DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,709,430

THÀ CHẾT, KHÔNG HÀNG GIẶC - Nguyễn Hữu Chế

17 Tháng Chín 201212:00 SA(Xem: 8128)
THÀ CHẾT, KHÔNG HÀNG GIẶC - Nguyễn Hữu Chế
THÀ CHẾT, KHÔNG HÀNG GIẶC



tbt_1_0
Trần Bình Trọng
"thà làm quỷ nước Nam, còn hơn là vương đất bắc"



“Anh hùng tử, khí hùng bất tử”


 Lịch sử dân tộc Việt không thiếu những Anh Hùng - Liệt Nữ. Năm 43, sau khi bại trận trước quân xâm lăng Nam Hán, Hai Bà Trưng đã gieo mình xuống sông Hát Giang mà tự tận, không để lọt vào tay giặc.

 Khi quân Nguyên sang đánh nước ta lần thứ hai (1284), quân nhà Trần kém thế, thua trận liên miên, vua Nhân Tông thấy thế giặc mạnh, sợ chống không lại thì nhân dân bị tàn hại, nên có ý định hàng giặc để cứu muôn dân. Nhưng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã khẳng khái tâu: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước”.

 Tháng 4 năm 1975, khi Tổng Thống 48 giờ không do dân bầu Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng quân CSBV, QLVNCH lại sản sinh ra nhiều vị anh hùng “thà chết không hàng giặc”. Đó là các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, và Phạm Văn Phú. Người đời xem năm vị tướng anh hùng này là “Ngũ Hổ Tướng”.

Sau khi bỏ ngỏ Đà Nẳng, quân và dân Vùng I tìm cách trốn chạy vào Nam bằng mọi phương tiện sẵn có. Người dân VNCH, nhất là người dân Cố Đô Huế không bao giờ quên được thảm cảnh của Tết Mậu Thân năm nào, khi quân CSBV chiếm kinh thành Huế trong 26 ngày, và chúng đã sát hại hơn sáu ngàn người dân lành vô tội, do những tên đao phủ Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường và em là Ngọc Phan tung hoành ngay chính bà con, và bạn bè của chúng. “Đắc xin các đồng chí giải phóng có mặt ở đó được giải quyết mối thù riêng…Tý đứng dưới hố, cứ mỗi lúc Đắc đưa súng lên nhắm vào trán Tý mà bóp cò, Tý lại nhắm mắt, khuôn mặt lạnh lùng chờ đợi…” (Giải khăn sô cho Huế, Nhã Ca)

Đại úy Hoàng Bôi phục vụ tại Phi Đoàn 247, Trực Thăng Vận Tải Chinook CH47, Sư Đoàn 1 Không Quân, QLVNCH. Bôi quê ở làng Lai Hà, một ngôi làng bé nhỏ, nằm ven bờ Tây ngạn phá Tam Giang. Phá Tam Giang nổi tiếng, không những vì là con phá lớn nhất của đất nước, mà nổi tiếng nhờ qua những câu thơ:

“Đường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biết như tranh họa đồ.
Yêu em, anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”


 Làng Lai Hà thuộc quận Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, dù không có một lịch sữ lâu dài, chỉ mới thành hình kể từ sau khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa năm 1558, dưới đời vua Lê Anh Tôn, nhưng cũng đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt. Điển hình là một người thuộc vào hàng chú bác của Bôi, vào khoảng thập niên 1930, hoạt động chống chính quyền Bảo Hộ Pháp, bị bắt, nhưng đã tuyệt thực cho đến chết ở trong nhà lao Hỏa Lò, Hà Nội. Năm 1945, khi quân viễn chinh Pháp, theo thỏa hiệp sơ bộ với Chính Phủ HCM, đưa quân vào Việt Nam để lập lại sự đô hộ, một người thuộc vào hàng ông của Bôi bị giặc Pháp bắt, không chịu đầu hàng, đã hô câu: “Việt Nam Muôn Năm” trước khi một tràn đạn oan nghiệt của quân xâm lược nổ vào người ông, kết liễu cuộc đời của một lão nông anh dũng.



tbt


Làng Lai Hà đã cưu mang con cháu họ Nguyễn thuộc hệ phái Tiền quân Nguyễn Văn Thành, một trong những vị Khai Quốc Công Thần nhà Nguyễn.

Phía Bắc của làng là Chí Long, quê hương của cụ Nguyễn Tri Phương, một vị đại thần anh hùng của nhà Nguyễn. Khi quân Pháp hạ thành Hà Nội, con là phò mã Nguyễn Lâm tử trận, cụ bị thương nặng, bị giặc Pháp bắt, nhưng cụ không chịu buộc thuốc và nhịn ăn mà chết vào năm 1873. Những tấm gương anh hùng đó đã ăn sâu vào tâm khảm của Bôi, và nó đã định hướng cuộc đời của Bôi, cuộc đời của một vị anh hùng “thà chết không hàng giặc”.

 Là phi công trực thăng, trước khi trở thành phi công lái Chinook, anh đã từng bay yểm trợ cho mặt trận vùng giới tuyến, anh đã bay qua phá Tam Giang, nơi chôn nhau cắt rốn. Bài hát “Chiều Trên Phá Tam Giang” của Trần Thiện Thanh làm cho anh chợt nhớ Sài Gòn, chợt nhớ làng quê nhỏ bé đang điêu linh vì cuộc chiến vô nghĩa do bọn Cộng Sản Bắc phương đang tiến hành từ mấy chục năm nay. Ngôi giáo đường Lai Hà, và Trường Trung Học Tam Giang ẩn mình sau lũy tre xanh, nơi đã chôn dấu biết bao kỹ niệm của thời niên thiếu, với vị Linh mục khả kính, Cha Nguyễn Phùng Tuệ, giờ chỉ còn trơ lại những bức tường loang lổ. Dấu vết chiến tranh đang tàn phá làng quê anh.

Những ngày cuối tháng 3 năm 1975, thành phố Đà Nẵng hầu như lính nhiều hơn dân. Dưới quyền Tư Lệnh của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, đáng lý phải xảy ra một trận thư hùng giữa quân CSBV với quân của Tướng Trưởng, mà phần thắng bại chưa biết nghiêng về bên nào, dù quân viện do ông bạn đồng minh Hoa Kỳ cắt giảm, nhưng lòng anh dũng, ý chí quyết chiến quyết thắng của người lính Cộng Hòa vẫn có thừa. Nhưng cuối cùng “lệnh lạc” sao đó, Đà Nẵng đã bị bỏ ngỏ, toàn quân, toàn dân đành tháo chạy. Hoàng Bôi cũng như tất cả mọi người, tháo chạy trong cảnh bát nháo, hỗn loạn, hơn cả những ngày tháng của mùa Hè đỏ lửa năm 1972, khi quân CSBV, với xe tăng và đại pháo, ngang nhiên vượt sông Bến Hải, ranh giới chia đôi đất nước theo Hiệp định Đình chiến Geneva tháng 7 năm 1954.

Sáng sớm ngày 29 tháng 3 năm 1975, trời Đà Nẵng trở mưa. Cơn mưa Xuân cuối mùa lất phất nhẹ, như những cơn mưa phùn dầm dề xứ Huế, nhưng cũng đủ thấm ướt và làm lạnh lòng những ai phải rời thành phố, ra đi trong vội vã trước làn sóng đỏ đang đổ ập vào từ phương Bắc, như cơn đại hồng thủy, đang nhận chìm một đô thị rộng lớn vào hàng thứ hai của nước Việt Nam Cộng Hòa. Sân bay Đà Nẵng hỗn loạn, đạn khói mù trời. Người dân từ các vùng lân cận, từ Huế đổ vào, tìm cách vào phi trường kiếm một chỗ bay để thoát thân. Những ngày trước, Chính phủ đã thuê bao nhiều chuyến bay của máy bay ngoại quốc để di tản dân tỵ nạn, nhưng số lượng người đông đảo, chen lấn nhau, ai cũng muốn nhanh chóng được ra đi, nên đã xảy ra nhiều cảnh thương tâm. Trung tá Hùng, thuộc Trung tâm Hành Quân Sư Đoàn 1 KQ, sau khi không còn liên lạc được với ai – gọi qua Quân Đoàn hay các đơn vị bạn, chỉ nghe tiếng chuông reo, không có ai trả lời – anh vội vã chạy ra phi đạo, ẳm theo hai đứa con thơ, vì vợ anh đã tử nạn trong một trận pháo kích của Cộng quân. Anh leo lên một chiếc L19 còn sót lại, nhưng không thể nào khởi động được máy. Anh vội tìm một chiếc xe để câu bình điện. Cuối cùng, máy bay nổ máy, anh bay được, thoát vào Nam (theo lời kể lại của Hùng, khi ở tù chung một đội tại thành Ông Năm, Hóc Môn, năm 1975).



tbt_2


Đại úy Hoàng Bôi và một số đồng đội cùng thân nhân của họ lên một trong những chiếc Chinook cuối cùng vội vã rời bến. Khi phi cơ của anh bay ngang bãi biển Sa Huỳnh, bị súng VC bắn lên trúng đạn, không thể bay tiếp, đành phải đáp khẩn cấp. Đó là một xóm làng ven biển, thuộc thôn Vĩnh Tuy, xã Phú Thạnh. Ngoài phi hành đoàn, còn có 17 hành khách. Hầu hết họ là quân nhân thuộc SĐ1KQ và thân nhân. Một toán VC gồm du kích địa phương và quân CSBV tiến ra kêu gọi đầu hàng. Trong hoàn cảnh không thể chống cự, đụn cát trắng trống trải không nơi ẩn núp, tất cả hành khách đành tuân thủ. Nhưng phi hành đoàn gồm Đại úy Hoàng Bôi và một Thiếu úy Hoa tiêu phó đã “Thà chết, không hàng giặc”. Hoàng Bôi là một tín đồ Thiên Chúa Giáo ngoan đạo. Theo giới luật, người tín hữu Thiên Chúa Giáo không được tự sát. Anh không muốn phạm vào giới luật. Nhưng đứng trước tình thế khẩn trương, một bên là giới luật, một bên là danh dự của một sĩ quan QLVNCH. Anh bắt buộc phải có sự lựa chọn. Là người dân xứ Huế, đã trãi qua những giờ phút kinh hoàng hồi Tết Mậu Thân năm 1968, với những cảnh giết người không gớm tay của bọn Việt Cộng, nhất là đối với những quân nhân, công chức VNCH khi bị lọt vào tay giặc. Linh Mục Bữu Dưỡng, Thượng Nghị Sĩ Trần Điền, những vị Giáo sư người Đức dạy tại Đại học Y khoa Huế, cùng hàng ngàn người dân vô tội đã bị giặc bắt đi chôn sống. Một thoáng suy nghĩ trôi qua. Quyết định của anh là chọn lựa cái chết. Người lính ra đi không hẹn ngày về. Là một sĩ quan QLVNCH, với lời thề bảo vệ “Tổ Quốc”, tôn trọng “Danh Dự”, và chu toàn “Trách Nhiệm”, anh đã “Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao”. Đại úy Hoàng Bôi và người Hoa Tiêu phó, rút vội khẩu súng lục tùy thân đang đeo trước ngực ra, mở khóa an toàn, kê vào đầu của nhau (có nghĩa là anh đã không tự sát!), và đếm: 1,2,3. Hai tiếng nổ chát chúa nhưng nghe như một vang lên, hai viên đạn cùng rời khỏi nòng súng một lượt. Hai thây người gục ngã. Máu của họ ướt đẩm đất Việt, tô thắm màu cờ vàng ba sọc đỏ. Thân xác của họ làm phân bón cho quê hương nghèo xơ nghèo xác vì đạn bom của chiến tranh.

 Trong số hành khách, có một thiếu phụ là vợ của một HSQ/KQ cùng phi đoàn (nghe nói người thiếu phụ hiện đang sống tại Mỹ). Người thiếu phụ khẩn khoản tên du kích có vẻ là tên chỉ huy, sau này được biết là tên Lê Tiền, và một du kích gái tên Phan Thị Cư, biếu họ hai chỉ vàng, xin được chôn cất tử tế hai người lính vừa chết. Một trong số những hành khách, Trung sĩ Kháng, thuộc một đơn vị ĐPQ cùng vài người khác, sau khi được bọn du kích cho phép, đào vội hai cái hố. Hai nấm mồ chôn vội, không có gỗ ván để làm quan tài, chỉ là bộ đồ bay làm cổ áo quan (theo lời kể lại của người anh người quá cố, một Đại Đội Phó Cảnh Sát Dã Chiến, hiện định cư tại Orange County, và anh Nguyễn Điền, từ Việt Nam). Như là một chiến lợi phẩm, tên du kích mang hai chiếc nón bay về nhà.

 Ngày 5 tháng 4 năm 1975, những quân nhân và công chức còn kẹt lại Đà Nẵng được lệnh tập trung để nghe Ủy ban Quân Quản thành phố nói chuyện…Nhưng rồi họ được chở đi những nơi nào không ai biết. Vài tháng sau, trong số những cựu quân nhân được gọi đi “thi hành nghĩa vụ lao động”, có anh Nguyễn Văn Linh, BĐQ, Nguyễn Điền, QC, được điều động đi sửa chửa đường sắt ở vùng Sa Huỳnh, được phân chia ngủ nghỉ ở nhà một tên du kích. Tình cờ họ thấy hai chiếc nón bay trong cái tủ thờ của người chủ nhà. Đến gần nhìn kỹ, họ sững sờ khi thấy bảng tên đề “Hoàng Bôi”. Họ là những người bạn học của Bôi, thỉnh thoảng vẫn gặp nhau nhậu nhẹt tại Đà Nẵng, tìm cách lân la làm quen người chủ nhà để tìm hiểu. Người chủ nhà cũng là tên du kích, đã kể lại toàn bộ câu chuyện, và còn hướng dẫn hai người lính ra ngoài đụn cát ven biển, chỉ hai nấm mồ “vô chủ ai mà viếng thăm”. Nhưng lạ lùng thay, ngoài sự tưởng tượng của hai người lính. Hai nấm mồ vô chủ, nhưng không phải như nấm mồ Đạm Tiên của cụ Nguyễn Du:

  “Sè sè nấm đất bên đường,
 Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”.


 Hai nấm mồ đã được tên du kích, thôn đội trưởng, đắp cao, và có mộ bia (bằng gỗ) đàng hoàng. Có một lý do nào đó lớn lao như một phép nhiệm mầu đã biến đổi một tên du kích vô thần thành một gã giữ “từ đường”, lo hương khói, mồ mã cho đến ngày cải táng.

 Biến cố 30 tháng 4 năm 75 đã làm sụp đổ toàn bộ cuộc sống của người dân miền Nam, mà nạn nhân trực tiếp là thân nhân, gia đình “ngụy quân ngụy quyền”. Vợ của Bôi, một giáo viên tốt nghiệp trường Sư Phạm Qui Nhơn, đang dạy học, bị đuổi việc, ôm đứa con còn đang măng sửa tìm về nương tựa nơi nhà ngoại. “Tấn về nội, thối về ngoại”. Nhưng khốn nổi, ngôi nhà ngoại đã bị kẻ chiến thắng chiếm đoạt – cho đến bây giờ. Bên nội cũng ly tán. Người đi tù, kẻ đi “kinh tế mới”, một số trở về quê. Quê nội, một làng quê nhỏ, cách kinh thành Huế lối nửa ngày đường. Những ngày hè, gió nồm lồng lộng thổi từ phá Tam Giang, xua đi cái nóng bức do cơn gió hạ Lào nung nấu. Sau những tháng năm điêu tàn vì chiến tranh, giờ quê nội cũng đang chịu khốn khổ vì bọn VC ngu dốt tập kết trở về trong việc làm thũy lợi, bắt đập và ngăn phá, làm cho ruộng đồng khô cằn. Quê hương miền Trung nghèo, vốn cày lên sỏi đá, nay sỏi đá cũng không còn để mà cày! Người dân phải tha phương cầu thực. Người sống đã không lo được miếng cơm manh áo, làm sao lo được cho người chết. Cũng có vài lần, những người thân tìm đến mộ phần của anh thăm viếng và có ý muốn cải táng. Nhưng người dân địa phương tìm cách ngăn cản không cho di dời, vì họ tin vào những ơn ích có được mỗi khi họ đến cầu xin. Thời gian đã đi qua khá lâu, vợ con và thân nhân của Đại úy Bôi quyết định cải táng, nhất quyết đem nắm xương tàn về gởi gắm nơi cố hương. Người nhà đã đến gặp tên Chủ tịch xã, cũng chính là tên du kích, thôn đội trưởng ngày xưa. Chẳng biết có đút lót hay quà cáp gì không, nhưng hắn đã dễ dàng đồng ý, với sự thân thiện khác thường. Thay bộ áo quần đang mặc (không còn chân đi dép râu, đầu đội nón tai bèo), trịnh trọng trong chiếc áo dài đen, khăn đóng, dẫn đoàn người hướng về độn cát ven biển. Vừa đi, hắn vừa kể lại những gì đã xảy ra từ 30 năm trước. Câu chuyện sống động tưởng chừng như thể mới xảy ra hôm qua. Giọng kể đều đều, pha đôi chút ngậm ngùi, ăn năn. Hắn xin phép gia đình được thắp nén hương, và lâm râm khấn nguyện trước phần mộ. Sau đó hắn lại xin phép được tự tay đào tìm hài cốt vị anh hùng, như để đền bù lại cái ngày hắn đã “say men chiến thắng” một cách lầm lỡ, với những xúc động nghẹn ngào…

 “Hơn 30 năm, bộ áo bay còn giữ màu cứt ngựa, gói trọn bộ xương tàn của một người thỏa chí tang bồng” (‘Lối Về’, Đặc San Phượng Hoàng, Nguyễn Văn Thống, người anh em bà con). Mộ phần của viên Thiếu úy Hoa tiêu phó đã được cải táng trước – rất tiếc, người viết không được tin tức gì về vị anh hùng này.

Hai người phi công tuẩn nạn đã được người dân địa phương thờ phụng, và hương khói quanh năm. Và chính tên Chủ tịch xã cũng rất sùng bái hai “tên sĩ quan ngụy” mà hắn đã trút hết những hận thù năm xưa! Nhưng bây giờ đã trở thành hai vị Thần Làng.

Michigan, Mùa Tuyết 2008
(Nhân dịp đọc tin và xem video buổi lễ Phủ cờ hai anh hùng KQ Lê Văn Bé và Nguyễn Văn Lộc)

Bảo Định Nguy
ễn Hữu Chế

Tình Ca. Phạm Duy. Paris by Night


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20187:31 SA(Xem: 61)
Năm 1979 là năm tệ hệ nhất của đời tôi ở cái đất Sài thành. Ban ngày tôi ra chợ sách bán sách và thuốc lá ké một góc sạp sách của người bạn cùng đơn vị trước 75 để kiếm sống qua ngày. Sách lèo tèo vài ba cuốn. Thuốc lá thì vài bao. Vốn liếng đều do cô bạn nhỏ cùng quê tốt bụng giúp đỡ. Nhiều bữa không bán buôn được gì tôi chạy ra đầu đường uống nước máy trừ cơm. Ban đêm rúc vào một góc nào đó ngủ bụi. Vậy mà cũng lây lất ngày này qua tháng nọ như một phép lạ. Một hôm, anh bạn trẻ Đỗ Thất Kinh từ trên Bản Thuột về Sài Gòn tìm kế sinh nhai, may mắn tìm được một chân giao bơ đậu phọng cho khách hàng. Đang đói, tôi bám theo liền. Chật vật vậy mà hai anh em cũng sống qua ngày. Có điều ban đêm tôi phải tìm chỗ ngủ vì bạn tôi cũng ở lậu; rầy đây mai đó nhưng khá hơn tôi là bạn ngủ dưới một mái nhà.
21 Tháng Năm 20182:23 CH(Xem: 217)
Một Đại Hội 21 của các cựu SVSQ Trường VBQGVN vừa được tổ chức vào những ngày 11, 12 và 13 tháng 5/2018 tại thành phố San Jose, miền Bắc Cali, đã thành công tốt đẹp. Xin được chúc mừng và ngợi ca ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức để có được một Đại Hội với nhiều hình thức truyền thống Võ Bị đáng được tự hào. Đại Hội cũng đã bầu ra một vị Tân Tổng Hội Trưởng, tốt nghiệp Khóa 24, có đầy đủ khả năng để chu toàn trách nhiệm.Tuy nhiên bên cạnh sự thành công và niềm tự hào đó, dường như vẫn phảng phất điều gì làm người ta cảm thấy ít nhiều tiếc nuối, xót xa. Bởi chỉ hơn một tháng sau, vào các ngày 23-24 và 25 tháng 6 tới đây, cũng sẽ có một Đại Hội 21 nữa được tổ chức tại Westminster, miền Nam Cali, và cũng để bầu một Tân Tổng Hội Trưởng. Điều khó hiểu là cả hai Đại Hội cùng mang tên Đại Hội 21 này đều nhân danh Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 318)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 130)
Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 222)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương