DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,708,262

Thu Thuyền

25 Tháng Chín 201212:00 SA(Xem: 26707)
Thu Thuyền
Thu Thuyền



thuthuyen2-content



Tên thật Lưu Hoàng Thu Thuyền, sanh vào tháng 12 năm 1958 tại Sàigòn. Ái nữ của nhà thơ Hoàng Anh Tuấn. Thời ở Đà Lạt đã theo học tại các trường: Petit Lycée Yersin, Hùng Vương, Couvent des Oiseaux, (1969-1975), thời ở Sài gòn (1976-1979) theo học tại St.Paul, Trung học Sư phạm, Dạy tại Huỳnh Mẫn Đạt. Sống ở Pháp từ 1979 đến 1981. Sang Mỹ vào tháng 2 năm 1981, tốt nghiệp đại học tại Cincinnati Ohio. Hiện định cư cùng chồng và hai con tại Dallas, Texas.

Bắt đầu viết cuối năm 1998. Có bài đăng trên các tạp chí Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Chủ Đề, Phố Văn, Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, Ca Dao, Tuần báo Việt Nam Weekly News, Viet Mercury.

Tác phẩm đã xuất bản:
  • Những Nhánh Sông Mất Biển (tập truyện, Văn Mới, 2004)

Có mặt trong các tuyển tập:

  • Tuyển Tập 14 Tác Giả.

 


GIỚI THIỆU TÁC PHẨM TÁC GIẢ:


Đức Phổ

Thu Thuyền

 
 Trần Doãn Nho



Tháng 8. Mùa hạ đã trôi đi một nửa. Trời dịu. Những tia nắng gay gắt dường như có phần chùng lại. Hơi thu nghe vướng vất đâu đây. Nhất là lúc sáng sớm và chiều về. Khi khuất nắng. Boston đang đợi chờ một mùa thu mới. Không lâu nữa.

Trong bồn chồn nỗi đợi, Boston đón khách. Từ Canada. Từ Washingotn DC. Từ Philadelphia. Từ New Jersey. Từ Texas. Từ Georgia. Từ California. Từ …vân vân. Khách đến Boston để tham dự một buổi sinh hoạt văn học đặc biệt: giới thiệu 5 khuôn mặt văn nghệ và 5 tác phẩm mới nhất của họ. Ba trong số họ là “cây nhà lá vườn”: Lâm Chương, Phan Xuân Sinh, Trần Trung Đạo. Hai là khách phương Nam, một đến từ Texas, Thu Thuyền và một đến từ Georgia, Đức Phổ. Đây là lần đầu tiên, Boston tổ chức một sinh hoạt giới thiệu tác phẩm có tính tập thể như vậy. Năm tác giả và năm tác phẩm mới nhất: một thơ và bốn văn. Một điều khá thú vị cần ghi nhận là, ba tác giả trong bốn tác phẩm văn xuôi lại là những nhà thơ nổi tiếng.



***



Tác phẩm thơ duy nhất trong lần sinh hoạt này là “MÙA TÌNH, XIN KỊP GẶT” của Đức Phổ. Tuy chưa quen thuộc mấy với người dân Boston, Đức Phổ là một trong những nhà thơ nổi tiếng của văn học hải ngoại. Thơ của anh có mặt trên nhiều báo chí xuất bản ở hải ngoại, từ những tạp chí chuyên về văn học như Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Tạp Chí Thơ, Văn Tuyển, Chủ Đề cho đến các đặc san của các hội ái hữu hay những tờ báo địa phương khác. Tuy xa xôi, nhưng hễ có dịp là anh đến Boston khi Boston có sinh hoạt văn hóa. Anh hiện cư trú ở bang Georgia, một tiểu bang miền Nam. “Mùa tình xin kịp gặt” là tập thơ thứ hai của anh sau “Một chỗ về” do Sông Thu xuất bản vào năm 2000. Theo nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhà thơ quê làng Phụng, Thừa Thiên Huế này “Làm thơ từ lâu, dường như chỉ thích rong chơi hơn là va chạm với thực tế cuộc đời. Gần đây, người bỗng trở nên…hiện tượng. Qua mạn đàm với bằng hữu trên liên mạng, tôi gọi Đức Phổ là thi sĩ “hot” nhất hiện nay”. Hoàng Xuân Sơn nhận xét rằng “Đức Phổ nắm bắt được và sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ thơ. Sở trường của anh là thơ lục bát …xuống dòng. Vâng, một thể loại sáu tám ngắt đoạn, chia ý có dụng công tạo nên một nhịp điệu mới, khác hẳn với lục bát nguyên thủy”. Hãy thưởng thức vài đoạn:

