vui. Những chiếc gùi đan ra đều méo. Đêm mưa dài, Y Sao buồn tình cất tiếng hát. Khi mưa dứt, giọng ca còn rớt trong lòng. Nói tới đây, hắn nhìn trời đất mông lung. Thấy A Mang buồn, tôi xúi, cứ bắt chước con trai Kinh, thương ai phải tỏ ý trước. Hắn thẹn, nhưng cũng hỏi, tỏ như thế nào? Tôi nói đại, nắm tay, hay hôn, đều được cả. Nghe vậy, hắn rụt đầu, le lưỡi, đi một mạch xuống làng.


Già làng nghe chúng tôi báo, vội sai đánh cồng. Tiếng cồng hối hả, nghe nóng ruột. Nhịp điệu có tín hiệu riêng, thúc giục mọi người đi xa trở về. Và, báo tin cho những buôn lân cận. ông chặc lưỡi lo, chỉ có trại Kiểm Lâm chắc nghe không hiểu.


Tới chiều, trời bảng lãng, vẫn chưa mưa. Nhiều người lùa trâu, lợn xuống sàn. Trên người, dưới thú, bây giờ tôi mới hiểu thêm công dụng của nhà sàn. A Mang cũng chạy về, giúp mẹ khuân củi. Cảnh làng tấp nập, chỉ mình tôi đứng xớ rớ giữa sân.


Đầu hôm, trời đổ mưa. Ban đầu còn nặng hạt, sau như trút nước. Già Làng giữ tôi ở nhà Rông ăn tối. Xong bữa, chúng tôi quây quần bên ché rượu. Già Làng khoe, rượu cần trong buôn đặc biệt nấu bằng kê chân vịt, ngon không đâu bằng. Rượu được ủ bằng lá rừng làm men, đựng trong ché đậy kín, không chưng cất qua lửa. ™ càng lâu, rượu càng nồng và ngọt. Già Làng múc nước suối trong đổ vào. Ché rượu giống bình bông, cao năm tấc, ngoài có chạm hình một con rồng uốn khúc màu da lươn. Cần hút là ống cây kxia, tợ như ống trúc nhỏ, hơi cong, trong ruột rỗng thông lòng, đầu dưới có mấu và lỗ khoét ngang. Trên miệng bình có đẽo một khúc gỗ gác ngang, gọi là cang đo rượu. Mỗi khi rượu cạn, ông lấy khúc sừng trâu, phía chót sừng có lỗ thủng để châm thêm nước. Già Làng nhấm chút rượu rồi gác cần mời. Tôi lúng túng. Tưởng tôi sợ say, ông đưa một khúc măng nướng bảo, ăn măng le uống rượu cần không say đâu, đừng sợ. Nghe nói, vào buôn không uống rượu mời, người Thượng sẽ giận. Tôi bối rối, đang tìm lời chối khéo thì Gìa Làng đã khoát tay, đàn bà Kinh không biết uống rượu là thường.


Bên ngoài, càng lúc mưa càng lớn. Thỉnh thoảng, sấm rền trời, nghe như tiếng nổ ngay trên mặt đất. Rồi chớp lóe, những tia sáng run rẫy, sáng lòe. Chúng tôi lo lắng nhìn ra. Tôi liên tưởng ngoài ruộng rẫy, giờ này chắc mấy thằng bù nhìn đan bằng nứa té ngả nghiêng, dàn mõ gỏ đuổi chim đứt dây, bay tứ tán. Hồi sau, liếp nhà Rông bị gió đập cũng run lên bần bật. Già Làng chép miệng, lo cho cả những làng hẻo lánh, neo người. Tôi bâng quơ hỏi, cũng cùng sắc tộc, sống giữa rừng núi sao không hợp lại thành một buôn. Già Làng lắc đầu, không ai hiểu được. Truyền thuyết chúng tôi chỉ kể, ngày xưa có hai anh em mồ côi. Nhà nghèo, thường bị đói. Một hôm hai anh em bắt được một con dúi. Người anh bảo người em nướng cùng ăn, còn mình ra ngoài kiếm thêm. Nướng xong, người em chờ lâu mệt, ngủ quên. Bất ngờ, một con chó rừng đi qua ngoạm mất con dúi. Khi anh về, tưởng em tham ăn nên giận dữ, mắng cho thậm tệ. Tủi thân, người em bỏ đi. Ngày nay, con cháu họ rải rác đó đây. Tới giờ vẫn chưa về chung với nhau được. Câu chuyện buồn làm tôi ngùi giọng, thở dài. Hồi lâu, Già Làng tò mò hỏi, còn người Kinh oán hận chi mà hòa bình rồi lại kéo nhau bỏ xứ ra đi? Tôi nhìn ra màn mưa, đáp bâng quơ, người Kinh chưa ai bắt được con dúi. Chúng tôi chỉ mới đuổi theo. Điều buồn là, ai cũng cho đường mình đi chính là đường con dúi chạy, nên tới giờ cũng chưa sống chung với nhau được. Nghe xong, Già Làng làm thinh, rồi kéo cần, ghé môi hút. Tôi mơ hồ thấy, vũ trụ như thu vào trong ché, tiếng rượu reo nghe như tiếng mưa réo bên ngoài.


Đêm sau, trời ngớt mưa. Không gian ướt sũng. Hơi ẩm bốc ra từ mái nhà, xó bếp len tận trong da. Nhiều người ngồi nhà buồn, mặc áo tơi, đội mưa tới. Đàn ông hút thuốc. Tôi ngạc nhiên, có những chiếc tẩu, cán dài quá ngực. Đàn bà ăn trầu như người Việt. Chỉ khác, họ dùng vôi bằng vỏ ốc bắt ở suối, mài nhuyễn rồi đem nung. Có bà không nhai trầu lại nghiện thuốc. Họ không hút, chỉ ngậm bột thuốc lá trong kẽ răng. Mọi người quây quần bên ché rượu, vừa nhâm nhi vừa tán đủ thứ chuyện trên đời.


Đêm dài, chuyện nhạt, tôi bỗng nhớ tiếng hát Y Sao. Hỏi về cô, Già Làng cười, đó là cây quế của rừng, trai làng ai cũng thích. Con gái ở đây hấp dẫn không tùy nhan sắc, hơn thua nhau ở đôi tay giỏi việc nhà. ông chỉ, hễ thấy nhà nào trước có chất nhiều củi, con gái nhà đó có giá, cưới ai họ cũng ưng.


Chúng tôi ngồi nghe mưa. Một hồi, khi Già Làng ngà hơi men thì A Mang tới. Hắn lẳng lặng kiếm chỗ ngồi, không buồn chào tôi một tiếng. Tiếp theo, Y Sao kéo một đám thanh niên ồn ào bước vào. Tôi ngạc nhiên, có một người không giống Thượng. Chỉ chút sau, tôi biết anh ta là cán bộ của trại Kiểm Lâm. Họ hát hò rồi trêu nhau. Anh cán bộ cời than. Y Sao ngồi kế bên, rất đằm thắm. Lửa bập bùng, mầu da cô bóng như mầu gỗ non lên nước. Thỉnh thoảng, họ liếc nhau, cười rất tình.


Trong câu chuyện, anh cán bộ là tay lanh lợi, khéo đưa đẩy, hay pha trò. Chủ yếu, anh ca ngợi những sắc tộc thiểu số, những anh hùng người Thượng như anh A Núp, chị Y Một. Sau cùng, anh nhắc nhở, họ đang sống trên rừng vàng. Dãy Trường Sơn được đánh giá là loại rừng Cúc Phương, gồm năm tầng địa sinh, có nhiều gỗ và thú quý. Rồi anh kết luận, vì vậy phải bảo vệ thật nghiêm ngặt. Mà người Thượng, chính là vệ sĩ của rừng.


Đến nửa khuya, lửa tàn, mưa cũng tạnh. Cuộc vui vãn dần. Nhìn quanh căn nhà chỉ còn mươi người say, nằm chèo queo bên ché rượu. Già Làng đi ngủ từ lâu. Tôi tìm A Mang, định bụng bảo sáng tôi về, không chờ nữa. Nhưng bắt gặp hắn ngồi bất động, mặt eo xèo như kẻ sa cơ, tôi lại chùng lòng, không nói được.


Tới gần sáng, gió trên núi thốc về, tốc vào mái tranh. Tiếng rừng hú âm u, nao dạ. Trời lạnh, sương từ hốc núi men ra, len vào liếp cửa. Vài người lui cui dậy, gầy lại bếp. Già Làng pha nước muồng, người Thượng gọi đó là cà phê rừng. Tôi nhấp thử. Nước màu nâu nhạt, hơi giống thứ cà phê giảo của người nghèo.


Trời còn mờ, có một tốp thanh niên ghé qua xin nước uống. Họ mặc đồ ka ki, vác rựa sắp ra khỏi làng. Hỏi, Già Làng bảo, đó là những người thợ cưa của trại Kiểm Lâm. Tôi thắc mắc, trong buôn có việc, sao A Mang lại đi làm tuốt ở Dak Tre. Chỉ chút sau, tôi vỡ lẽ. Chiếc xe cây chở công nhân vừa đậu trước sân, đã nghe tiếng anh cán bộ gọi người ơi ới.


Sực nhớ câu chuyện đêm qua, tôi hỏi, anh A Núp, chị Y Một là ai. Già Làng lắc đầu, cũng không biết. ông nói, những anh hùng được người Thượng sùng bái là các vị Tù Trưởng như ông Ngeuh, ông Kon Klot, ông Y Thu K'nul, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là Pou Trang Lung. Nói tới đây, ông kiêu hãnh bảo, miền xuôi đất rộng phì nhiêu, người Kinh có nhiều đường lui. Còn chúng tôi ở trên đỉnh núi, vào thế liều. Tò mò về Pou Trang Lung, tôi giục Già Làng kể tiếp. ông nói, Pou Trang Lung chỉ là một người nhỏ bé, khổ mặt lớn, có tiếng nói đặc biệt. Người Biệt truyền rằng, mỗi khi Tù Trưởng Lung thét lên, thú rừng cũng phải lẩn trốn. Ngoài ra, ông còn vẽ mặt ngụy trang như mặt hươu để cướp tinh thần quân địch. Vào lúc quân Pháp đã chiếm hết miền xuôi, họ bắt đầu đưa quân đánh đất cao nguyên. Người Thượng cùng đường nên chống trả kịch liệt. Tuy võ khí thô sơ, nhưng cuộc khởi nghĩa chưa bao giờ ngừng. Một người chỉ huy danh tiếng của Pháp là Henri Maitre nhận lệnh cai trị vùng này. Khi H. Maitre đi vắng, lính trong đồn xông ra cướp bóc của cải, đập phá các ghè rượu và giết chết cả nhà Pou Trang Lung. Tù Trưởng Lung liền kêu gọi các bộ lạc xung quanh đến diệt nguyên đồn Pháp. Từ đó Pou Trang Lung đi khắp nơi, thành lập liên minh các bộ lạc, tổ chức tấn công ngăn chận đoàn quân viễn chinh. Hai năm sau, ông dùng mưu trá hàng và giết chết H. Maitre cùng lính trong đồn. Người Pháp kinh hãi gọi xứ này là địa ngục treo, và triệt thoái ra khỏi cao nguyên. Hơn hai mươi năm, Pou Trang Lung đã bảo vệ đời sống tự do cho người Thượng. Mãi sau khi ông chết, người Pháp mới đưa quân trở lại cao nguyên.


Buổi sáng, trong lúc mọi người thăm ruộng, tôi trở về nhà A Mang. Dọc đường, bắt gặp một nha,ụ trước sân chất cả trăm đống củi. Nhớ lời Già Làng, tôi đứng lại nhìn. Đang ngó dáo dác, bất ngờ thấy Y Sao đi ra. Gặp tôi, cô mừng rỡ, kéo vào chơi.


Nhà Y Sao rộng, ngăn nắp. Trên giường, có căng một khúc hàng thổ cẩm đang dệt dở. Khung cửi đơn sơ, gồm hai thanh tre lớn, cột những sợi lanh đen. Cách dệt đơn giản, người ta luồn những sợi lanh màu nằm ngang, rồi dùng những thanh tre nhỏ căng cho thẳng. Thấy tôi xem chăm chú, Y Sao nói, chỉ dệt lấy từ sợi gai dầu, tức là cây lanh mán, rồi nhuộm bằng lá rừng như lá cây Chàm cho màu xanh, rễ cây Vang nhuộm màu vàng, rễ Sim màu tím, cây củ Nâu nhuộm màu đỏ nâu,......... Vải cô dệt nhiều màu sắc, ai cũng thích. Tôi lắc đầu đùa, "Thích vải đẹp dễ, tìm đâu cũng được, nhưng làng chỉ có một Y Sao." Cô cười, khóe mắt kiêu hãnh, "Trai làng thích trăm đống củi, chắc gì họ thích Y Sao?" Tôi ngó ra sân, bật cười. Cô tò mò hỏi, "Không biết trai Kinh thích gì?" Tôi nhún vai bỡn, "Họ không thích củi, nhưng thích trăm thứ khác." Cô lại gạn, "Là những thứ gì?" Tôi lắc đầu, không biết. Một hồi, cô nói, "Con gái Kinh khờ, sao cứ ngồi chờ con trai tới rước?" Tôi nghĩ, rõ ràng cô định cưới chồng Kinh.


Ban ngày, mặt Y Sao hơi tái. Tôi rủ sang nhà A Mang, sẽ cho cô mớ phấn son để dùng. Vừa ra khỏi sân, chúng tôi đi ngang một chuồng trâu lớn. Tôi thắc mắc, ruộng ít sao trâu lại nhiều? Y Sao cười ngặt ngoẻo, tục Thượng nuôi trâu tế thần, không phải để cày bừa. Người ta làm ruộng bằng cách giẫm chân sục bùn, rồi dùng gậy chọc lỗ tra hạt giống, gọi là trỉa lúa. Người Thượng không dám thay đổi cách sống vì sợ xúc phạm Thần Lúa, Thần Đất, Thần Nước. Rồi cô chau mày, đó là lối suy nghĩ của những người già. Lớp trẻ ngày nay học trường Việt, thích đời sống miền xuôi hơn. Nghe vậy, tôi mời cô xuống thành phố chơi. Y Sao rụt vai nói, người Kinh lên rừng nhìn chiếc lá nào cũng giống nhau; người Thượng xuống thành thấy cái nhà nào cũng giống nhau. Dễ lạc lắm.


Buổi tối, trời lại nổi giông. Đêm rừng núi, đầy bất trắc. Tôi ngồi đẩy củi vào lò, nhưng cảm giác đang ngồi giữa trời không. Chẳng khéo, kẹt một đám mưa nữa thêm phiền. Tôi định cáo từ thì nghe Già Làng nói, thật ra, người Thượng thường vào rừng tìm mật ong để bán. Khi kiếm được tổ ong rất dễ tìm ra gấu. Gấu leo cây, sục mõm vào tổ hút mật. Hết mật thì gấu say, bị ong đánh té nhào chết giấc. Họ chỉ việc lấy dây trói gấu, cột chặt mõm khiêng về. Đợi khi gấu tỉnh mổ thì mật mới còn nguyên. Cái khó là đoạn đem gấu về. Gấu nặng mấy trăm ký, khiêng trên đường gai góc chằng chịt, vừa đi vừa mở lối, không phải dễ.


Sáng hôm sau, có tin nhóm thợ săn đã khiêng gấu về tới bìa rừng. Nhiều người nhốn nháo ra xem. A Mang phóng như bay, chạy trước. Tôi theo sau, cũng vui lây.


Khi tôi tới, không thấy gấu. Một đám đông bu quanh mấy nhân viên Kiểm Lâm. Một người cắm cúi viết biên bản. Nghe nói, gấu đã bị tịch thu, chở về trại. Tôi ngơ ngác ngó quanh, không biết A Mang biến đâu mất.


Xế trưa, hắn từ rừng lò cò về. Mình mẩy bị gai cào sướt, một chân trật khớp, đi cà nhắc. Mặt còn tái, A Mang kể, hắn mới ghé vai khiêng phụ thì đội Kiểm Lâm trờ tới. Sợ bị bắt, hắn lủi vào rừng. Tôi chọn những quả Dành Dành nhiều cánh đâm dập, đắp vào những chỗ sưng. Bà mẹ A Mang lấy tay nặn những vết máu bầm còn ứ. Hắn cắn răng, nén cơn đau. Tôi ngồi bên cũng xuýt xoa. Thấy vậy, hắn bật cười, "Nghe nói, người Kinh can đảm lắm, đau chân thì chặt chân, phải không?" Tôi trố mắt, ngạc nhiên, nhưng chợt hiểu. Chắc hắn thấy mấy người thương tật, bị cưa chân. Tôi giải thích, "Trong trường hợp vì muốn giữ tính mạng, đôi khi người ta phải quyết định cắt bỏ một phần nào đó trong cơ thể." Hắn nghiêm giọng hỏi, "Đau đâu, chặt đó. Vậy nếu đau ở đây," hắn đưa tay lên ngực, "Thì chặt ở đâu?" Tôi giả lơ, không đáp.


Hồi lâu, hắn thiu thiu ngủ, tôi lững thững ra ngoài dạo chơi. Vừa tới cửa nhà Rông, đã thấy anh cán bộ chờ tôi ở đó. Anh trao cho túi vải. Tôi mở ra, giật mình. Một trái mật tươi còn hâm hấp nóng. Anh cán bộ nói, về lấy dao trích nhẹ, trong giọt mật đen có nhiều hột màu vàng óng ánh, bỏ vào nước, sẽ chảy thành những sợi chỉ vàng dài xuống tận đáy ly. Cứ việc thử để mua không sợ lầm. Sau cùng anh dặn, ngày mai có xe của công ty chế biến gỗ về thành phố, tôi có thể đi cùng.


Buổi chiều, tôi chực nhớ, chưa hỏi mấy giờ chuyến xe khởi hành. Sắp xếp hành lý xong, thấy còn sớm, tôi rủ đám trẻ thả bộ qua trại Kiểm Lâm. Mấy đứa nhỏ vừa đi vừa đuổi nhau, qua một con đồi phút chốc đã tới trại. Thấy không ai ở ngoài, tôi đẩy cửa vào. Phòng khách vắng hoe. Tôi nhón chân qua khe cửa nhìn vào trong. Dưới sàn, một tấm vải thổ cẩm màu mè động đậy. Bên dưới, có người đang giẫy dụa, có cả tiếng cười thầm.


Qua một đêm, A Mang hồi phục hẳn. Hắn hăng hái vác hành lý đưa tôi qua trại. Dọc đường, A Mang bảo, từ nay sẽ ở lại làng. Tục Thượng, con gái chưa chồng thất tiết bị coi là tội loạn luân, làng phạt vạ rất nặng. Tôi hỏi, phạt thế nào? Hắn nói, có thể bị đền trâu. Người con gái phải làm lễ nhập gia, nghĩa là phải lấy máu trộn gan lợn bôi lên đầu tất cả mọi người trong gia đình. Đó là nỗi nhục lớn, không rửa được. Nói tới đây, A Mang đanh giọng, phải ở lại để giúp Y Sao. Thì ra, hắn biết hết mọi chuyện. Gần tới nơi, A Mang đứng lại, trao hành lý rồi ù té chạy. Tôi ngó theo. Sức hắn dai như con thú, mang vết thương mà sống giữa đời?


 

Nguyễn Thị Thảo An

(*) Dân ca Tây Nguyên


Thu Vàng. nhạc Cung Tiến



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn