DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,708,847

Nhạc Sĩ Lê Hoàng Long và Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Khánh - Đoàn Dự

25 Tháng Chín 201212:00 SA(Xem: 15668)
Nhạc Sĩ Lê Hoàng Long và Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Khánh - Đoàn Dự
Nhạc Sĩ Lê Hoàng Long và Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Khánh

blank

Nhạc sĩ Lê Hoàng Long với “Gợi giấc mơ xưa”


Lê Hoàng Long sinh năm 1930 tại Sơn Tây. Ông đã từng học violon với nhạc sĩ Lã Hữu Quỳnh rồi với nhạc sĩ Lương Ngọc Châu, và học nghệ thuật hòa âm với Giáo sư Tạ Phước. Từ năm 1950, Lê Hoàng Long học tại Trường Âm nhạc Việt Bắc ở Tuyên Quang do nhạc sĩ Văn Cao làm hiệu trưởng, nhạc sĩ Tô Vũ làm giáo sư hòa âm, sau đó ông trở về Hà Nội, chơi nhạc tại các vũ trường.

Năm 1954, Lê Hoàng Long di cư vào Sài Gòn rồi chuyển ra Huế. Ở Huế được hai năm, ông lại quay vào tiếp tục sống tại Sài Gòn.
Nhạc phẩm Gợi giấc mơ xưa được ông viết tại Sài Gòn năm 1955, khi người yêu của ông đi lấy chồng. Gia đình cô gái không đồng ý với tình yêu của hai người vì ông chỉ là một nhạc sĩ violon.


Lời BảnNhạc Gợi Giấc Mơ Xưa


Ngày mai lênh đênh trên sông Hương
Theo gió mơ hồ hồn về đâu?
Sóng sầu dâng theo bao năm tháng
Ngóng về đường lối cũ tìm em!

Thương em thì thương rất nhiều, mà duyên kiếp lỡ làng rồi
Xa em! lòng anh muốn nói bao lời, gió buông lả lơi
Hình bóng đã quá xa mờ dần theo thời gian
Kiếp sau xin chắp lời thề cùng sóng bước lang thang.

Em ơi! tình duyên lỡ làng rồi còn đâu nữa mà chờ
Anh đi lòng vương vấn lời thề nhớ kiếp sau chờ nhau
Tha hương lòng luôn nhớ ngày nào cùng tắm nắng vườn đào
Gió xuân sang anh buồn vì vắng bóng người yêu.

Thương anh thì thương rất nhiều, mà ván đã đóng thuyền rồi
Đa đoan trời xanh cắt cánh vịnh cảnh khiến chim lìa đôi
Chiều xuống mưa gió tiêu điều reo trên giòng Hương
Tháng năm chưa xóa niềm sầu vì dứt khúc tơ vương.

Anh ơi, đời đã lỡ hẹn thề thì đâu có ngày về
Xa anh đời em tắt nụ cười héo hắt đôi làn môi
Đêm đêm đèn le lói một mình ngồi ôm giấc mộng tình
Kiếp sau đôi tim hòa chào đón ánh bình minh.


Gợi giấc mơ xưa trở thành một nhạc phẩm rất nổi tiếng, được nhiều thế hệ ca sĩ trình bày. Lê Hoàng Long cũng là người có nhiều bài viết về tiểu sử các nhạc sĩ Việt Nam. Sau đây là cuộc phỏng vấn của phóng viên một tờ báo tại Sài Gòn với vị nhạc sĩ nay đã ngoại bát tuần (82 tuổi) nhưng vẫn còn khỏe mạnh đó.

