DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,705,000

Ngang ngửa đời tôi - Bùi Đức Lạc

11 Tháng Chín 201212:00 SA(Xem: 12508)
Ngang ngửa đời tôi - Bùi Đức Lạc

Ngang ngửa đời tôi



linh-vnch-1



Tết năm nay nhớ Tết năm xưa, vậy mà đã ba mươi lăm năm, Mậu Thân 1968 như mới hôm qua, đời người như bóng câu qua cửa sổ là vậy. Đất nước chúng ta, một dân tộc hùng cường giòng giống của Lê Lợi, Hưng Đạo Đại Vương, Nguyễn Huệ. . . . . . Vậy mà ngày nay cũng vẫn dân tộc ấy, đành cam phận chìm đắm trong nô lệ bằng chế độ hà khắc tham tàn do chính người cùng chung nòi giống cai trị !!! Đã hai mươi tám năm, có lúc nào chúng ta cảm thấy tủi hổ với Tiền Nhân hay không?

Mặc dù cách xa Huế 17 cây số về hướng bắc nhưng, từ Huế vẫn vang vọng về bằng những âm thanh hằn học , bởi những tiếng nổ nghe rờn rợn từng giây từng phút , cơn gió bấc nhẹ nhàng tạt làn mưa phùn trải dài trên nòng súng đại bác 105 ly đã được quay ngang mặt đất, nằm bất động thật ngang trái , tất cả mọi quân nhân trong Pháo Đội C Nhảy Dù Việt Nam (thời điểm đó Pháo Binh Nhảy Dù chỉ có một Tiểu Đoàn cho nên mỗi Chiến Đoàn Nhảy Dù chỉ có một Pháo Đội yểm trợ trực tiếp mà thôi, vì lý do đó tên các Pháo Đội chưa có số kèm theo phía sau) đang tay cầm súng cá nhân để tự vệ, vì không còn một đơn vị nào bảo vệ Pháo Đội, mà địch quân thì đã biết rất rõ, đơn vị bảo vệ Pháo Đội đều đã di chuyển vào Huế, cho nên địch quân ngày cũng như đêm đang cố gắng uy hiếp vị trí Pháo Đội, chúng muốn chúng tôi phải đầu hàng, hoặc chúng sẽ tiêu diệt chúng tôi, nhưng đó chỉ là giấc mơ của những chú cán ngố, dù tình hình ngặt nghèo như vậy mọi quân nhân trong ban chỉ huy Pháo Đội, đều cố gắng theo dõi trên máy liên lạc, diễn tiến cuộc tiến quân thần tốc của Chiến Đoàn 1 BB Nhảy Dù gồm TĐ7BBND và TĐ2BBND không Pháo Binh yểm trợ “Pháo Đội hết đạn yểm trợ vì vị trí đang đóng quân là vị trí tập trung ( nghỉ quân) không được phép chứa đạn dược nhiều như vị trí hành quân, và lúc đó đường tiếp tế đạn dược hoàn toàn bị cắt đứt, cho nên Pháo Đội đã hết đạn để bắn yểm trợ, sau ít giờ yểm trợ cho CĐ1BBND chiếm An Hòa và vượt bờ thành để vào Thành Nội Huế hơn nữa Pháo Đội cũng phải cần một số ít đạn nổ mạnh để tự vệ ” đó là lúc 1800G ngày mồng 2 Tết tức ngày 31 tháng 1 năm 1968, địch quân pháo tới liên hồi, mọi người đều cảnh giác, vì hiểu rằng địch có thể tấn công vào vị trí đóng quân bất cứ lúc nào, trời vẫn sụt sùi cơn gió bấc tuy không mạnh nhưng cũng đủ soi mói đến từng làn da thớ thịt của từng người, đêm đó địch quân dùng đặc công tấn công vị trí nhưng cả đơn vị đều thức, nên đã phát hiện địch quân xâm nhập khi chúng còn ngoài hàng rào, những loạt đạn AR15 nổ dòn tan, kèm theo những loạt đạn trực xạ với đạn nổ cao thời nổ 2 giây làm địch quân phải lùi bước mang theo một số thiệt hại, đó là giá của sự liều lĩnh cho nhưng tên sinh Bắc tử Nam phải nhận bởi những Pháo Thủ Mũ Đỏ, chúng trả đũa bằng những loạt pháo 82 ly từ Hiệp Khánh và hỏa tiễn 120 ly từ trên dẫy trương sơn tới tấp bao phủ vị trí nhỏ bé của một Pháo Đội.


Tôi cầm ống liên hợp của máy 106 báo cáo tình hình hiện tại của đơn vị, trực tiếp cho Thiếu Tá Huỳnh Long Phi Tiểu Đoàn Trưởng đang tại căn cứ Hoàng Hoa Thám Sài Gòn và được ông cho biết tình hình tổng quát như sau : Ngoài bốn TĐBBND đang tại Vùng I Chiến Thuật; TĐ6BBND đang cố thủ để giữ vững Kontum; TĐ3BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Trưởng chỉ huy, đang tiêu diệt từng tiểu đoàn địch quân đang cố bám sát kho đạn Gò Vấp; TĐ3BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Phó chỉ huy, đang chặn địch tại khu xóm mới và Bộ Chỉ Huy Pháo Binh QLVNCH, TĐ1BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Phó chỉ huy, đang tảo thanh địch tại Đài Phát Thanh Quốc Gia; TĐ1BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Trưởng chỉ huy đang giữ vững khu ngã bẩy Chợ Lớn;TĐ8BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Phó đang đánh với một trung đoàn địch và đã đẩy địch quân ra khỏi hàng rào phòng thủ của phi trường, xác địch đã bỏ lại ngay trên phi đạo, có tên chỉ còn cách chỗ phi cơ đậu có trên một trăm thước, dẹp tan ý đồ chiếm Phi Trường Tân Sơn Nhất; TĐ8BBND cánh quân do Tiểu Đoàn Trưởng chỉ huy,đang lần lượt chiếm lại khu phía Tây Bắc của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, cánh quân đầu của chúng chỉ còn cách xa cư xá cấp tướng khoảng một trăm thước; TĐ11BBND đang tảo thanh địch tại Bà Rịa, ông nhấn mạnh cho tôi biết là nếu các đơn vị Nhảy Dù không tham chiến ngăn chặn ngay từ phút đầu của cuộc tấn công chớp nhoáng này thì thảm họa cho đất nước chúng ta nặng nề không biết là chừng nào, ông lên lớp với tôi rằng “ Chúng ta là đơn vị có kỷ luật nên chúng ta mới có đủ quân số tham chiến, để phản công tại đủ các nơi,ngay giờ phút đầu tiên như vậy, anh phải hãnh diên điều đó, phải cố gắng duy trì tinh thần quân nhân thuộc cấp, phải nhắc nhở cho họ biết là họ đã chọn đúng đơn vị để phục vụ, anh phải nhắc nhở thêm nữa cho họ biết chúng ta là đơn vị có kỷ luật, anh thử tương tượng nều TĐ8BBND không có mặt kịp để đuổi địch từ Phi Đạo ra ngoài, chỉ cần chậm 10 phút thì Phi Trường Tân Sơn Nhất hoàn toàn do địch quân kiểm soát, như vậy điều gì sẽ xẩy ra cho chúng ta, đó chính là kỷ luật cao Nhảy Dù mới có quân số tham chiến ngay từ phút đầu đầy đủ như vậy,anh thấy không chúng ta chỉ có một Sư Đoàn Nhảy Dù mà chúng ta đã có quân phản ứng lại địch quân ở nhiều nơi như vậy, anh là con chim đầu đàn anh phải hãnh diện điều đó, phải can đảm, phải tỉnh táo nghe không, mọi người chung quanh tôi đều tin tưởng nơi anh, nên anh phải cố gắng “ Tôi may mắn nên có cấp chỉ huy lúc nào cũng lo cho chúng tôi, tôi hơi ngạc nhiên hôm nay bài moral của ông hơi ngắn, tôi biết ông rất lo sợ cho chúng tôi phải ở lại một mình không có quân bạn yểm trợ, không có quân bạn bảo vệ.


Chúng tôi vừa tham dự hành quân Lam Sơn 83, 84, 85 và 86 với Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù do Trung Tá Đào Văn Hùng chỉ huy, thường lệ thì BCH/CĐ2BBND, PĐCPBND, TĐ2BBND, TĐ9BBNĐ, TĐ5BBND được về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân như những cuộc hành quân khác, nhưng lần này ngày 26 Tết tức ngày 25 tháng 1 năm 1968 sau khi chấm dứt hành quân Lam Sơn 86, tức hành quân tiêu diệt địch dọc theo phá Tam Giang chúng tôi đặt cho địa danh này cái tên nghe êm tai “ phố buồn hiu “ toàn bộ CĐ2BBND kéo quân ra đóng chung quanh ga Phổ Trạch, thì nhận được lệnh ngày 27 Tết tức ngày 26 tháng 1 năm 1968, BCH Chiến Đoàn 1 Nhảy Dù do Thiếu Tá Lê quang Lưỡng chỉ huy sẽ được không vận ra thay thế BCH/CĐ2BBND về Sài Gòn, các đơn vị khác ở lại tại chỗ dưới quyền chỉ huy của CĐ1BBND, đồng thời TĐ7BBND cũng được không vận từ Sài Gòn ra cùng ngày, để thay thế cho TĐ5BBND, ngày 28 tết tức ngày 27 tháng 1 năm 1968 các đơn vị Nhảy Dù tại Vùng I Chiến Thuật được phối trí như sau : TĐ9BBND phòng thủ thị xã Quảng Trị, mặc dù ngoài tầm liên lạc nhưng vẫn đặt dưới quyền chỉ huy của CĐ1BBND, TĐ5BBND phòng thủ hướng bắc của thị trấn Đà Nẵng không thuộc quyền chỉ huy của CĐ1BBND (sau đó TĐ5BBND được không vận về Sài Gòn từ phi trường Đà Nẵng ngày mồng 3 tết tức ngày 1 tháng 2 năm 1968 ) BCH/CĐ1BBND và PĐCPBND cùng một ĐĐ/TĐ7BBND đóng tại cây số 17, TĐ7BBND đóng tại An Lỗ, TĐ2BBND đóng tại quận Phong Điền (Sịa) “có một lầm lẫn đáng tiếc là trong cuốn sách Cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Mậu Thân 1968 do Phòng 5 Bộ TTM biên soạn và ấn hành, Chủ Biên Trung Tá Phạm Văn Sơn, nơi trang 11 đã có một đoạn như sau : (Nhưng trước Tết, Sư Đoàn Nhảy Dù mới gửi ra vùng hỏa tuyến được các Tiểu Đoàn 2 và 9 . Mãi tới ngày mồng 2 Tết, Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 1 với Tiểu Đoàn 7 mới được không vận ra Huế) như vậy là tài liệu này có chút sai lầm “ các đơn vị Nhảy Dù đã có mặt tại Huế như tôi đã trình bầy ở trện.


Ngay ngày mồng 2 Tết chúng tôi đã được lêänh chuẩn bị Trực Thăng Vận vào Huế, lúc đó các cấp chỉ huy cũng nhận thấy rằng Pháo Binh đóng quân mà không có đơn vị Bộ Binh bảo vệ thì rất nguy hiểm; Gần một tuần chờ đợi để được bốc quân vào thành nội Huế nhưng PZ (điểm bốc quân) tức vị trí đóng quân của Pháo Đội bị pháo liên hồi, nhất là khi trực thăng chinook của Hoa Kỳ có mặt trên không, máy bay đành bay lượn trên không, thì dưới đất bị pháo vô cùng mãnh liệt, ở trên nhìn xuống dưới đất chỉ còn thấy bụi bay mù mịt, không còn thấy vị trí Pháo Đội đâu nữa, nên máy bay chinook đành chào thua Cố Vấn Hoa Kỳ rất khổ sở vì thương binh không tản thương được, mọi phương tiện tiếp tế đều bị cắt đứt, phương tiện duy nhất là trực thăng Hoa Kỳ, nhưng rất hạn chế, cho đến ngày 6 tháng 2 năm 1968 PĐCND mới được trực thăng vận vào Huế xong, sau hai ngày đùa dỡn với Pháo địch tại cả PZ lẫn LZ, tại LZ ( bãi đổ quân ) thì chỉ bị pháo địch như bị du kích bắn sẻ mà thôi, nhưng cũng đủ làm cho máy bay trực thăng chở hai khẩu đội đại bác không hạ xuống được, nên mới có chuyện tức cười là mất hai khẩu đội không hiểu rớt dọc đường hay thất lạc nơi đâu, lúc chinook xuống PZ bị pháo địch nên chỉ cố gắng móc súng đại bác không mà thôi không có nhân viên khẩu đội đi theo, (thông thường thì chinook phải hạ xuống đất để nhân viên khẩu đội lên máy bay trước sau đó mới móc súng sau nhưng trong tình tranïg đơn vị bị pháo “ hot LZ “ nên không thi hành như thông thường được) do đó mới có chuyện khôi hài mất hai súng đại bác mà không biết mất nơi đâu mặc dầu anh chàng Tây con (Cố Vấn) cố gắng liên lạc nhưng đành dậm chân than trời, đồng thời khi tới vị trí đóng quân mới Pháo Đội hoàn toàn hết đạn, Cố Vấn Hoa Kỳ xin tiếp tế đạn dược, và được tiếp tế đạn như sau : 3000 đạn khói,120 đạn nổ mạnh “lúc này nhiệm vụ tiếp tế đều do Hoa Kỳ lo hơn nữa đạn khói rất đắt tiền hơn đạn nổ mạnh vì nó là đạn băng chất hóa hoc White Phosphoric nhưng yêm trợ thì không có hiệu quả, nó chỉ dùng để đánh dấu bãi đáp hay bắn trái đầu tiên cho Quan Sát Viên dễ nhận diện, hoặc nếu có lầm lẫn thì cũng không gây thiệt hại nhiều cho quân bạn, vì vậy nếu dùng để bắn yểm trợ nó không gây thiệt hại nào đáng kể cho địch quân“ Nhảy Dù mà . . . . Có sao làm vậy, lúc đó tôi phải yểm trợ các đơn vị Nhảy Dù đang chạm địch trong thành Nội Huế bẵng đạn khói, dù gì chăng nữa có tiếng đạn bay đến yểm trợ, quân ta cũng lên tinh thần hơn; Lúc đó tại thành Nội Huế đã có ba TĐBBND, TĐ9ND đã được trực thăng vận từ Quang Trị về Huế sau khi đã giữ vững Quảng Trị, hai ngày sau hai khẩu đội thất lạc trở về trong tình trạng tơi bời hoa lá.


Một hôm tôi lên họp tại PBSĐ1BB và BCHCĐ1BBND vừa về đến vị trí, thì thường vụ báo cho biết có người nhà của tôi đến thăm, ông ta đang trong đài Tác Xạ của pháo đội, tôi ngạc nhiên không hiểu ai đây, tôi làm gì có người nhà ở vùng này, tôi thấy một vị trung niên quần áo tả tơi đang nói chuyện với anh em trong ban chỉ huy pháo đội về việc ông chạy giặc trong mấy ngày qua, tôi nhận ra ngay vị khách này, ông nói mấy ngày nay trốn chui trốn nhủi, lang thang đói rách, tôi vẫn ỡm ờ giới thiệu với mọi người vì tôi biết không ai nhận ra được ông là ai cả, đây là ông Phan đình Thứ ông anh họ của tôi, ông nhảy lên la to,


- Ê đừng có đùa dai nữa mày, mấy ngày nay lạnh đói rét có rượu cho tao một hớp coi; Tôi vẫn ỡm ờ trả lời.


- Rượu một hớp thì không có; Nhìn bộ quần áo ông tả tơi mà xót xa tôi gọi người mang quần áo lạnh và quân phục của tôi cho ông mặc, tôi dặn tháo lon của tôi ra, nhưng ông giằng lấy và nói :


- Thôi đích thân lột lon cũng được nhưng phải có rượu khao lon mới cho em, tôi bật cười lớn tiếng, mọi người chung quanh thấy tôi và ông đàm thoại cứ cười lạ mà không biết ra ông là ai cả;Tôi không giám đùa giai thêm nữa giới thiệu với mọi người :


- Giới thiệu với anh em đây là Đại Tá Lam Sơn, mọi người giật mình tự nhiên đứng nghiêm chỉnh chào vị tư lệnh hụt của binh chủng Nhảy Dù năm 1954, tôi đã có viết về việc này trong bài tiểu sử của Binh Chủng Nhảy Dù, chàng cố vấn Mỹ lúc đó cũng được thông dịch cho biết, nên đứng nghiêm như pho tượng,sau đó cố vấn chào tôi sang phi trường tản thương của ĐĐ1QY có trực thăng chờ sẵn đi mất luôn, tối hôm đó bốn chúng tôi cưa một chai với thịt ba lát và cá hộp thật là thú vị, đang nhậu ông kể chuyện chạy giặc trong đêm đầu năm râm ran câu chuyện, hỷ nộ ái ố đủ cả, bất chợt đàn bò chạy qua vị trí pháo đội, ông hỏi đàn bò này xuất xứ từ đâu, tôi cho ông biết đàn bò này của SĐ1BB, ông chép miệng lên tiếng.


- Lính tráng khổ cực không có tiếp tế, bắt một con giết làm thịt cho lính ăn tao chịu cho;


- Thôi Đại Tá cho em sống, muốn em chết hay sao, bò của BTL/SĐ1BB đó, làm vậy mang tiếng chết.


- Thì cứ làm đại đi thằng nào biết; Tôi cương quyết từ chối, vì làm như vậy thì nhẹ thể mình quá, chưa đến nỗi đói.


Hôm sau tôi lên BCH/CĐ1ND họp ( đóng chung với BTL/SĐ1BB trong trại Mang Cá còn PĐCND đóng ngay trong sân của ĐĐ1 QN ) và nhận lệnh vì không có không quân cho nên Pháo Binh có nhiệm vụ phải đánh sập cửa Đông Ba, hiện địch quân bố trí đại liên, súng không giật và B40 trên đó, gây trở ngại cho đường tiến quân của TĐ2BBND,Thiếu Tá Lê quang Lưỡng Chiến Đoàn Trưởng muốn tôi kéo súng ra trực xạ để đánh sập vị trí này, tôi rất rõ khu phố này, nên trình bầy xin cho tôi được quan sát mục tiêu trước, khi tới cửa Đông Ba tôi thấy ngay không thể trực xạ được vì nếu chúng tôi kéo súng ra vị trí có thể trực xạ được là ngay góc đường Mai Thúc Loan, nhưng tại đây địch quân cũng có thể dùng súng đại liên, súng đại bác không giật và B40 ngay trên cửa Đông Ba, để tiêu diệt chúng tôi trước, hơn nữa một bên phố ta chưa làm chủ tình hình, địch quân cũng không để chúng tôi yên, nên tôi đành phải xin với vị Chiến Đoàn Trưởng Nhảy Dù cho tôi được tự do lựa chọn cách thi hành nhiệm vụ, được chấp thuận ngay và tôi đã áp dụng tác xạ Tiêu Hủy (một kỹ thuật tác xạ khó nhấtù trong Pháo Binh và chỉ áp dụng cho Pháo Binh hạng trung trở lên mà thôi) chúng tôi lại là pháo binh hạng nhẹ.


Thôi túng quẫn phải biến hóa vậy, nhưng tôi phải ở lại cửa Đông Ba để điều khiển tác xạ này, các Sĩ Quan mới trong nghề đều không đủ khả năng, vì tác xạ này đài quan sát tức Quan Sát Viên Tiền Tuyến, phải chỉ huy Pháo Đội trong khi thi hành tác xạ, tôi đã đánh tan vị trí địch bằng tác xạ này, đó là lý do tôi vắng mặt tại Pháo Đội hơn 5 giờ đông hồ. Tôi về tới vị trí pháo đội khoảng 1900G.


ĐT Lam Sơn ngồi giả vờ quay lơ đi như không thấy tôi, ông cười mỉm chi, ông Pháo Đội Phó và ông Sĩ Quan Tác Xạ cũng cười, tôi thấy không khí hơi lạ, tôi đoán chắc có chuyện gì đây,thôi đành phớt lờ, chấp nhận đau thương vậy, ngoài trời mưa vẫn bay như châm chọc mọi người, xin được méo mó câu thơ “trời buồn cảnh có vui đâu bao giờ”; Tôi thèm được nghe giọng hò của cô gái Huế, chèo đò trên sông Hương vắng lặng.


Hồ Tịnh Tâm giầu sen bạch diệp


Đất Hương Cần ngọt quít, thơm cam.


Ai về cầu ngói Thanh Toàn


Đợi đây về với một đoàn cho vui.


Đất Thừa Thiên trai hiền gái đẹp.


Non xanh nước biếc, điện ngọc đền rồng.


Tháp bẩy tầng, Thánh miếu, Chùa Ông,


Chuông khua Diệu Đế, trống rung tam tòa


...


“khuyết danh”



Bữa cơm tối tôi vừa gọi lấy rượu ra, ĐT Lam Sơn nháy làm hiệu nhà bếp dọn bữa ăn chiều, đủ bò bẩy món, tôi lặng người đi vì tức giận, cùng lúc đó địch pháo kích, tiếng hỏa tiễn 122 bay gầm thét trong không gian, tiếng nổ vang dội đất cát bay tứ tung, tôi ngồi bất động nhìn sinh hoạt của pháo đội lúc phản pháo, mọi người như cái máy nhiệm vụ ai người đó làm, không hấp tấp vội vàng, mà cũng không chậm chạp làm mất thời gian tính, hoạt động phản pháo xong tôi định cất rượu không uống vì còn hứng nào mà uống nữa đây, nhưng nghĩ tới ông tôi đành thua; Oâng thấy tôi không vui nên phân trần :

- Cái việc này là do tao tất cả tụi nó sợ hết, không đứa nào giám làm tao giết tao cạo lông; Ông nói tới đây tự nhiên tôi bật cười, còn ai biết thuộc cấp của tôi hơn tôi, có người cầm đầu giết một con chứ giết cả đàn bò, họ cũng giám làm, xong ông nói tiếp :


- Để cho tụi nó biết là tao làm, tao còn lấy cái đầu bò và cái đuôi bò đưa sang tặng thằng Đại Đội Trưởng Quân Nhu; Oâng vừa nói đến đó tôi than thầm trong bụng, chết tôi rồi !!! ông ĐĐT/QN đâu có biết ông ĐT/Lam Sơn là ai, ông mặc quần áo của tôi, tên tôi trên ngực áo ông đang mặc, chắc chắn ông Đại Đội Trưởng Quân Nhu sẽ mang tang vật, trình lên cấp trên là pháo đội giết bò xong, chính Pháo Đội Trưởng còn mang đầu bò tặng lại, thế nào cũng có câu thòng là tụi nó không coi ai ra gì; ”và quả đúng như tôi tiên đoán, tai họa đến với tôi dài dài vì chuyện bê bối này”, tôi đành lấy chuyện Tái Oâng mất ngựa mà vui vậy; ĐT/Lam Sơn thấy tôi buồn ông cho là tôi lo sợ, ông trấn an tôi đủ điều, tôi thật xúc độâng vì tôi biết ông nhiều, tính tình rất cương trực, ngang tàng không thua ai, không bao giờ xuống nước như vậy cả,sau đó ông nói :


- Mai tao sẽ lên gặp thằng . . . . tao nói việc này do tao làm mày đừng lo; Oâng vẫn chưa hiểu tôi, tôi buồn vì lý do là cấp chỉ huy tôi phải có trách nhiệm trong đó, nhất là chưa thèm khát đến nỗi phải làm liều như vậy, và tôi nói :


Mọi chuyện xong rồi ĐT khỏi phải nói với ai cả; Xong tôi vui vẻ ngồi ăn; Tôi viết những giòng này như là một chuyện vui không hề oán trách, không hề than van bởi ngay ngày đó tôi cũng không cần thanh minh, đó chẳng qua chỉ là một tai nạn; Suốt 10 năm dài giao du với ĐT/Lam Sơn lúc nào ông cũng coi tôi như một người em, một người bạn, có cấp trên của tôi không bằng lòng việc giao thiệp này, nhưng tôi chấp nhận vì đã giao du thì tốt xấu cũng là của mình, biết đâu là xấu,biết đâu là tốt, miễn sao mình không lợi dụng sư giao du là được, cho nên lúc nào tôi cũng hiên ngang nhìn mọi người, dù là cấp trên hay cấp dưới của tôi, dù có bị thiệt thòi, nhưng nay gặp lại tôi vẫn hãnh diện việc mình đã làm, dù sao chăng nữa cũng không hề ân hận.


Pháo Đội Phó của tôi lúc bấy giờ Mũ Đỏ Trần văn Liệu hiện đang ở San Jose, California; Trưởng ban đạn dược của Pháo Đội là Mũ Đỏ Nguyễn Thanh Long đang ở Buras, Louisiana hiện nay có ba tầu đánh cá; Trưởng đài Tác Xạ Mũ Đỏ Chu văn Chấn hiện đang ở Dallas, Texas; Sĩ Quan Tác Xạ Mũ Đỏ Lý văn Quân tử thương tại Hạ Lào . Viết tới đây không khỏi bồi hồi tưởng nhớ những kỷ niệm không bao giờ quên trong đời tôi, những kỷ niệm đã làm cuộc đời tôi chịu nhiều đắng cay và đời tôi thêm NGANG NGỬA, có vậy cuộc sống mới thêm đậm đà ./.



Đại tá Bùi Đức Lạc




Đêm Chôn Dầu. Khánh Ly

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 215)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 107)
Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 192)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương
10 Tháng Năm 20186:11 CH(Xem: 182)
Tôi đọc bài thơ “Tau chưởi” dưới đây, và nghĩ rằng có lẽ trong văn học VN (và thế giới?!) khó tìm ra một bài thơ nào kinh dị, khốc liệt như bài thơ này. Điều gì làm cho tâm hồn con người – thi sĩ – phải đau đớn, quằn quại, căm hận, phẫn nộ đến vậy? Hai Bài thơ “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” và “Bài thơ của một người yêu nước mình” làm cho Trần Vàng Sao nổi tiếng, nhưng theo tôi, bài “Tau chưởi” mới là bài đáng kể nhất trong thơ của ông.
06 Tháng Năm 20182:41 CH(Xem: 218)
“Cho tôi xem qua bài lục bát nào của anh/chị, tôi sẽ nói được ít nhiều về anh/chị.” Câu ấy tôi vẫn nói với những người làm thơ quen biết, và có lý do để mạnh miệng như vậy. Không chỉ “văn là người” mà cả đến thơ cũng là “người”. Hơn thế nữa, bài lục bát còn cho tôi nói được ít nhiều về “tay nghề” của tác giả bài thơ. Thế nhưng, vì sao là lục bát mà không phải thể thơ nào khác? Chỉ vì, thơ lục bát “dễ làm, khó hay”, và là một thử thách cho người làm thơ. Qua một bài lục bát, dẫu tân, cổ kiểu nào, bản lãnh của người làm thơ thể hiện rõ nét hơn bất kỳ thể thơ nào khác.