đêm
buồn, lẻ
chiếu
đơn chăn
không em
tội, một chỗ nằm…
rộng rinh

Hay:

khi không
ở đậu quê người
giữa
cơn ấm lạnh
kéo trời che nhau.
nụ môi chia
phần xót đau
quê nhà đứt ruột
mùa ngâu
muộn màng


Thật đã!


Nhà văn Vĩnh Hảo nhận xét: “Ở bất kỳ thể thơ nào, từ lục bát, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn, thơ mới, thơ tự do, thơ cách tân... ông cũng hay cả. Ông như một "chiến sĩ thơ" tinh nhuệ, sử dụng vũ khí nào cũng thấy vừa tay, thoải mái. Tùy theo hứng cảm mà chọn lấy thể loại cho mình. Đúng hơn, cảm hứng đã tự chọn lấy thể loại, bút pháp cho một người điêu luyện như ông, kết tinh những bài thơ rất "thần".

Đúng như vậy, Đức Phổ tuy thuộc giới “già”, nhưng anh làm thơ theo tinh thần “trẻ”, nghĩa là tự do, phóng túng. Gì anh cũng có thể đưa vào thơ. Là thơ. Kiểu nào cũng có thể là thơ. Không nề hà tân, cổ. Không sợ vần điệu. Không lo lạc hậu. Cũng chẳng ngán cách tân. Anh chọn lựa hình thức thơ phù hợp với nội dung. Để diễn tả một xúc động, thơ anh nhuốm vẻ “cổ điển”:


Sớm mai thân sóng ôm triền đá
Mây trời u tịch chẳng buồn trôi
Nhớ nhau. Môi thẹn lời yêu dấu
Hồn xanh rêu mưa mọc kín trời
…có phải khóc không mà mắt ướt
khi đời ráo hoảnh bóng trăng soi
sầu chở đầy khoang, sầu dựng ngược
ngỡ ngàng, bờm giục ngựa về xuôi



Nhiều cảm giác và hình ảnh bình thường (có thể đã trở thành ước lệ) được làm mới lại bằng nét diễn tả lạ, qua một hình thức cũ: thân sóng ôm triền đá, mưa mọc kín trời, ráo hoảnh bóng trăng, sầu dựng ngược.

Khi nói về cái vô nghĩa của hiện sinh, một ngày như mọi ngày, anh đẩy thơ đi xa hơn, tiếp cận với văn xuôi, trong lúc ngôn ngữ trở nên cụ thể hơn và pha chút trào lộng bất ngờ:


có nhiều nhện, nhện vợ nhện chồng
nhện trai nhện gái yêu nhau và
sinh sản rất nhanh…tổ nhện chiếm
hết chỗ tôi nằm, chỉ còn một
chỗ ngồi đọc thơ bằng hữu, nếu…



Không còn chỗ nằm, nên Đức Phổ đến Boston. Đừng lo, ở đây còn rất nhiều chỗ cho anh …làm thơ và đọc thơ.
Boston xin chào Đức Phổ!

Thu Thuyền là khách văn thứ hai.
Cũng như Đức Phổ, tên tuổi cô chưa quen thuộc với Boston, nhưng từ lâu, đã là một trong những nhà văn nữ thành danh ở hải ngoại. Tên thật là Hoàng Lưu Thu Thuyền, cô nhà văn “Bắc kỳ nho nhỏ” này là con gái của nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng thời VNCH: Hoàng Anh Tuấn. Tuổi đời cô không còn trẻ, nhưng so với thế hệ của Lâm Chương, Trần Doãn Nho hay Phan Xuân Sinh, cô thuộc lứa những “khuôn mặt trẻ” trên văn đàn hải ngoại. Là dân trường Tây (học sinh Lycée Yersin, Couvent des Oiseaux), cô sang Hoa Kỳ khá sớm, 1981. Sau khi ổn định cuộc sống, cô bắt đầu viết từ năm 1998, cộng tác với tạp chí Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Chủ Đề, Phố Văn, Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, Ca Dao, Viet Nam Weekly News, Viet Mercury. “NHỮNG NHÁNH SÔNG MẤT BIỂN” là tác phẩm thứ hai của Thu Thuyền sau tác phẩm đầu in chung với 14 tác giả khác như Nguyễn Thị Thảo An, Hoàng Chính, Kinh Dương Vương, Nguyễn Trung Hối, vân vân. “Những nhánh sông mất biển” gồm 24 truyện ngắn. Có thể gọi đó là 24 mẩu chuyện đời - diễn ra ở Hoa Kỳ có, ở Việt Nam có - được cô kể lại với một giọng văn ngắn, gọn, trực tiếp, trong sáng, nhẹ nhàng, ẩn chứa một chút tếu đáng yêu. “Yifat chưa chồng, tuổi độ 26. Thân hình cô cao dong dỏng, mái tóc đen bóng óng ả phủ tấm lưng ong. Yifat có khuôn mặt thanh với hàng mi rậm, mắt đen thăm thẳm và chiếc mũi hơi quá khổ. Đặc biệt hôm nào Yifat mặc áo thun vừa ngắn vừa bó, bộ ngực cô vun lên ngồn ngộn, hai cái núm vú be bé cũng không vừa gì. Chúng nổi hẳn trên nền vải thun, cho mọi người biết sự hiện diện của mình. Còn cái rốn xinh nhất định không chịu lép vế, cứ ngập ngừng nửa kín nửa hở, trêu ngươi cả những người không tà ý” (Bức tranh vĩnh cửu). Đấy, văn Thu Thuyền: hóm hỉnh, có duyên. Những đoạn văn đại loại như vậy rất nhiều trong tập truyện.

Đó là những chuyện tản mạn, vụn vặt đâu đó trong đời cô, những chuyện lỉnh kỉnh trong gia đình cũng như trong đời học trò, những chuyện mà ai cũng có thể tìm thấy một phần mình trong đó: nỗi hồi hộp, phấn khích của người mẹ chờ đợi đứa con đầu lòng của mình ra đời, một bữa ăn gia đình sau khi mẹ mất, hai vợ chồng giận nhau vì một chuyên vu vơ, một ông chú Việt Cộng tập kết trở về với nhiều điều cảm động pha thêm chút trái khoáy khôi hài, chuyến về quê hương tìm thăm người tình cũ cuối cùng gặp một chuyện bất ngờ, một Việt kiều về Sài Gòn vào quán đèn mờ thấy cô gái bán “ba” đẹp bèn nổi máu dê, muốn làm ẩu bỗng khám phá ra cô ta là …đàn ông. Một số truyện chẳng khác gì đoản văn. Đặc biệt, cô viết lại chuyện Lưu Bình-Dương Lễ với một một bố cục khác, thực tế, hữu lý và …buồn cười hơn.
Tôi thú vị với cách viết đoạn kết của cô trong nhiều truyện.
“Tình mẫu từ kỳ nhiệm tự nhiên ửng màu lấp lánh trong máu, dồn dập chảy về tim. Cô chợt thấy biết ơn. Biết ơn quá đỗi!” (Con đầu lòng).

Ở một truyện khác:


Anh bung người tới chộp lấy bàn tay với những chiếc móng còn ướt sơn hồng của chị, kéo tuồn tuột vào bếp. Tay trái anh đè nghiến cổ tay chị lên thớt, tay phải anh cầm con dao phay ghì lên những ngón tay trắng xanh của chị. Anh muốn nhìn thấy cảnh chị rúm nhũn ra vì sợ nhưng anh chỉ thấy ánh mắt khinh khi của chị. Có lẽ chị đoán được anh đang kiếm chuyện để rửa cái nhục ban chiều”.
Sau đó, anh chồng phản ứng làm sao, quý vị có biết không? Thu Thuyền viết đoạn kết:
“Anh điên tiết lên ‘Coi rẻ tau nè…’

Phập!”
(Giận)

Khiếp! Gọn và nhanh đến thế thì thôi! Y như chặt thịt.

Ở một truyện khác nữa:

Cái chết của cụ chẳng khác một phép lạ! Lần đầu tiên sau 25 năm dài, tất cả con cái tám người, mau mắn tụ về dưới một mái nhà. Anh Cả Vị hấp tấp bỏ mặc phòng mạch đương đông khách, cùng các hội đoàn bề bộn công việc của anh. Anh Quan hôn vội cô vợ mới cưới được vài năm, bước vào máy bay một mình. Chị Trâm dẹp nỗi giận mẹ đeo đẳng trong lòng, hối hả cùng chồng lái xe xuyên đường hầm từ Anh vào Pháp. Những đứa con tứ phương, không ai bảo ai, nhập lại như những nhánh sông cuồn cuộn nước lũ tìm về đại dương, chỉ để ngỡ ngàng đau xót trước một vùng biển cằn khô trơ đáy. Đưa mẹ ra nghĩa trang xong, buổi tối hôm ấy, bên bàn ăn, tám anh chị em cùng ngồi ngơ ngẩn không ai nói với ai câu nào (…) Chị Trâm ôm nhẹ vai em, giọng chị nghẹn ngào “Phải chi có mẹ ngày hôm nay, em nhỉ? Cả nhà về đông đủ thì lại thiếu bóng mẹ…” (Những nhánh sông mất biển).

Thật ngậm ngùi! Chúng ta dường như ai cũng đợi đến khi mẹ chết mới biết …thế nào là tình thương của mẹ. Tôi đã trích đoạn văn trên vào trong một bài viết về mẹ tôi nhân lễ Vu Lan, bốn năm trước, sau khi đọc truyện này in trên tờ Văn Học. Còn nhớ, tôi đã rưng rưng khi đọc cái truyện ngắn giản dị và thấm thía này. Nó nhắc đến trường hợp của tôi: mẹ tôi mất ở Việt Nam mà tôi, tự viện đủ lý do, để tìm cách không về. Rồi lại tiếc! Thực chẳng ra gì.
Đọc một số nhà văn khác (kể cả đọc tôi), tôi thấy dường như mình bị lấy mất một cái gì. Riêng đọc Thu Thuyền, tôi lại thấy mình được thêm một cái gì đó. Có thể là một chút vui hay một chút bâng khuâng hay một chút cười hay một chút tình hay một chút giận hay một chút tiếc rồi một chút tếu, một chút vân vân. Và có thể cả một chút…buồn. Để dùng, khi cần.
Cám ơn Thu Thuyền!

......


Trần Doãn Nho



Nước Mắt

N


 

Ông là người bị chứng nghiện chợ trời rất nặng! Sáng tù mù, ông đã khoác áo giạ, xỏ ủng, đội mũ, xách giỏ đi gần nửa cây số để tay bắt mặt mừng với những người bán hàng trong sạp chợ. Thú vui của ông giản dị thế đó. Ông thích kỳ kèo trả giá nhưng lượt nào, ông cũng tốn bộn tiền mà chỉ tha về có khi là một túi lê chín ủng, đôi lúc cả sọt đào nhũn như con chi chi. Con cháu than phiền ầm lên là ông bị "bạn" bóc lột, bán cho của ôi của thối. Ông chỉ cười xòa: "Tao thích ăn trái cây chín ngọt, mềm thơm! Tám mươi tám tuổi rồi, đụng phải của chua, có mà rụng răng...". Nói xong câu khôi hài ý nhị, ông đắc chí nháy mắt với bà. Bà chỉ nguýt dài!

Thú chợ trời của ông rồi cũng bị bỏ ngang sau hôm bà bị ngã gãy tay. Họ bó bột tay bà. Hình như họ còn vặn đinh vít vào xương của bà nữa. Bà rức thốn tới óc. Suốt cuộc đời, chưa bao giờ bà biết kêu đau. Ngay cả mười ba lần sanh nở! Thế mà lần này, bà rên ra nước mắt. Bác sĩ sợ sức khoẻ của bà kém, không chịu tăng thêm lượng thuốc giảm đau. Bà điên tiết chửi xới cả mồ mả tổ tiên thằng bác sĩ vô lương tâm. Ông phải vội vàng đưa bà về ngay và hứa sẽ tiêm thuốc cho bà. Lúc ấy bà mới chịu im (Chả là ngày xưa ông cũng ở trong ngành y khoa nên còn dự trữ lỉnh kỉnh đủ loại thuốc). Bước vào nhà là ông đi ra tủ thuốc, lục lọi một hồi. Có lọ moọc phin, ông lóng cóng tiêm cho bà một mũi. Con cháu lại cười cợt với nhau rằng: "Cụ ông chích thì cụ bà tha hồ mà sướng!". Bà nghe được định mắng chúng nó một câu ra trò nhưng người mệt lả. Chỉ nằm yên rên rẩm khe khẽ.

Độ tháng sau thì tinh thần bà suy sụp thấy rõ. Cái chính là bà ít hoạt động. Đi đứng đã có ông đỡ. Ăn uống đã có con cháu đút tận miệng... Rồi sau cái tay gãy, bà sanh thêm đau thận vì ngại đi tiểu nên không chịu uống nước. Con cháu ép bà mỗi ngày phải dùng một lít trà loãng thếch và bớt ăn mặn. Làm thế thì giết tao đi còn hơn, tao chán sống kiểu này lắm rồi! Bà uất ức than vào quãng không. Ông chỉ biết quanh quẩn bên bà, khi đưa cái khăn cho bà lau mặt, lúc cài cái khuy sút trên áo bà.

Một sáng sớm đầu mùa Xuân, trời còn tối như giữa khuya, bà kêu ông dậy: "Tôi yếu lắm rồi, nhà ôm tôi rồi để tôi đi!". Ông nhẹ nâng đầu bà lên, áp vào ngực mình, cánh tay trái ôm tấm lưng gày gò của bà, tay phải siết chặt tay bà. Hơi thở bà nhẹ như tơ rồi ngưng hẳn. Ông cứ ngồi ôm bà cho tới khi trời sáng bạch. Lúc ông gọi điện thoại báo tin dữ cho con cháu, ông bình tĩnh đến độ mọi ngườI phải rùng mình kinh ngạc. Ông loáng thoáng nghe các con kháo nhau, sợ quá, cụ ông không nhỏ đến một giọt nước mắt! Nhưng ông chỉ cười buồn. Đau đớn thì đau đớn lắm, ăn cơm nuốt không trôi nhưng nước mắt chỉ nên để rơi trong lòng!

Hôm đám tang, trước khi đóng nắp áo quan, ông ra nhìn bà lần cuối. Thấy bà đầu trần, ông giật mình bảo con gái cấp tốc về nhà lấy khăn choàng cho bà, mẹ sợ lạnh, để như vậy mẹ chúng mày không thích đâu! Lúc đến nghĩa trang, ông hài lòng với phong cảnh quanh chỗ bà nằm lắm: Bóng cây mát mẻ, chim chóc ca hót vang lừng trên cao... Chắc chắn nhà sẽ không thấy buồn bã cô đơn, ông bảo bà thế.

Chôn cất bà xong, ông mệt mỏi đến tận tủy. Cái thú đi chợ trời không còn nữa. Ông loanh quanh trong nhà một hồi rồi bức quá, ra ngoài hóng gió. Khu vườn bây giờ đầy sên. Trước đó bà hay nhặt nhạnh lũ sên vẫn ưa chiếu cố vồng rau của bà. Sau này sợ ngã, bà đành để chúng làm giặc trên lãnh thổ của mình. Ông không đành lòng nhìn sên tàn phá công trình của bà, lom khom cúi xuống bóp chết từng con sên đang trải nhớt bạc trên những cọng cải xanh rờn. Đến cuối luống rau, ông đụng phải bụi hoa hồng. Ông ngừng tay ngắm nghía đứa con cưng của bà. Ủa sao thân cành hồng lại có lốm đốm những vết màu nhờn nhợt, cách khoảng nhau thật đều đặn thế này? Rồi chợt nghĩ ra, ông à lên một tiếng. Bà ghét gai hồng, đã tẩn mẩn bẻ sạch không còn cọng nào! Một cơn nhớ thương quặn lòng từ đâu chợt kéo đến, bổ chụp lấy tâm hồn ông. Ông phải bỏ thửa vườn, đi vào nhà. Nước mắt cho bà, ông vẫn khư khư giữ lại trong lòng!

Cứ ở nhà một mình mà nhìn lũ sên và những cành hồng sứt sẹo, không gai mãi điên mất, ông quyết định mua vé máy bay thăm con cái. Trạm chót của chuyến đi là gia đình đứa con trai Út. Vừa gặp con dâu, ông moi túi ra đưa cho cô một đồng tiền vàng chóe, một trong những đồng vàng ông ki cóp nâng niu từ bao năm nay. Ông cẩn thận dặn dò:

- Đây là quà của mẹ cái Hĩm. Vàng hăm bốn đấy, đừng đánh mất!

- Sao bố không giữ mà lại phát cho cả làng thế này? Dâu ông hỏi đùa.

- Bây giờ bố giữ để làm gì?

Đứa con dâu không giả nhời, lủi thủi vào bếp hấp bầy tôm hùm vừa đem từ Boston về. Trong lúc con dâu và cháu nội vật lộn với mấy con tôm chân càng loe ngoe, ông bắt được một tờ tạp chí văn học. Thoáng nhìn cái bìa có in tên các tác giả, ông ngạc nhiên:

- A, mẹ cái Hĩm cũng viết văn đấy à?

Cô con dâu tủm tỉm cười, tiếp tục nhấn con tôm hùm quều quào đôi càng, đòi leo ra khỏi nồi hấp đương sôi sùng sục. Ông tò mò mở truyện ra đọc. Xong đoạn đầu, ông buột miệng khen, con dâu tả mẹ chồng khá lắm. Đến khúc mẹ cái Hĩm thuật lại cảnh đại gia đình xum họp sau khi người mẹ qua đời, ông vô tình lẩm nhẩm đọc thành tiếng: "... buổi tối hôm ấy, bên bàn ăn, tám anh chị em cùng ngồi ngơ ngẩn không ai nói với ai câu nào. Cô út im lặng dọn cơm. Cô để ý tóc anh Vị dạo này bạc gần hết, đầu ai cũng thoang thoáng vài sợi trắng. Tất cả đã mất hẳn cái thói quen đùa nghịch ồn ào trong bữa cơm như thuở xưa. Trong một khoảng khắc bất ngờ, cô chợt thấy mẹ đang ngồi hớn hở giữa đàn con. Cô không khóc nhưng nước mắt tự nhiên rơi! Chị Trâm ôm nhẹ vai em, giọng chị nghẹn ngào: 'Phải chi có mẹ ngày hôm nay, em nhỉ? Cả nhà về đông đủ thì lại thiếu bóng mẹ...' ":.

Một giọt nước mắt, hai giọt nước mắt, rồI nhiều giọt khác liên tiếp rơi trên những giòng chữ nhạt nhòa. Nước mắt ông chẳng khác nước lũ vượt tràn qua đê, kéo sập bức tường lòng kiên cố. Ông cảm thấy nhẹ người quá đỗi!

Vừa lúc ấy, cô con dâu đã làm bếp xong. Cô ra mời ông dùng bữa. Nước mắt còn nhoè nhoẹt, ông quay qua nhìn cô, giọng ông khàn đục:

- Mẹ cái Hĩm viết cảm động lắm!

Lần này, khuôn mặt của người đàn bà rạng rỡ hẳn:

- Cám ơn bố...

Hình như nước mắt của ông là một lời khen ý nghĩa hơn tất cả những lời khen tặng nồng nhiệt nhất? Ông thấy mắt dâu ông cũng rươm rướm lệ!

 

Thu-thuyền

Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội. Thơ Hoàng Anh Tuấn. Nhạc Phạm Đình Chương







Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20187:42 SA(Xem: 22)
Ông sinh ở Hải Phòng năm 1937, tên khai sinh là Phạm Văn Rao…Di cư vào Nam
19 Tháng Năm 20186:18 CH(Xem: 109)
Trên diễn đàn họ gọi Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ (Tổng biên tập TC Sông Hương) là ‘bọn tay sai của địch…”
15 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 140)
Tháng Năm, 1969, tuần báo Khởi Hành, cơ quan ngôn luận của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội, số 1
09 Tháng Năm 20187:20 SA(Xem: 237)
Tên thật: Huỳnh Văn Hiến. Nơi sinh: Đà Nẵng. Năm sinh: 1942. Năm mất: 1995
05 Tháng Năm 20189:32 SA(Xem: 343)
bìa Uyên Nguyên. kỹ thuật typesetting Trần Yên Hòa. nhà xuất bản Bạn Văn Nghệ. phần phục lục: thơ Luân Hoán giới thiệu TYH