PV: Thưa nhạc sĩ, “Gợi giấc mơ xưa” là một bản nhạc có âm hưởng... thất tình. Nhạc sĩ có thể hé mở đôi chút về mối tình này không?
LHL: Tôi bây giờ đã già, con cái đã trưởng thành rồi, còn người ấy cũng đã cùng con cái cháu chắt ở tận phương trời. Thành thử tôi chẳng ngại gì mà giấu giếm. Khi còn ở Sài Gòn năm 1954, tôi có quen và yêu một người con gái tên là Lê Thu Hiền. Tình yêu đang đẹp thì bỗng có người đến xin cưới nàng. Ngay lập tức, nàng dẫn tôi đến gặp bố mình. Gặp ông, tôi chính thức xin được làm rể, nhưng ông bảo: “Để hỏi ý kiến xem em nó thế nào đã”. Không ngờ khi tôi ra về, ông quát mắng con gái: “Nếu bằng lòng lấy anh giám đốc trường dạy lái xe Ecole Mayer thì còn bố mẹ, gia đình. Còn nếu lấy anh chàng chỉ biết chơi violon tối ngày thì không có cha con, dòng họ gì hết”. Và thế là thủ tục cưới hỏi tuần tự diễn ra. Hôm đó là một ngày Chủ nhật cận tết Ất Mùi năm 1955, tôi đau đớn chứng kiến người yêu lên xe hoa. Ngồi chờ đoàn xe đưa cô dâu về nhà chồng trong một quán cà phê ở đường Hiền Vương (nay là đường Võ Thị Sáu), tôi thấy nàng ôm bó hoa màu trắng trong lễ phục cô dâu, cùng chú rể bước lên xe hoa. Đoàn xe ngang qua chỗ tôi ngồi, bánh xe lăn trên đường như nghiến nát tâm hồn tôi. Ngay lúc đó, tâm trí tôi đã hiện lên ý nhạc. Khi đoàn xe đi khuất, tôi trở về căn gác nhỏ ở đường Lý Thái Tổ và hoàn tất bản Gợi giấc mơ xưa, cả phần nhạc lẫn phần lời chưa đầy 10 phút.

PV: Câu chuyện xảy ra ở Sài Gòn, tại sao bài hát lại bắt đầu bằng câu “Ngày mai lênh đênh trên sông Hương...”?
LHL: Đang làm ở Sài Gòn nhưng tôi quyết định xin ra Huế, xa những con đường, góc phố để tìm quên. Tuy vậy, sau hai năm sống với sông Hương, núi Ngự, tôi vẫn không sao quên được hình bóng cũ. Giã từ Huế trở lại Sài Gòn, chiều chiều tôi lại lang thang trên lối cũ như một kẻ bị tâm thần giữa Sài Gòn hoa lệ.

PV: Rồi nhạc sĩ có gặp lại cố nhân không?
LHL: Có, nhưng chỉ vô tình gặp giữa đường phố. Hai người chỉ trao đổi ít lời ngắn ngủi về cuộc sống rồi chia tay. Biết nàng đã tay bế tay bồng nên tôi không muốn gặp thêm lần nào nữa để khỏi khuấy động hạnh phúc của nàng. Tôi lập gia đình sau đó và có 6 người con. Vợ tôi mất đột ngột vào năm 1975. Đến năm 1981, tôi tục huyền và có thêm một con gái. Chỉ có cô con út này là có máu văn nghệ như bố, cháu hát khá hay và đã đoạt giải nhất cuộc thi hát với organ năm 1999.

PV: Thưa, hình như nhạc sĩ là bạn thân với nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, tác giả bản nhạc “Nỗi lòng” rất nhiều người biết, hiện nay nhiều ca sĩ cỡ lớn vẫn còn trình bày và được ưa chuộng. Nhạc sĩ có thể cho biết đôi điều về nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh?
LHL: Thật ra, Nguyễn Văn Khánh không phải chỉ có một bản Nỗi lòng mà còn vài bản khác, ví dụ bản Chiều vàng chẳng hạn, rất nổi tiếng trong khoảng những năm 1950, tài tử Ngọc Bảo hay trình diễn trên Đài Pháp-Á. Vâng, để tôi xin kể một số kỷ niệm đối với Nguyễn Văn Khánh giúp mọi người hiểu rõ về tác giả này.

Sau đây là lời kể của nhạc sĩ Lê Hoàng Long.


blank














Nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh và bản “Nỗi lòng”


Năm 1952, khi tôi cộng tác viết loạt bài phê bình âm nhạc trên nhật báo Giang Sơn, chủ nhiệm là bác sĩ Hoàng Cơ Bình—ở phố Hàng Trống Hà Nội. Tôi chơi thân với một nhạc sĩ rất nổi tiếng lúc bấy giờ là nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, tác giả các bản nhạc được nhiều người ưa thích: Chiều vàng, Nỗi lòng v.v...
Lúc ấy, Nguyễn Văn Khánh là công chức Sở Tài Chính thành phố Hà Nội. Con người Nguyễn Văn Khánh ai gặp cũng thấy mang tính chất nghệ sĩ, từ mái tóc, cách ăn nói cho tới dáng dấp thanh tao. Nguyễn Văn Khánh ít nói, nhưng khi đã nói thì thật dí dỏm, có duyên. Nhà Khánh ở trong ngõ, phố Khâm Thiên, phố toàn nhà hát cô đầu, tuy ở trong ngõ nhưng đất rất rộng. Khu ăn chơi này, trong một bài thơ mô tả cảnh chết đói 2 triệu dân năm Ất Dậu 1945, nhạc sĩ Văn Cao gọi là phường Dạ Lạc (bài thơ Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc), đã làm xúc động nhiều người.
Trong khuôn viên nhà Nguyễn Văn Khánh có cả một chiếc ao nuôi cá. Bởi vậy vào các ngày chủ nhật, Nguyễn Văn Khánh thường có cái thú ngồi uống rượu, câu cá. Nguyễn Văn Khánh có lối uống rượu khá lạ. Uống bao nhiêu cũng không say, càng uống lại càng tỉnh táo. Như vậy, cách uống rượu của Khánh có thể gọi là tiên tửu, không giống như loại “tục tửu”—rượu vào lời ra, ăn nói lỗ mãng, nhiều khi dẫn đến gây gổ, đánh lộn.
Hằng tuần, cứ vào các tối thứ năm, Khánh thường hay đến vũ trường chơi với tôi. Tôi là trưởng ban nhạc trong đó. Còn tôi thì cứ khoảng 10 giờ sáng chủ nhật là xuống uống rượu, câu cá và hàn huyên tâm sự với Khánh.
Có một lần, tôi đến thăm Khánh vào một buổi sáng chủ nhật, gần Tết, mùa đông trời rét như cắt ruột. Khánh đang đứng phụ giúp vợ chiên một con cá chép rất lớn trên bếp. Ở ngoài Bắc, thời ấy có cá chép chiên là rất quý. Thấy tôi đến, Khánh dừng tay, kéo tôi lên nhà trên, quạt lửa ở cái lò cho cháy lớn, bảo tôi hơ tay sưởi cho đỡ lạnh. Hôm ấy trời rét mà lại mưa phùn lất phất nên chúng tôi không ra ngoài ao câu cá mà ngồi chuyện trò với nhau trong nhà.
Một lúc sau, Khánh vào bên trong ôm ra một chiếc hũ sành khá lớn, đặt lên trên chiếc lò rồi cười và nói:
- Lòng mình lúc nào cũng lạnh. Mùa đông mưa phùn gió bấc lại càng lạnh hơn. Nên bữa nay tụi mình phải đổ “nước sôi” (rượu hâm nóng) vào cho ấm. Cậu phải uống thật nhiều, say thì nằm đắp chăn mà ngủ đến chiều. Tối tôi đưa cậu đi làm ở trên tiệm nhảy.
Khánh vừa dứt lời thì bà xã Khánh bưng mâm lên, đặt vào bộ ván ngựa rồi mời tôi và Khánh ngồi vào đối ẩm. Vậy là hai chúng tôi ngồi trên bộ ngựa, vừa uống vừa tán dóc đủ thứ chuyện trên trời dưới biển, từ sáng đến chiều.
Được vài hôm, tôi được ban tổ chức Hội Chợ Mừng Xuân Quý Tỵ (1953), tổ chức tại bờ hồ Hoàn Kiếm, nhờ lo giùm một cuộc thi hát. Tôi nhận lời và trước hết là thành lập ban giám khảo. Người đầu tiên tôi mời là nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh, sau đó tới nhạc sĩ Hoàng Trọng và nhạc sĩ Hùng Lân, ba người tất cả.
Trong số thí sinh tham dự cuộc thi hôm ấy, cho đến bây giờ đã bao nhiêu năm qua rồi, tôi vẫn còn nhớ một trong những thí sinh được giải thưởng, đó là anh Khuất Duy Trác. Sau này anh trở thành ca sĩ Duy Trác rất nổi tiếng vào khoảng những năm 1960-1970, đồng thời còn là luật sư Khuất Duy Trác tại Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn.

Dù rất thân với Nguyễn Văn Khánh nhưng tôi chưa lần nào có dịp thuận tiện để “móc” anh bộc lộ tình cảm của mình, là tại sao anh lại có những mối tơ vàng óng ả để dệt nên những ca khúc Chiều vàng và Nỗi lòng bất hủ?
Thế rồi, cho đến một buổi chiều thứ bảy, vào dịp lễ Các Thánh (ngày 01 tháng 11 hằng năm), đột nhiên anh đến chơi, rủ tôi đi lễ nhà thờ mặc dầu cả hai đứa chúng tôi đều không có đạo.
Trước lễ Các Thánh kỳ ấy hai ngày, lúc đó tôi còn độc thân, tôi đã cùng người yêu có đạo của tôi đi lễ tại nhà thờ Hàm Long. Nhân buổi lễ đó, tôi viết được bài Cầu Xin Đức Mẹ, bèn lấy ra hát cho Nguyễn Văn Khánh nghe.
Anh lắng nghe xong, tủm tỉm cười, nheo mắt:
- Đi lễ với người đẹp, mắt cậu sáng lên như đèn ô tô nên mới nhìn thấy Đức Mẹ mà làm ra bản này hả? Được đấy, nghe có âm hưởng nhạc đạo lắm, được lắm!
Sau này, sau ngày đất nước chia đôi, mỗi lần vào dịp mừng Lễ Giáng sinh, Đài Phát thanh Sài Gòn trình bày bản đó tôi lại nhớ tới lời phê bình của Nguyễn Văn Khánh.
Chúng tôi lững thững đến Nhà thờ Hàm Long. Sau buổi lễ, hai đứa tôi băng qua đường, vào quán cà phê Bằng. Trong khi đang nhâm nhi ly cà phê nóng hổi, từ cặp loa khuếch âm trên tường phát ra ca khúc Nỗi lòng: “Yêu ai, yêu cả một đời... Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta đau tủi cả lòng... Vì yêu ai mà lòng thầm nhớ...”, khiến cho tất cả các khách trong quán đều im lặng thưởng thức.
Khi giọng ca chấm dứt, tôi mở lời:
- Cuộc tình tha thiết nào đã làm cho cậu có được bản Nỗi lòng và bản Chiều vàng buồn tê tái đến thế?
Khánh im lặng một lát với nét mặt đượm buồn, đưa hồn trôi về quá khứ rồi nho nhỏ tâm sự với tôi.
Khánh là con người đa sầu đa cảm, biết yêu rất sớm. Mới bước vào năm thứ hai ban Thành chung (tương đương với lớp 7 hiện nay) Khánh đã để ý, thầm yêu trộm nhớ cô bé láng giềng. Cô này cũng còn cắp sách đến trường, con gái út của một ông thông phán làm trong Phủ Thống sứ Bắc Kỳ.
Những đêm trăng sáng, Nguyễn Văn Khánh ra đằng sau vườn nhà, mang cây đàn ghi-ta ra hát các bản nhạc tiếng Pháp Cest à Capri, Jai deux amours, Madelon v.v... chứ tân nhạc lúc ấy chỉ mới có được vài ba bản của các nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Văn Chung, Dzoãn Mẫn... nhưng chưa được phổ biến rộng rãi. Tiếng đàn quyện với tiếng hát trong đêm khuya thanh vắng vọng tới tai cô gái nhà bên. Về sau, cứ đúng giờ Nguyễn Văn Khánh lại ra vườn mà hát nghêu ngao. Có lẽ hai bên đều “tình trong như đã” nên cứ sau buổi học, chiều về đến nhà là cả hai cùng ra vườn sau, cách nhau mấy cụm mía thưa, để nhìn thấy nhau. Muốn làm hiệu, Nguyễn Văn Khánh cứ ra tới vườn là cất tiếng hát lớn. Một lát sau, nhìn sang vườn bên kia, chàng thấy bóng dáng mỹ nhân cũng ra, giả vờ làm việc gì đó nhưng bốn mắt thường “vô tình” gặp nhau.
Một buổi chiều ra vườn, Nguyễn Văn Khánh hái trên cây một quả cà chua chưa chín rồi vứt nhẹ qua hàng rào. Vứt xong, Khánh lên tiếng nhờ người đẹp nhặt giùm vì chàng với tay không tới. Cô bé cũng ranh mãnh, nhặt xong lúc đưa cho chàng bèn nói bâng quơ:
- Quả còn xanh thế này sao tự nhiên lại rụng được?
Khánh cũng láu lỉnh hỏi lại:
- Phải là quả chín mới rụng hở cô? Cám ơn cô nhiều lắm.
Lúc ấy bốn mắt liếc nhẹ nhìn nhau như thầm trao gởi tình cảm.
Đêm hôm ấy, Nguyễn Văn Khánh thao thức không sao chợp mắt được. Nằm trong giường chàng chỉ mong cho chóng sáng. Nhưng ở đời, càng mong thời gian lại càng trôi qua rất chậm. Chàng nằm chán lại ngồi dậy, ngồi chán lại nằm xuống, giờ giấc cứ ỳ ạch gần như ngừng trôi.
Thế rồi chuông chiếc đồng hồ quả lắc treo trên tường ngân nga đổ 4 tiếng. Chàng ngồi dậy, bước xuống đất, vặn to cây đèn dầu trên bàn cho sáng rồi ngồi vào bàn, lấy giấy bút ra định viết bức thư. Viết rồi lại xé. Xé rồi lại viết. Chàng không biết viết cái gì nên mơ ước mình có tài, làm được một bản nhạc thật hay hát cho người con gái đó nghe và nàng sẽ cảm động, phục tài chàng sát đất...
Chuông đồng hồ điểm 5 tiếng. Thư chẳng có mà nhạc cũng không, bất đắc dĩ Khánh phải ra vườn sau để cầu may xem có được gặp “người đẹp” hay không...
Bất ngờ, không hiểu vô tình hay hữu ý, “người đẹp” cũng dậy sớm, đang múc nước giếng để chuẩn bị đánh răng rửa mặt. Nguyễn Văn Khánh lách đám mía thưa, bước sang, hỏi trước:
- Cô lấy nước sớm nhỉ?
- Vâng ạ, em vẫn có thói quen dậy sớm.
Chàng nhìn chiếc thùng kéo nước sóng sánh ánh trăng rồi lại nhìn lên trời và nói:
- Giờ này mà hãy còn trăng. Cô có thấy cô múc cả ánh trăng đổ vào trong chậu hay không?
Cô gái bật cười, khẽ nói:
- Tại anh có tâm hồn nghệ sĩ nên mới nhìn thấy em múc ánh trăng đổ vào trong chậu chứ em thì chỉ thấy em kéo nước dưới giếng lên thôi. - Và cô khẽ đọc nho nhỏ hai câu thơ của thi sĩ Bàng Bá Lân: “Hỡi cô tát nước bên đàng, sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”.
Nguyễn Văn Khánh nói:
- Cô thuộc thơ quá, lúc nào tôi phải làm một bài thơ tặng cô mới được.
- Không, em thích nghe anh hát cơ. Anh hát hay lắm, các bản Cest à Capri, J ai deux amours, Madelon...
- Cô thích nghe hát?
- Vâng...
Sau lần đối thoại đầy tình tứ ấy, Nguyễn Văn Khánh và cô gái nhà bên đã có những buổi hẹn hò bên hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Chùa Láng, Quảng Bá, Nghi Tàm—và có lần lên cả Bác Cổ để tâm tình.
Cuộc tình thơ mộng, trong sáng kia kéo dài tới hơn hai năm mà cả hai gia đình không hề ai biết chuyện. Cho tới khi Nguyễn Văn Khánh học năm thứ tư ban Thành chung, đi thi Diplôme, chàng nhớ rõ buổi sáng đầu tiên thi một bài luận viết tiếng Pháp (Rédaction Francaise), ai đủ điểm từ trung bình trở lên thì ngày thứ 3 mới thi Toán và các môn kế tiếp. Đó là thi Viết (Écrit). Nếu đậu thi viết mới được vào thi Vấn đáp (Oral). Mỗi kỳ thi Diplôme có 2 khóa, cách nhau gần 3 tháng. Khóa 1 (Première session) vào đầu tháng 6. Khóa 2 (Deuxième session) vào cuối tháng 8. Một thí sinh nếu đậu thi viết của khóa 1 nhưng thi rớt vấn đáp thì khóa 2 chỉ phải thi lại phần vấn đáp đó thôi. Nhưng nếu khóa 2 lại thi rớt vấn đáp nữa thì phải học lại (gọi là học “đúp” – doublé) năm sau sẽ thi lại hoàn toàn.
Kỳ thi Diplôme năm ấy, Nguyễn Văn Khánh mắc lo tình yêu nên thi rớt. Cô em nhà bên buồn lắm, nói với Khánh:
- Anh bị trượt khóa 1 rồi, ba tháng hè này phải đặt hết tâm trí vào việc học để đậu khóa 2 chứ nếu phải học lại năm nữa thì thêm khó ra. Em nhất định không gặp anh đâu, để anh chú tâm vào việc học!
Nguyễn Văn Khánh năn nỉ, hứa khóa 2 thế nào cũng đậu nhưng xin nàng cho gặp mỗi tuần một lần vào chiều chủ nhật. Mới đầu nàng không bằng lòng nhưng anh nói mãi nàng cũng đồng ý và giao hẹn: “Nếu khóa 2 anh mà không đỗ thì em chia tay luôn đấy. Em không chờ đợi được đâu!”
Quả nhiên khóa 2 năm ấy Nguyễn Văn Khánh đậu thật. “Người đẹp” mừng lắm nhưng đúng lúc ấy thì ông thông phán phải đổi lên Thái Nguyên, cách Hà Nội hàng trăm cây số, gia đình phải chuyển đi theo.
Đêm cuối cùng ở Hà Nội, hai người gặp gỡ, chia tay tạm biệt. Sáng hôm sau, Nguyễn Văn Khánh thẫn thờ nhìn theo chiếc xe đưa người yêu xa rời cố đô Thăng Long ngược lên miền núi.
Nói tới đất Thái Nguyên, người miền xuôi ai cũng sợ, cho đó là nơi “đường ngược” rừng thiêng nước độc. Có người còn xếp Thái Nguyên vào một trong những địa phương sản sinh ra bệnh sốt rét ngã nước: “Lử khử lừ khừ, không phải Đại Từ thì cũng Vũ Nhai”. Đại Từ và Võ Nhai là hai huyện của tỉnh Thái Nguyên. Đại Từ cách thị xã Thái Nguyên 35 cây số. Võ Nhai cách thị xã Thái Nguyên 42 cây số. Bởi vậy, Nguyễn Văn Khánh vừa thương vừa lo cho người yêu.
Thời đó, phương tiện giao thông còn ít, chỉ có xe lửa từ Hà Nội lên Lạng Sơn, muốn đi Thái Nguyên phải xuống tại ga Bắc Giang, rồi đi xe đò ngược lên, mà mỗi ngày chỉ có một chuyến. Dù xa xôi vất vả nhưng thứ bảy nào Nguyễn Văn Khánh cũng đều đặn lên thăm nàng.
Thế rồi có kẻ đánh tiếng xin hỏi cưới nàng làm vợ. Hai gia đình hết sức môn đăng hộ đối và chàng thanh niên kia cũng là người có học, nhưng vì đã thề non hẹn biển với Khánh nên nàng luôn luôn tìm cách thoái thác, hẹn lần hẹn lữa. Vì thế, mỗi lần gặp nhau, hai người đều tâm sự qua hai hàng nước mắt.
Trong hoàn cảnh đau khổ ấy, một lần trên chuyến xe đò từ Thái Nguyên về ga Bắc Giang, tự nhiên Nguyễn Văn Khánh nảy ra ý nhạc nói lên tâm sự của mình đối với nàng: “Yêu ai yêu cả một đời... Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta đau tủi cả lòng. Vì yêu ai mà lòng hằng nhớ...”.
Rồi khi trên xe lửa từ ga Bắc Giang về tới Hà Nội, chàng đã làm xong bản nhạc mà chàng đặt tên là Nỗi lòng. Tuy nhiên, có lẽ bản nhạc này là điềm báo trước một điều gì đó không trọn vẹn: “Dù sao, dù sao nếu có một ngày, một ngày ai gieo tim ta, là tình yêu kia ly tan, mà lòng vẫn thương vẫn nhớ. Tình đó khiến xui lòng ta đau. Rồi với bao ngày lặng lẽ sống, nỗi đau trong lòng người yêu vẫn yêu hoài...”.

Sau lần lên Thái Nguyên ấy, Nguyễn Văn Khánh bận việc nhà nên hai tuần lễ liên tiếp không đi được. Nửa tháng trời không gặp nhau, lòng Khánh nóng như lửa đốt và chỉ có 15 ngày thôi mà Khánh cảm thấy thời gian lâu bằng một thế kỷ. Lần này, Khánh lên Thái Nguyên như mọi lần. Đến nơi, tới nơi hẹn cũ, chờ mãi chẳng thấy bóng dáng nàng. Chờ đến chiều, Khánh đánh liều đi bộ đến gần nhà nàng để hỏi dò tin tức. Gặp bà chủ quán nước ở gần đấy, Khánh khôn khéo hỏi thăm. Bà chủ quán cho biết một tin sét đánh: cách đây khoảng chừng 10 ngày, không hiểu cô ấy bị bệnh gì, người nhà nói là trúng gió, đưa vào nhà thương nhưng sau 1, 2 ngày cô ấy đã mất. Gia đình xin xác về, chôn cô trên đồi thông cách đây khoảng một cây số.
Nghe xong, Khánh kinh hoàng, lật đật rời khỏi quán, bước như kẻ không hồn đi thẳng về phía đồi thông, nơi ấp ủ hình hài người yêu.
Mấy hôm ấy trời mưa phùn gió bấc, không hiểu sao chiều hôm đó lại tạnh, mặt trời ló ra vàng vọt, yếu ớt như mới trải qua cơn bệnh. Nguyễn Văn Khánh tìm thấy mộ nàng. Mắt chàng nhòe lệ, chàng ngồi sụp xuống, ghé sát vào nấm đất, thì thầm hát cho nàng nghe bản nhạc mà chàng đã làm vì nàng, cho nàng: “Yêu ai, yêu cả một đời... Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta đau tủi cả lòng, vì yêu ai mà lòng hằng nhớ... Năm tháng trôi lạnh lùng hoài... Tình đó nhắc nhớ luôn đến ta tình ai. Nhớ cả một trời... Tình yêu kia mà lòng nào quên...”.
Hoàng hôn xuống dần. Nguyễn Văn Khánh u sầu, lê bước trở về quán trọ. Giữa khung cảnh bi ai trầm lắng đó, bản nhạc Chiều vàng đã hình thành với những ca từ não nề, ai oán: “Trên đồi thông, chiều đã xuống dần. Mặt trời lấp ló sau đồi. Chiều vàng... giờ đây vương thầm hồn cố nhân. Năm tháng trôi qua sóng gió đời, chiều chiều nhớ em lòng khôn nguôi...”.
Kể xong câu chuyện, Khánh rủ tôi về nhà anh ăn cơm tối. Về tới nhà, anh lấy ra một cái hộp vuông trong đó có đựng một cái khăn len quàng cổ do nàng đan tặng Khánh và xấp thư tình của nàng.
Năm ấy có kỳ thi tuyển nhân viên Sở Tài chính thành phố Hà Nội. Khánh đang học ban tú tài nhưng cũng dự thi, bất ngờ trúng tuyển và trở thành một công chức, “sáng vác ô đi, tối vác về”.
Đầu năm 1954, có lệnh tổng động viên của Quân đội Liên hiệp Quốc gia Việt Nam (tức quân đội của vua Bảo Đại kết hợp với quân đội Pháp), tôi bị kẹt trong lệnh đó. Khánh và tôi rủ nhau đi uống cà phê để giã từ. Rồi đến 20/07/1954, ký kết Hiệp định Genève ngưng chiến tại Việt Nam. Sau ngày này, tôi theo quân đội chuyển vào trong Nam còn Nguyễn Văn Khánh thì bị kẹt ở Hà Nội.
Cho mãi tới sau 30/04/1975, gặp lại một số nhạc sĩ ngoài Bắc vô chơi trong Nam tôi mới biết tin là sau năm 54 được vài năm, Nguyễn Văn Khánh đã trút hơi thở cuối cùng tại căn nhà xưa. Tôi không ngờ buổi cà phê hơn 20 năm trước lại là lần cuối cùng chia tay với người bạn thân thiết, tác giả của bản Nỗi lòng bất hủ.



Đoàn Dự


Gợi giấc mơ xưa.

Nỗi Lòng của Nguyễn Văn Khánh, tiếng hát Thu Hà

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn