DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,706,683

Mẫu Hệ - Trần Yên Hòa (từ chương 1 đến 5)

29 Tháng Chín 201212:00 SA(Xem: 14129)
Mẫu Hệ - Trần Yên Hòa (từ chương 1 đến 5)


 Mẫu Hệ


   

bk_1

Họa sĩ Bé Ký và tranh




Câu chuyện ghi lại giai đoạn từ 30/4/75 đến thời điểm có chương trình HO. Một cảnh đời bi thảm sau cuộc chiến. Người đàn ông bị tập trung cải tạo, đói khát, bệnh tật, lao động khổ sai, không ngày về. Người đàn bà ở nhà với đàn con dại, bị phân biệt đối xử, phải lao vào đời để kiếm miếng ăn. Những phản trắc, lọc lừa, ngoại tình, xác thịt, được viết một cách trung thực với đầy đủ vóc dáng và nhân diện của từng nhân vật. Trong truyện còn ghi lại một thời buổi nhiễu nhương của đất nước trước và sau 30/4/75, các tướng công sứ quân cát cư từng vùng. Tôn giáo, Đảng phái, Sinh Viên học sinh tranh đấu rồi Hộ khẩu, lý lịch, tham ô, hủ hóa.


o 0 o


Lời Mở

Ngó đất ngó trời
Ngó trước ngó sau
Ngó trên ngó dưới
Ngó quanh ngó quẩn
Chạnh lòng viết chơi

Chuyện là hư cấu

mọi nhân vật, không gian, thời gian trong truyện đều là sản phẩm của tưởng tượng

Trần Yên Hòa


* * *



Chương Một


bk_2



Đêm yên lặng. Căn phòng tối mờ. Những vệt sáng từ ngọn đèn đường hắt vào tạo nên những bóng hình lay động. Trên chiếc giường rộng chất năm con người, hai người lớn, ba trẻ con, đang nằm ngủ, sắp lớp như hộp cá mòi.

Soại không ngủ được. Suốt đêm anh chỉ chợp mắt một chút rồi tự dưng tĩnh hẳn. Anh gác tay lên trán. Đó là một thói quen khi anh không ngủ được. Sự việc đến quá nhanh từ ngày đơn vị anh tan hàng. Anh trở về từ căn cứ Long Thành trong buổi sáng của ngày cuối cùng. Trên đường về, anh nhìn thấy những chiếc xe jeep, xe nhà binh chạy thật nhanh từ phía Hốc Môn về Sài Gòn. Thành phố bỏ ngỏ, quan, quân, dân chúng chạy hỗn loạn.

Anh đón chiếc xe buýt cuối cùng ở đường Võ Tánh đi về hướng ngã tư Bảy Hiền. Chiếc xe buýt chật ních người. Lính có, dân có. Người ta chen chúc nhau lên xe, xuống xe. Ai đôi mắt cũng láo liên nhìn nhau dò hỏi. Tình hình thế nào? Nghe nói "giải phóng" đã xuống đến Hốc Môn? Không ai trả lời. Anh xuống xe ở một góc trạm xăng rồi đi bộ về nhà.

Khu building rộng, năm tầng, gia đình anh cư ngụ ở đây gần một tháng trong một căn phòng nhỏ ở tầng thứ năm. Năm người sống chen chúc. Nai Hiên và ba đứa con.
Nại Hiên đã bồng bề dắt díu các con từ miền Trung vào trong những ngày di tản tán loạn. Nại Hiên dẫn con chạy ra bờ biển An Hải. Lên một con tàu lớn chở gần ba ngàn người. Tàu cập bên Nha Trang. Từ Nha Trang thuê xe đò về Sài Gòn, lê thê lếch thếch. Anh đón vợ con như bắt được lại những gì yêu quý nhất. Nhưng rồi cũng không yên. Lonh Khánh mất rồi đến Sài Gòn. Khi anh trở về đơn vị cũ thì không còn ai. Tướng, tá, quan, quân y như đỉa phải vôi. Ai cũng tìm đường tháo chạy. Anh không có ý định bỏ đi. Anh còn nặng nợ với gia đình quá. Anh nghĩ, chắc gì rồi cũng có một giải pháp.

Buổi trưa khu building im lặng. Những căn phòng của những gia đình ngụ cư ở đây đóng cửa im ỉm. Anh đi lên tấng lầu thứ năm. Dãy hành lang dài và sâu hun hút. Anh mở cửa phòng bước vào. Nại Hiên đang sửa soạn gì đó, thấy anh thì la chói lên:

- Sao anh bây giờ mới về. Đài Sài Gòn tuyên bố phe mình đầu hàng rồi. Anh mau cởi quần áo lính ra cho em đem xuống tầng dưới đốt đi. Nghe nói tụi nó vào đâu đến Hốc Môn rồi, đang tiến về Sài Gòn đó, lẹ lên anh.

Anh im lặng trút bỏ quần áo. Nại Hiên gom tất cả, kể cả đôi giày bót và giấy tờ có liên quan đến quân đội. Đốt đi, nguy hiểm lắm. Nàng lúc nào cũng hay hoảng hốt. Anh gom đồ đạt của anh vào một cái bao nylông rồi đưa cho Nại Hiên. Nại Hiên đem xuống tầng dưới bỏ vào một cái thùng phi đang bốc cháy. Nơi đây thiêu đốt tất cả những gì có liên quan đến lính tráng. Đốt để phi tang.

Sự việc đến nhanh quá. Soại thấy mình như đang trong cơn mộng du. Buổi trưa, những đoàn molotova chở bộ đội từ hướng Hốc Môn đổ xuống ngã tư Bảy Hiền. Những chiếc xe dừng lại ở một nơi nào đó. Có một số người đến gần, một số bỏ đi. Những tiếng hát từ trên xe qua các loa phóng thanh có dăng biểu ngữ.
Tiếng hát nổi lên oang oang: "Tiến về Sài Gòn ta quyết diệt giặc thù, tiến về Sài Gòn, giải phóng thành đô". Rồi "Như bao cô gái ở trên non, cô gái sông Ba đầu búi tóc thon, tay vót chông tay vót căm thù, như bao cô gái ở trên non". Rồi tiếp theo: "Thù giặc Mỹ cọp beo, em thù giặc Mỹ cọp beo." Những giọng nữ cao, cao vút, rót từ những loa phóng thanh tỏa xuống đám người phía dưới đường đang hớt hãi đi, làm chói tai không ít.

Người nghe, từ lâu, đã quen với những giòng nhạc êm dịu nhẹ nhàng như "Trả lại em yêu khung trời đại học, con đường Duy Tân cây dài bóng mát, buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát, uống ly chanh đường, uống môi em ngọt." Bây giờ ai cũng biết, đã hết những ngày mơ mộng cũ, những lãng mạn xưa cũng dẹp xó, để nhường chỗ cho những âm thanh cao vút kia.

Thành phố hổn loạn với đầy đủ màu sắc. Mới ngày hôm qua đây, trên đường đi còn đầy sắc lính: nhảy dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, bộ binh, không quân, hải quân. Bây giờ thoáng chốc nhường chỗ cho những áo quần bộ đội màu xanh cứt ngựa, rộng thùng thình, nón cối, dép râu. Sự đổi đời không khoan nhượng.

Soại trở mình nằm nghiêng xây qua phía Nại Hiên. Con nai vàng ngơ ngác của một thời Đà Nẵng xưa của anh, bây giờ cũng mỏi mệt, bơ phờ. Chỉ trong một tháng, Nại Hiên đã trút bỏ hết dáng yêu kiều của một cô giáo trung học, áo dài màu hoàng yến, màu xanh da trời hay màu huyết dụ. Lịu địu với ba đứa con còn quá nhỏ và một ông chồng "ngụy", làm nàng phờ phạc thấy rõ. Sáng hôm nay nàng đã đi mua một số đồ đạc để ngày mai trở về quê, làm nàng mệt, ngủ vùi.

Về quê!

Đó là câu nói đầu tiên của Nại Hiên khi nàng nghe trên đài phát thanh thành phố loan báo: "Các nhân viên công chức chế độ cũ ai về nhiệm sở đó tiếp tục làm việc.". Nàng hối hả thông báo với Soại:

- Về quê, em phải về quê thôi. Ở đây cũng không có cỏ mà ăn nữa huống hồ là cơm gạo. Em về xin đi dạy lại, anh nghĩ có được không?

Soại bình tĩnh trả lời:

- Em chắc đi dạy lại được không? Gia đình mình toàn làm việc cho chế độ cũ, anh nghĩ họ sẽ không cho em đi dạy lại đâu.

- Không cho em cũng phải về. Ở ngoài quê còn có mẹ, còn có anh chị, ở đây có ai?

Soại ú ớ. Hôm anh lãnh lương tháng cuối cùng thật khó khăn và may mắn nữa. Lãnh lương chụp giựt, xô đẩy nhau, lấn lướt nhau. Cầm mấy chục ngàn về đưa cho Nại Hiên, Nại Hiên mừng ra mặt. Số tiền dành dụm của hai người trước kia, nàng đã tiêu gần hết trong những ngày di tản. Nay thì số tiền lương cũng gần hết rồi, sẽ sống bằng gì đây với năm miệng ăn.

Cuối cùng rồi Soại cũng chấp nhận giải pháp của Nại Hiên. Về quê. Thời đại của những nông dân cày sâu cuốc bẫm đã đến.

Mầy ngày sau lại có tin trên đài phát thanh: "Tất cả các sĩ quan từ cấp trung úy trở xuống, đem đồ ăn, quần áo đủ dùng trong mười ngày." Nại Hiên cũng mừng ra mặt. Nàng nói với Soại bằng một giọng tin tưởng:

- Anh đi học tập mười ngày rồi về quê với em. Em đi dạy lại được thì cũng có tiền lương cho cả gia đình. Anh cũng sẽ tìm một công việc gì đó để làm. Vợ chồng mình phụ nhau nuôi con.

Ý nghĩ của Nại Hiên lúc nào cũng trong veo. Nàng lạc quan thấy rõ.

Soại không tin tưởng cho lắm nhưng thật ra anh cũng không có con đường nào khác. Anh như đang ở trong một cái rọ, cái miệng rọ có sợi dây thòng lọng, càng ngày càng siết chặt lại.
Bây giờ thì Nại Hiên sắp trở về quê. Bốn năm đại học sư phạm với những đêm miệt mài đèn sách. Nàng yêu lắm những tháng ngày đứng trên bục giảng nhìn xuống đám học trò quận lỵ. Đám học trò lớn sộ, áo quần lem luốc. Nàng yêu những mái tóc cháy nắng vàng khè kia, những đôi mắt đen lay láy từ dưới nhìn lên cô giáo đang giảng cho các em môn Vạn Vật. Yêu hết từ con đường đất cát, những hàng dương liễu, những giọng nói của đám dân quê. Tất cả. Hầu như tất cả. Bốn năm học đại học sư phạm rồi trở về dạy tại ngôi trường quận lỵ quê hương, nàng thấy mình bứt không ra khỏi được nơi đó.
Cho nên sự trở về của Nại Hiên không phải là một lựa chọn mà đúng là lý do tình cảm. Soại thấy không ép được vợ ở lại thành phố, chính anh cũng như con cá mắc cạn, anh lo không nổi cho anh thì làm sao anh lo cho nàng và các con được.

Soại nghĩ Nại Hiên cả tin bao nhiêu khi nghe bản thông cáo, dù trong đầu óc Soại cũng mừng rỡ. Chắc là hết đánh nhau, người ta dễ tha thứ rộng lượng với nhau hơn. Nhưng anh vẫn e dè trong ý nghĩ. Sao một cuộc đổi đời trơn tru gọn bân như thế, dễ dàng như thế. Cuộc chiến dài hơn hai mươi năm đã lụi tàn, nhưng trên rừng Trường Sơn đã chôn biết bao xác người. Hai mươi mốt năm ròng, hai bên đánh nhau, để cuối cùng với sự kết thúc mau lẹ. Với những kẻ gọi là địch, là đối phương, chỉ cần một tháng hay mười ngày là có thể ôm nhau nhảy sol, đố, mì và hô to "đoàn kết chúng ta là sức mạnh". Dễ dàng như vậy được sao?

Soại xoay mình qua phía Nại Hiên. Nại Hiên đang nằm xuôi chân, hai tay buông thỏng. Nàng ngủ say. Ngày mai em về quê rồi bao giờ mình mới gặp nhau. Cuộc vợ chồng của chúng mình thật quá nhiêu khê. Những ngày tháng trước, anh đi hành quân đôi ba tháng mới về một lần. Mỗi lần về là xả vào nhau như con hổ đói mồi. Cuộc đời lính tráng, mà là lính trận nữa, làm sao anh ở được gần em. Bây giờ hết chiến tranh mình tiếp tục xa nhau nữa sao?

Bàn tay nhỏ nhắn của em chỉ biết cầm cây bút và phấn bảng. Anh bóp nhẹ bàn tay vợ như truyền cho vợ chút hơi ấm của anh. Nại Hiên cựa quậy, nàng mở mắt nhìn Soại rồi nói trong cơn mê ngủ:

- Sao anh không ngủ đi, anh đừng phá em, để em ngủ một chút nữa. Cả ngày nay dang ngoài trời mệt quá.

Nại Hiên rút tay ra khỏi tay anh. Anh nằm im lặng nhìn lên trần mùng. Tiếng muỗi bay vo ve bên ngoài. Bây giờ chắc cũng ba, bốn giờ sáng. Tiếng xe xích lô máy, ba gác máy, xe lam đã bắt đầu chạy ngoài đường, tiếng xe lạch bạch, lạch bạch. Những người đi làm sớm đã thức dậy. Thành phố im lìm mấy ngày lại bừng bừng trở lại. Ai cũng muốn mọi sinh hoạt trở lại đều đặn bình thường. Dân Sài Gòn thức cả đêm. Hay nói đúng hơn là họ thay phiên nhau thức. Ngươì làm ban ngày, người làm ban đêm. Thành phố như một con thú bị thương bắt đầu hồi phục.

Bây giờ thì Nại Hiên lại không ngủ được nữa. Nàng cố gắng nhắm mắt nhưng cơn buồn ngủ đã bay đi đâu mất. Mai nàng đem ba đứa con trở về quê. Để Soại ở lại thành phố này một mình nàng nghe như lòng mình bị quặn thắt lại. Nàng thấy thương Soại quá. Trong đêm tối thăm thẳm, nàng đưa tầm mắt nhìn quanh quất căn phòng nhỏ. Chiếc giường ngủ đã choán hết gần nửa căn phòng, còn là chỗ để những dụng cụ sinh hoạt như lò bếp nấu ăn, cái bàn ăn, là hết chỗ. Các con nàng còn nhỏ quá. Nhìn ba đứa con ôm nhau ngủ say, nàng thấy an ủi một chút. Cuộc sống vợ chồng năm năm đã cho nàng ba đứa con. Sau cuộc chiến, còn đầy đủ như thế này là mừng lắm rồi. Gia đình nàng không ai mất đi hay bị thương, tật nguyền. Còn người còn của.
Nàng thấy nàng được phước hơn nhiều người, trong cơn binh lửa đã mất chồng hay mất con. Thôi cũng đành. Cuộc đời đừng đòi hỏi quá những đặc ân cho mình.

Nàng đưa tay để trên ngực Soại, Soại cầm lấy tay nàng. Nại Hiên chợt thấy một nỗi rạo rực dâng lên, nàng đưa ngón tay cọ quẹt trong lòng bàn tay của Soại, một cử chỉ mời gọi, sẵn sàng, mà hai người đã quy định với nhau. Khi về ở trong căn phòng này, căn phòng quá chật nên cả gia đình ngủ chung trên chiếc giường duy nhất. Hai vợ chồng không thể ái ân trên giường được nên họ mới bàn nhau, khi muốn yêu nhau, em lấy ngón tay cào cào lòng bàn tay anh nhé, rồi em xuống trước nằm dưới sàn xi măng đợi anh, anh coi thử các con còn đứa nào thức không rồi anh xuống với em liền. Họ quy định như thế và đã thi hành như thế, nhiêù lần. Chiếc giường rộng nhưng quá ọp ẹp, nếu cử động nhiều quá sẽ gãy ngay. Thường thường thì khi ra dấu xong tín hiệu, Nại Hiên sẽ ngồi dậy, nàng lấy quạt quạt cho con, nâng đầu từng đứa để lên mặt gối. Đứa nào cũng ngủ mê. Nàng yên chí sè sẹ bước ra khỏi giường. Nàng nằm xuống nền xi măng. Nền xi măng thường lạnh làm nổi da gà. Nại Hiên im lặng cởi quần áo. Nàng vẫn thích khi ngủ với chồng hay khi ân ái phải hoàn toàn khỏa thân, không vướng bận gì. Lúc đó nàng mới thấy hoàn toàn tự do. Ở trong căn phòng chật hẹp này nàng thấy như mình bị tước đoạt nhiều thứ quá.

Soại khe khẽ vén mùng bước ra khỏi giường. Anh nghe lòng mình nóng hổi những đòi hỏi. Anh sà xuống đất là ôm Nại Hiên vào trong tay. Nại Hiên sẵn sàng trong tư thế chờ đợi. Một thân thể tròn đầy của người đàn bà hai mươi lăm tuổi.

Nại Hiên cười nhỏ trong miệng, nói thầm vào tai Soại.

- Nhè nhẹ thôi anh. Đừng thở mạnh quá các con nghe đó.

- Mấy đứa ngủ say lắm, em đừng lo.

Anh hôn cuồng nhiệt trên thân thể Nại Hiên như cố tận hưởng hềt mùi da thịt ấy, mùi da thịt thơm lừng mà anh vẫn nghĩ, chỉ Nại Hiên mới có.


Chương Hai




bk_3




Buổi sáng. Nắng chói lóa, chan hoà bên ngoài căn phòng chung cư. Nại Hiên thức giấc sau trận cuồng phong. Bởi vì trong tâm tuởng nàng luôn luôn ý thức là sáng mai phải về. Phải dẫn các con ra bến xe đúng giờ. Không đuợc trễ nãi, nên trong giấc ngủ tiếp theo, dù nàng bị cái rã rời cuốn hút đi, nhưng một lúc sau, cái tâm thức ra đi trổi dậy. Nàng từ từ tĩnh ngủ. Nàng bật nguời đưa tay xem đồng hồ. Đã hơn bảy giờ sáng. Nại Hiên tung mền và lay Soại:

- Dậy đi anh, thức luôn các con dậy. Xe đò ở bến xe An Đông bắt đầu 9 giờ khởi hành, chuẩn bị đi chứ không trễ mất.

Soại càng mệt mỏi hơn. Nhưng anh cũng ý thức là phải dậy ngay bây giờ, không được ngủ nướng chút nào. Anh chỉ còn Nại Hiên và các con trong vòng mấy tiếng đồng hồ nữa thôi. Anh có cảm tuởng Nại Hiên trở về quê chuyến này, rất lâu anh mới gặp lại được.

Nại Hiên đã sắp sẵn những chiếc va ly áo quần và đồ dùng của nàng và các con. Chỉ bấy nhiêu thôi cho cả bốn cuộc sống. Nàng thay đồ cho bé Anh Chi. Anh Chi còn bé quá, mới sinh năm ngoái. Soại thấy xót thương vợ vô cùng. Một nách ba con về quê. Trong thâm tâm anh luôn luôn dằng xé bởi những ý nghĩ. Nại Hiên đem mấy đứa con về quê, anh như đỡ đi một phần gánh nặng. Nhưng bây giờ, truớc lúc chia tay, anh thấy mình bị hụt hẫng, bị đẩy rời, tách ra khỏi gia đinh. Cái gia đình nhỏ bé mà anh cố gắng tạo nên.

Sau khi cho các con ăn và hai nguời cùng ăn qua quít mấy chén cơm. Nại Hiên giục Soại:

- Thôi mình đi anh. Anh bế hai đứa xuống lầu truớc đi, rồi ra đường đón xe lam. Em bế Anh Chi và xách đồ xuống sau, À quên, em đưa tiền cho anh, anh ở trong này chờ ngày đi học tập. Mình còn có năm chục ngàn, em mua sắm một ít, còn lại bốn chục ngàn, em để lại anh muời ngàn anh lo chuyện ăn uống, mua ít thuốc men đem theo. Anh học tập xong trở về, anh liên lạc với em ngay. Nếu tình hình tốt thì em sẽ nhắn anh về quê, nhe. Tiền đây, anh cất đi.

Nại Hiên phân chia thật chu đáo. Tính nàng vẫn vậy, cái gì ra cái đó, rõ ràng, minh bạch.
Soại bỏ số tiền Nại Hiên đưa vào túi quần, bế Đông Nghi và dắt Anh Thư xuống lầu. Căn building năm từng với mười bậc thang, đi lên đi xuống cũng đủ mệt ứ hơi. Thật ra, ngày trước, trong gia đinh, anh như đứng ngoài cuộc sống. Mỗi tháng lãnh lương anh đem tiền về đưa cho Nại Hiên đủ, là anh coi như đã làm xong bổn phận. Anh không biết đến những sinh hoạt nhỏ nhặt của một gia đinh. Những sinh hoạt bình thường như ăn, uống, giặt giũ, tã lót, mền mùng. Anh không tham gia được vào cuộc sống đó cũng chỉ vì một lý do duy nhất vì anh là lính, bận đi hành quân. Anh lấy lý do đó để bào chữa cho mình.
Anh là sĩ quan chỉ huy nhưng anh không có tư lợi nào.
Nhưng anh biết, trong khi đó thì biết bao nhiêu sĩ quan như anh, từ cấp đại đội truởng trở lên là đã có tư lợi. Đó là gạo thóc của lính hành quân dư, là ration C của lính đào ngủ hay đi phép, là lương lậu khai man của lính ma, lính kiểng. Chuyện này anh biết rõ khi anh nắm chức vụ đại đội trưởng. Nguời hạ sĩ quan tiếp liệu đã nhỏ to với anh nhiều điều, nhưng anh dẹp hết, anh nói với nguời hạ sĩ quan tiếp liệu: "Đi hành quân, anh lo cho lính tráng đầy đủ là tốt rồi, khỏi cần lo riêng cho tôi". Nguời hạ sĩ quan tiếp liệu có vẻ không bằng lòng mấy lời nói của anh, nhưng anh giữ chức vụ không lâu là đến ngày "tan hàng".

Bến xe An Đông vẫn còn hoạt động. Đây là bến xe chạy đường dài Sài Gòn ra miền Trung và Cao Nguyên Trung Phần. Hãng xe Minh Trung, hãng xe Phi Long, Tiến Lực độc quyền khai thác các chuyến xe đuờng dài, với những chiếc xe kiểu xe buýt mới, nên rất ăn khách. Cuộc đổi đời còn quá mới nên nơi đây chưa có thay đổi gì. Bến xe An Đông vẫn với những chiếc xe đậu từng hàng dài trên đường Petrus Ký. Khi Soại đưa gia đình tới thì các lơ xe trông thấy, họ chạy túa ra mời chào:

- Anh chị về đâu, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Qui Nhơn đều có cả, anh chị lên xe em đi.

Soại hỏi một nguời lơ:

- Về Đà Nẵng bao nhiêu một nguời?

- Một ngàn hai.

- Sao đắt vậy, truớc đây có bảy trăm.

- Hòa bình rồi mà anh, anh biết không, tụi em chạy xe vừa chạy vừa luồn lách, vừa dọn dẹp các chuớng ngại vật hồi chiến tranh còn lại, vất vả lắm chứ không dễ đâu.

Nại Hiên trả giá:

- Tụi tôi chạy loạn ngoài đó vô đây, bây giờ về trở lại nên tiền đâu có nhiều, anh lấy cho một ngàn đi, cho tôi hai chỗ.

Soại nói với Nại Hiên:

- Em mua hai chỗ ngồi, chật quá chịu nổi không?

- Kệ, cũng được anh, mình tiện tặn chút.

Nguời lơ xe đồng ý bảo lên xe. Bước qua bực lên xuống xe, Soại mới thấy không khí trong xe ngột ngạt quá. Nhiều hành khách cũng trở về sau cuộc tháo chạy. Họ cũng ở những miền ngoài đó, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn. Ai cũng than trở về không biết làm ăn ra sao đây? Cuộc tháo chạy khiến nhiều gia đinh trắng tay. Sự trở về coi như một đầu hàng hoàn cảnh.

Khi Nại Hiên và các con ngồi vào chỗ xong, Soại mới thấy lòng mình cô đơn quá. Anh thấy như mình sắp bị hất tung ra khỏi một gia đinh. Ở lại đây một mình, anh sẽ đơn độc biết bao nhiêu. Bà con không có. Anh sẽ bơ vơ trong một thành phố đầy biến động. Anh sẽ đi trình diện học tập cải tạo. Anh nghĩ, dù sao ở thành phố cũng hơn ở nông thôn, dù sao cũng còn có đôi mắt của thế giới dòm vào, nghĩ tới điều này cũng làm anh yên lòng đôi chút.

Nguời lơ xe đi dọc theo con đường ở giữa hai hàng ghế đếm hành khách. Xong, nói thật to lên: - Xe sắp khởi hành, mời những ai không đi, xin xuống xe để xe chạy.

Để phụ họa theo lời người lơ xe, nguời tài xế đã ngồi vào chỗ của mình ở phía truớc, rồ máy. Tiếng máy nổ rùng rùng. Nguời tài xế bấm còi tin tin. Soại hôn mấy đứa con, anh như muốn hít hết hơi hám của các con vào lòng. Hai má mịn màng của bé Anh Thư, của Đông Nghi, đôi mắt đẹp của Anh Chi, ba đứa con gái là máu huyết anh, là da thịt anh, anh muốn hòa tan mình vào trong đó.

Nại Hiên nói:

- Anh đừng hôn con mạnh quá làm con đau đó. Thôi anh xuống xe đi, xe sắp chạy rồi.

Rồi nàng dặn dò thêm:

- Em về nghe, anh nhớ làm theo lời em dặn. Anh ở một mình anh nên giữ gìn sức khoẻ, đừng nhậu nhẹt.

Soại hôn phớt lên môi Nại Hiên, anh nói thật cảm động:

- Em về lo cho các con hộ anh. Cho anh gởi lời thăm mẹ và các anh chị. Thỉnh thoảng có rãnh em về thăm bà nội mấy đứa. Em đi dạy lại được tin cho anh biết nghe. Thôi anh xuống đây.

Soại đi trở ngược lên đầu xe và nhảy xuống đất. Chiếc xe rồ máy mấy lần và bắt đầu lăn bánh. Anh vẫy tay khi chiếc xe rời khỏi bến, không biết Nại Hiên và mấy con có nhìn thấy anh không? Soại đi bộ ngược lên Ngã Bảy. Khu bến xe An Đông sau cuộc đổi đời cũng không thay đổi gì mấy. Vẫn những xe bánh mì, xe hủ tiếu đậu ngoài lề đường bán cho khách vãng lai. Vẫn những tay ruớc mối cho gái ngồi trên những chiếc ghế thấp, thấy ai đi qua cũng ngoắc tay lia lịa, "vào đây chơi đi anh, có em mới, có em mới đây anh.". Những nụ cười chớt nhả của các cô gái làng chơi. Soại đã biết khu này khi đọc tác phẩm "Loan Mắt Nhung" của Nguyễn Thụy Long, với xóm đĩ phía trong, với bao nhiêu hoàn cảnh oan khiên không kể hết. Nơi đây, những con người lương thiện muốn tìm một chỗ trú thân bình thường cũng không được. Tiếng mời gọi như tiếng búa đánh vào thanh sắt, chát chúa, tàn bạo. Âm thanh làm Soại lợm giọng. Anh giật tay ra khỏi một ả mặt hoa da phấn đang cầm tay níu anh vào trong hẻm, anh nói với giọng hằn học: "Không, tôi không đi, tôi đang có công chuyện". Người con gái buông anh ra. Anh đi nhanh về phía bến xe lam Ngã Bảy.



Chương Ba


bk_7




Phố dựng cơ ngơi buôn bán ở khu chợ trời này đã được muời ngày đúng. Muời ngày Phố bắt đầu làm quen với cách buôn bán chụp giựt tại đây và Phố đã hội nhập nhanh chóng.
Nghề "chợ trời" là nghề mua đi bán lại. Thấy cái gì rẻ, có thể bán lại được là mua, có nguời cần, hỏi mua, có lời là bán. Phần đông hàng chợ trời là hàng trôi nổi, đủ mọi đầu mối tuồn ra.

Truớc đây, ngày miền Nam chưa thất thủ, hàng hóa chợ trời phần nhiều là đồ lính. Từ mền, mùng, giày, dép, áo quần lính, bidong nuớc, giây ba chạc, nón sắt, nón lưỡi trai, dao găm, lưỡi lê, đến những thức ăn như ration C, gạo sấy... Đây là đầu mối, nơi chốn để các sĩ quan tiếp liệu ở các đơn vị tuồn hàng ra. Các sĩ quan tiếp liệu làm giấy tờ, trình lên cấp trên cấp phát cho binh sĩ hành quân, nhưng lính tráng ngoài mặt trận đói rách cực khổ bao nhiêu chẳng cần biết, các sĩ quan khi có đuợc nguồn hàng, liền man khai, đem ra bán ở chợ trời. Không phải một đơn vị mà hàng chục, hàng trăm đơn vị đã làm như thế. Cho nên lính ngoài mặt trận càng ngày càng thiếu thốn phương tiện để có thể chiến đấu trong lúc hành quân. Còn các sĩ quan "có chức có quyền", càng ngày càng giàu thêm, xây nhà, tậu xe, ăn chơi thỏa thích.

Sau ngày tan hàng, những ông quan lớn, quan nhỏ, một số tháo chạy ra nước ngoài, một số không đi đuợc, ở nhà chờ xem chính sách của chế độ mới đối với họ như thế nào? Trong lúc đó, hàng tháng họ không còn lãnh lương, không còn tư lợi từ đám lính ma lính kiểng, không còn khai man nhu cầu tiếp liệu để ăn chia nữa, họ đem đồ đạc trong nhà ra bán dần để ăn, cho nên những nguồn hàng đó tuôn ra chợ trời khiến cho mặt hàng ở chợ trời càng ngày càng phong phú.

Phố cũng nương theo luồng sóng ấy mà làm ăn. Anh hội nhập mau lẹ vì Phố được coi là mẫu người khôn ngoan, nhanh nhẹn nhất trong đám sĩ quan truyền tin diện địa.

Từ quân trường Thủ Đức ra, học một khóa truyền tin Vũng Tàu, đổi lên Quân khu 2. Phố đáo nhậm chức vụ với chức vụ trưởng chi nhánh truyền tin. Chỉ trong vòng ba năm, với cấp bậc chuẩn uý với cái "quai chảo" mang trên ve áo, anh đã nhảy lên đại úy với ba bông mai vàng chóe. Phố đã nhìn cấp chỉ huy của mình bằng cái nhìn của nguời thương buôn. Đánh giá con mồi, lượng định và bắt đầu mua chuộc. Ví dụ như trung úy Phùng, đại đội trưởng, là nguời thích chơi gái hơn ăn tiền, Phố tìm cách để có những cô gái thơm ngon như múi mít để mồi chài. Như ông thiếu tá Từ, tiểu đoàn trưởng, nguời lùn loắt choắt, mắt lé, nhưng chỉ huy thì nghiêm khắc và rất ham giàu, ham muốn những thỏi vàng được chế biến từ kho quân nhu, tiếp liệu của tiểu đoàn vào tay ông. Phố đã chinh phục cấp trên bằng mọi cách và bằng mọi thủ đoạn, với dụng ý là mong được thăng quan tiến chức mau lẹ. Và y chang theo uớc nguyện của Phố, anh đã từ chức trưởng trung tâm lên chức đại đội trưởng đầy quyền hành, không hơn ba năm làm việc.

Cuộc di tản rút khỏi Pleiku không kèn không trống với bao nhiêu tang tóc kinh hoàng cho quân, dân, cán, chính, miền cao nguyên. Phố ra đi, bỏ lại căn nhà mới xây, được trang bị hoàn toàn đồ "xịn". Anh bị lạc giữa rừng trong cơn thất tán, vì địch quân chặn từ nhiều phía, nên mạnh ai nấy chạy. Phố cùng với một vài nguời lính truyền tin lẩn lút trong rừng mấy ngày liền với bao đói khát. Anh tuyệt vọng. Cũng may cho anh, có một chiếc trực thăng bay qua chỗ anh ẩn núp. Phố lấy tấm kiếng mang theo ra làm dấu và được chiếc trực thăng đáp xuống bốc đi. Anh đi từ sự chết qua sự sống, anh đã quỳ lạy đất trời đã mở đuờng cho anh thoát khỏi vòng vây địch. Cùng một niềm vui và may mắn nữa, vợ con anh cũng về được Sài Gòn suôn sẻ. Gia đinh anh tấp vào khu cư xá Thanh Đa còn bỏ trống, anh chiếm một căn trên tầng ba của cư xá cho vợ con ở và anh đi kiếm việc làm.

Một hôm Phố đem sửa cái quạt máy hư ở tiệm của ông già Tàu ở đuờng Hồng Thập Tự, ông già kiểm tra cái quạt rồi bảo Phố:

- Quạt này không sửa được nữa đâu, hư hết trơn rồi. Nị lên chợ trời Trương Minh Giảng mua cái khác đi, rẻ rề hà, sửa chi cho tốn tiền.

Anh bỏ cái quạt cũ cho ông thợ người Tàu và đạp xe lên chợ trời lăng cha Cả. Ở đây, anh đã nhìn thấy cảnh buôn bán, chụp giựt. Phố thấy có cơ làm ăn nên hôm sau, anh quyết định đem số tiền còn lại để làm vốn buôn bán. Mua đi, bán lại. Phố khôn ngoan, mép môi trơn tụt như có bôi mỡ, nên anh mồi chài khách hàng kết quả. Anh lấy lời bỏ thêm vào vốn, cho nên vốn càng ngày một khá hơn. Đến nay đã được muời ngày.



o 0 o



Sau ngày tan hàng, dân chúng miền Nam như rắn mất đầu, lạng qua lạng quạng không biết làm gi để kiếm sống. Ngày trước, nhân viên, công, tư chức hàng tháng đều có lương nên ai cũng an tâm. Bây giờ chế độ đã sụp đổ, kéo theo hàng triệu triệu người thất nghiệp nên họ bèn ào ra đường kiếm sống, bán xăng lẻ, bán thuốc lá lẻ, bán bánh mì. Giai cấp khá hơn thì trước tiên họ bán đồ trong nhà trước đây họ đã sắm, nay thời thế đổi thay, họ bèn đem ra chợ trời tiêu thụ.

Phe "giải phóng" cũng vậy. Áo quần bộ đội, công an, võng, mền mùng, giày bố, nón cối, xắc cót, cũng đều có mặt, góp phần tạo nên sự sinh động và phong phú cho hàng hóa chợ trời. .

Soại trong mấy ngày truớc, ngày còn vợ con ở Sài Gòn, anh đã mấy lần dạo ra khu chợ trời này và có ý muốn làm ăn thử ra sao. Nhưng khi đem y kiến này bàn với Nại Hiên thì nàng dẫy nẫy lên ngay:

- Anh mà buôn bán cái gì, anh đi buôn chỉ mất cả chì lẫn chài.

Anh dịu giọng trả lời:

- Thì anh thử, nghề dạy nghề mà em.

- Không nghề ngỗng gì hết. Mình không có tiền, còn mấy chục ngàn để lo ăn cho cả gia đinh, anh đem tiền rải ra ngoài đó, hết vốn chỉ có nuớc đói nhăn răng cả lũ.

Soại đành lặng thinh. Thật sự, từ nhỏ đến bây giờ, anh đâu biết buôn bán là cái gì. Mà ở chợ trời thật là muôn mặt. Không có ai bảo đảm món hàng đó còn tốt không, đúng giá không? Tất cả chỉ là sự thỏa thuận. Anh muốn thử một lần nhưng thấy vợ cản thì thôi. Nhưng bây giờ, vợ con về quê hết. Anh thấy thì giờ trống trải quá, phải làm một việc gì đó chứ chẳng lẽ ngồi không đợi đến ngày đi trình diện. Cho nên anh quyết định đem mười ngàn đồng Nại Hiên đưa để thử thời vận. Có lỗ vài ba ngàn, anh đi trình diện học tập, vào trại ăn uống chắc sẽ có nhà nuớc lo. Vả lại, học tập mười ngày rồi về, chứ có lâu lắc gì đâu cho cam.

Soại xuống xe lam ở đường Trương Minh Ký rồi đi bộ vào chợ trời. Cũng gần mười một giờ. Nắng gay gắt chói chang. Khu chợ trời bắt đầu đông người. Những dãy hàng quán được căng lên bởi những tấm tăng nhà binh, trông xa như một cuộc đi cắm trại. Thôi thì đủ hạng người đến đây để mua và bán.

Chợ trời nay có thêm một số khách hàng mới là bộ đội, công an và dân bắc mới vào. Bộ đội đóng quân rải rác ở các căn cứ quân sự cũ, được sửa lại thành doanh trại quân đội nhân dân Việt Nam. Trong những lúc rỗi rảnh, họ đi dạo chợ trời để mua đồ. Nào đài, đổng, đạp. Những thứ vật dụng mà miền Bắc vẫn coi đó như là xa xí phẩm, chỉ có cán bộ cấp cao mới có được. Cho nên, đến khu chợ trời này họ thích lắm, anh bộ đội nào cũng la cà ở những chỗ có bán "đồng hồ không người lái", radio hay xe đạp. Mua được thứ mà họ ưa thích, mặt chàng nào cũng rạng rỡ hẳn lên.

Thêm một số khách hàng mới nữa của chợ trời là những người dân miền bắc mới vô Nam. Họ là nguời thân của các công an, bộ đội cấp cao hay cán bộ dân chính hiện công tác tại Sài Gòn. Họ vào thăm thân nhân và luôn thể thăm Sài Gòn, nơi mà họ vẫn thường nghe nói là "phồn hoa giả tạo". Họ nghe nói dân miền Nam đói lắm, cần được giải phóng, nên khi giải phóng xong, họ vào thăm, cố mang theo chút quà mọn vào để giúp đỡ. Nhưng họ không ngờ, Sài Gòn rực rỡ, rộng lớn, giàu sang hơn Hà Nội gấp mấy mươi lần. Bây giờ thì họ đi chợ trời để mua đồ mang về bắc, để khoe khoang với bà con ngoài bắc rằng, họ đã đến Sài Gòn và cũng ăn xài như người Sài Gòn vậy.

Soại đi loanh quanh khu chợ trời, anh thấy ngoài những người bán có sạp, có tấm tăng che, còn có những người chỉ trải tấm bạt ra đất để bán, có lẽ, những người này cũng như anh, đang đi tìm đất làm ăn. Soại thấy còn mấy khoảng đất trống, anh nghĩ ở đây có thể trải đuợc tấm bạt, nên cần phải đi mua tấm bạt và ít mặt hàng linh tinh để dọn hàng. .

Soại tìm được tấm bạt nhà binh còn tương đối xài được. Anh gấp tấm bạt lại, hỏi giá nguời chủ:

- Tấm bạt này bao nhiêu anh?

Nguời chủ đội cái mũ rộng vành, nhìn tấm bạt rồi nói:

- Sáu trăm.

Soại lừng khừng trả giá:

- Bốn trăm anh bán cho tôi, tấm bạt cũ rạn nhiều chỗ rồi. .

- Lấy đi.

Soại loay hoay móc tiền trong túi thì bên dãy hàng kế bên có tiếng gọi với sang:

- Soại, Soại, có phải Soại đó không?

Anh trả tiền xong liền đi về phía người đàn ông đang kêu anh. Nhìn người đàn ông và nhận ra Phố ngay:

- Phố phải không? Bán ở đây à. Nghe nói mày đóng quân trên Pleiku mà, ăn nên làm ra và thăng quan tiến chức lắm mà.

Phố cuời nhăn nhó:

- Còn mang cái thân về đây là may rồi, tau tuởng bỏ xác ở trên đường di tản rồi. Quan quân tướng tá chạy hết, chỉ còn lại tụi mình "ôm sô". Còn mày thế nào, vợ con ra sao? ở đâu rồi mà mình mày lang thang ở đây?

Soại trả lời:

- Gia đinh tau chạy từ ngoài trung vô, nay vợ con về lại ngoài hết rồi, tau định đi buôn bán chợ trời đây để đợi ngày đi trình diện.

Phố và Soại nhìn nhau, cái nhìn của hai nguời bạn học cùng lớp, cùng trường thời còn trung học ở tỉnh lỵ, một thị xã buồn thiu. Phố thì lanh lợi, bon chen, nhưng sức học trung bình. Đậu tú tài một là Phố đi Thủ Đức, còn Soại phải đợi đến ba, bốn năm sau, mài đũng quần trên ghế đại học mấy năm mới vào lính. Từ đó hai người xa nhau, cũng gần mười mấy năm, mỗi người sống một ngã, mỗi cuộc đời riêng. Soại thì ra lính tác chiến nên anh không có thì giờ đâu để liên lạc với bạn bè.

Bây giờ tình cờ gặp lại ở đây sau cuộc đổi đời lớn. Hai người đang mang trên vai bản án ngụy quân mà trên đài hay trong các cuộc họp, cán bộ thường lên án.

Soại kể lể:

- Tau định đến đây coi thử có làm ăn buôn bán được không? Mày biết gì chỉ tau với.

Phố sốt sắng:

- Chỉ mẹ gì, tau cũng mới vào nghề thôi. Ở đây không ai dạy ai, mày thấy cái gì bán được thì mày mua, mua đi bán lại. Thôi, tau cũng chẳng có vốn là bao nhiêu, tau mới vào nghề đâu khoảng mười ngày, mày muốn buôn bán ở đây mày chung vốn với tau, ít nhiều không thành vấn đề, mày ngồi bán, tau đi chạy hàng, chớ con vợ tau nó làm biếng quá, phụ giúp tau ngày đực ngày cái. Mày chịu không?

Soại ngần ngừ, anh thấy mình ít vốn mà chung với Phố biết chia chác làm sao đây. Khi đã chung thì dễ đụng. Thường thường, bạn bè, bà con, anh em, ở ngoài nhau thì rất thương quý nhau, nhưng khi có chuyện gì chung đụng như ở chung nhà, làm chung tiệm ăn, thì truớc sau gì cũng đổ bể, có khi còn nói xấu nhau, oán hận nhau, không nhìn mặt nhau nữa.

Soại nói thiệt suy nghĩ của mình:

- Tau chỉ còn có muời ngàn, tau chung với mày thì chia chác ra răng đây?

Phố giọng khoáng đạt:

- Tau bỏ vốn ra hai chục ngàn, buôn bán cả tuần nay, trừ tiền ăn cả gia đình ra, chắc lời đâu khoảng hai ngàn, coi như tau vốn hai chục, mày mười ngàn, lời ăn lỗ chịu. Khi mình đi trình diện, vốn được bao nhiêu chia tau hai, mày một. Chịu không, nửa tháng nữa thôi chứ có lâu lắc gì.

Soại nghe Phố nói cũng lọt tai. Với lại hai nguời cũng chỉ làm ăn chung một thời gian ngắn. Ngày trình diện theo thông báo của ban quân quản cũng gần kề. Trong thâm tâm, ai cũng chờ cái ngày đó đến, để trả nợ cho xong. Chưa đi trình diện cải tạo ai cũng như đang đeo trên mình một hòn đá tảng. Phải vứt bỏ cái hòn đá tảng đó đi. Mang trên người nặng đến oằn vai.




Chương Bốn


bk_5



Phố đạp xe đạp dọc theo đuờng Trần Huy Liệu. Ở đây là khu bán đồ "lạc xon" phồn thịnh nhất quận Phú Nhuận. Cũng là một hình thức chợ trời thu nhỏ. Sách báo cũ, quần áo cũ, giày dép cũ, đồ điện, radio, casette cũ. Hằm bà lằng đủ thứ. Phố đến đây để thu hàng. Cư dân thành phố sau cuộc đổi đời, không có việc gì làm nên thường tuồn những đồ đạc dư thừa trong nhà ra ngoài để kiếm tiền đi chợ. Với con mắt nhà nghề của một sĩ quan truyền tin cũ, Phố tìm mua lại những đồ dùng điện, máy móc, với cách đánh giá chính xác nên nhiều khi Phố trúng mánh. Hôm trước, có chiếc radio Philip cũ của nhà ai thải ra, trông bên ngoài hư cũ lắm, nhưng Phố coi máy móc biết còn tốt, anh mua về tân trang lại, bán cho một chàng bộ đội bắc kỳ, lời cả năm trăm đồng.

Cho nên khi có Soại về làm chung, Phố hay lấy xe đạp đi long rong ở các nơi bán hàng lạc xon, thấy món gì đuợc là mua.

Phố tấp vào một sạp lạc xon quen thuộc để lựa vài cái radio hay vài cái đồng hồ. Thứ này anh đem về chà láng, chỉnh sửa lại, bán cho bộ đội dễ dàng.

Nguời chủ sạp quen mặt anh, vồn vã nói:

- Có mấy cái đài cũ ngoài kia, anh có muốn mua ra ngoài bàn kia mà xem. Hàng cũng còn tốt chán.

- Rồi, để tôi ra xem thử sao.

Phố đi ra chỗ để radio cũ. Mấy cái radio ấp chiến lược, loại này Mỹ thường thả xuống cho bộ đội bắc việt vượt trường sơn, nếu họ lượm được sẽ mở nghe, đài chỉ mở nghe được những làn sóng phát thanh của Việt Nam Cộng Hòa với những chương trình kêu gọi hồi chánh. Số radio này Mỹ cũng phát xuống xã ấp để cho cán bộ hay hội đồng, nên phổ biến cũng nhiều. Bây giờ bộ đội tràn vào, nghèo tiền, nên có loại đài này rẻ, họ thường mua lắm. Phố loay hoay dò tìm tần số để nghe tiếng nói có còn rõ không, thì có ai đang đập vai anh.

Phố ngước đầu lên, một cô gái còn rất trẻ nhìn anh cuời. Phố trông thấy cô ta quen quen nhưng chưa đoán ra đuợc là ai. Cô gái lên tiếng trước:

- Anh là anh Phố phải không? Đại uý Phố đại đội truởng truyền tin trên Pleiku phải không?

Phố hơi choáng người. Cô ta là ai mà biết về Phố rành rẻ như vậy cà? Nhìn nét mặt Phố có chút ngạc nhiên lẫn lo sợ, cô gái bật cuời thành tiếng:

- Anh đừng sợ, em là Thủy Trúc đây, ca sĩ ở tiểu đoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị đây. Em đã đến hát ở đon vị anh mấy lần, anh còn nhớ không?

Phố à ra một tiếng, cái à ra và thở phào nhẹ nhõm làm Thủy Trúc càng cuời. Anh chàng đại úy ngày xưa chạy xe jeep lùn, ba hoa mai đen trên ve áo, cách đây chỉ mấy tháng, oai vệ bao nhiêu, bây giờ chỉ nghe một nguời lạ gọi đến tên và cấp bậc đã sợ xanh mặt rồi. Phố lấy bình tĩnh trở lại và cuời lớn:

- Thủy Trúc phải không? thế mà cô làm tôi hết hồn, tưởng là ai xa lạ chứ. Cô về đây bình yên chứ? Ông tướng đâu?

Phố biết Thủy Trúc là bồ nhí của ông tướng tư lệnh vùng hồi còn ở Pleiku. Thủy Trúc hát trong ban văn nghệ tiểu đoàn 20. Cô có giọng ca buồn, khàn đục làm cho mấy anh lính xa nhà trấn đóng ở vùng đất đỏ bụi mù này, nhớ nguời yêu không sao chịu thấu. "Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông nên mắt em ướt và tóc em ướt, nên em mềm như mây chiều trong. Phố núi cao, phố núi trời gần, phố xá không xa nên phố tình thân, đi dăm phút trở về chốn cũ, còn một chút gì để nhớ để quên". Giọng hát ấy đã cất lên trong một đêm văn nghệ do Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn tổ chức. Ông tướng ngồi duới, đăm đăm nhìn lên khuôn mặt ấy, mái tóc ấy, thân hình ấy. Thân hình mảnh mai của cô gái hai mươi tuổi, một giọng ca đang lên. Trong thời đại các "sứ quân" cát cứ từng vùng, tướng công muốn là trời muốn.

Bây giờ Thủy Trúc hiện nguyên hình một người thiếu nữ hai mươi bốn tuổi. Vẫn còn đẹp não nùng với chiếc quần jean bó sát, với chiếc áo thun xanh ôm sát thân thể căng tròn.

Thủy Trúc nói:

- Khi Pleiku ruc rịch di tản, ông tướng có phone cho em, báo cho em theo trực thăng về Nha Trang, nhưng em không đi được vì em còn mẹ và mấy đứa em, bỏ đi sao đành. Đến khi có lệnh di tản thật sự, em đi theo xe nhà binh của tiểu đoàn hai mươi. Giữa đuờng thì thất lạc hết. Cả mười ngày sau em mới về đến Sài Gòn đó anh.

Phố cũng nói về mình:

- Tôi cũng di tản theo Quân Đoàn, nhưng sau đó thì mạnh ai nấy chạy, quan chạy theo quan, lính chạy theo lính. Tôi lạc gần một tuần trong núi, may mà có chiếc trực thăng bay qua vớt, không thì cũng chết trên núi rồi.

Hai người cùng một hoàn cảnh giống nhau. Ngày trước khi Thủy Trúc qua hát ở đơn vị anh, Phố thấy cô bé kháu khỉnh quá, anh theo đuổi và trồng cây si. Nhưng sau đó anh biết ông tuớng chiếu cố đến Thủy Trúc nên anh rút lui, như nhiều chàng thanh niên si tình khác lần lượt rút lui ra khỏi luới tình này. Ông tướng hung bạo và đê tiện, ai cũng biết điều đó, nên không dại gì dây vào để mang họa vào thân. Thủy Trúc như con nai lạc vào một nơi hang hùm miệng sói không lối thoát.

Những ngày ở thành phố Pleiku lại trở về với anh, thành phố đầy bụi mù trong những buổi sáng ở cà phê Diệp Kính, ngồi nhìn cà phê nhỏ từng giọt trong ly mà nhớ đến nguời con gái có giọng hát trầm buồn mê hoặc. Phố tự dưng thấy như mình sống lại giữa một vùng sương mù lãng đãng của dĩ vãng.

Anh nói thật nhẹ với Thủy Trúc:

- Anh về đây thất nghiệp, nên đi buôn bán chợ trời kiếm tiền độ nhật, đợi ngày đi trình diện học tập cải tạo. Còn Thủy Trúc làm gì?

Thủy Trúc vẻ mặt buồn thiu. Nàng kể lễ:

- Em chạy về đây một mình, ba má còn ở lại Pleiku, em chưa liên lạc được gì hết. Em ở tạm nhà con bạn làm ca sĩ hát phòng trà ở đây. Nhưng tình hình này thì hát hò gì nữa. Em chán quá. Một là em về lại Pleiku với ba má em. Hai là em tìm đuờng vượt biên. Biết anh là sĩ quan nên em mới nói thế.

Phố nghe đến chuyện vượt biên, tự nhiên lòng anh cảm thấy háo hức lạ thường. Về đây, anh đã bỏ hết một gia tài gom góp nhặt nhạnh từ ngày nắm giữ chức vụ chỉ huy đại đội truyền tin, anh nghĩ mình đa hết thời. Tiền bạc, gia tài, của cải, cũng là chuyện bèo giạt hoa trôi. Có ai chạy trên quốc lộ hai mươi qua những đồi núi chập chùng, cái chết chỉ là một thoáng nó đến với từng số phận. Lúc ấy, những quan quyền, công hầu khanh tuớng, giàu sang phú quý chỉ là phù du. Cái chết đến với từng người không chừa một ai. Phố đã thấy những người dân đang chạy trên đuờng, bỗng hai tay chới với đưa lên trời, quơ quào rồi ngã qụy xuống. Dòng người vẫn chạy qua, đạp lên xác chết mà chạy. Có người vừa chạy, vừa ôm cái ruột bị đạn bắn xuyên thủng, ruột đổ chảy lòng thòng ra ngoài, chạy một đoạn xa mới quỵ xuống. Trong giây phút ấy, Phố đã khấn nguyện Phật Trời, cho gia đình anh tai qua nạn khỏi, anh sẽ sống hiền lành, không bon chen giành giựt với đời nữa. Anh sẽ tu tĩnh làm ăn theo đúng nghĩa của nó. Kiếm đủ chén cơm mà bỏ vô miệng với một đời sống bình an là đuợc rồi. Nhưng thời gian đó đã qua, đưa đẩy anh đi buôn chợ trời, với một sinh hoạt mới, với những lợi nhuận anh cần có, anh cũng đã quên đi phần nào ý nghĩ hiền lành nhân hậu mà anh đã có trong đoạn đường di tản.

Đến bây giờ, nghe Thủy Trúc nói đến chuyện vượt biên, tự nhiên trong lòng Phố gợi lên một ý muốn ra đi cực kỳ. Một tháng trôi qua, ở trên khu lầu ba khu cư xá Thanh Đa, nơi gia đinh anh cư ngụ, buổi tối đi buôn bán về, đạp chiếc xe đạp qua con kinh nước đục ngầu, ngập mùi tanh tưởi, xú uế, từ dưới lòng kinh bốc lên. Anh bước từng bước chập choạng lên cầu thang tối om, đầy tiếng muỗi vo ve. Căn phòng không điện đóm vì khu này chưa xây cất xong. Cả nhà ngồi ăn cơm trong ánh đèn dầu leo lắt, tiếng người vợ thở than, tiếng con khóc. Anh nuốt vội miếng cơm rồi vô mùng nằm. Cuộc sống! Cuộc sống là như vậy sao?

Cho nên con nguời Phố như bật dậy với câu nói của Thủy Trúc. Anh nghĩ đến những tay tướng tá chỉ huy anh đã bỏ lính, bỏ đơn vị, bỏ đất, chạy từ lúc địch mới rập rình bên ngoài Sài Gòn. Miệng người nào cũng hô tử thủ, tử thủ! Tử thủ cái con khỉ mẹ nhà nó. Khi còn tại chức thì quyền hành, lính ma lính kiểng, tham nhũng, hối mại quyền thế. Đến lúc đất nước lâm nguy xách đít chạy ra nước ngoài trước tiên.

Phố nói nhỏ với Thủy Trúc:

- Thủy Trúc tính vậy cũng phải. Có điều kiện mình nên đi. Tôi thì chịu. Chạy từ Pleiku về đây hết sạch cả vốn liếng, còn cái xác đây là may rồi. Tôi không giám mong chi chuyện ra đi.

Thủy Trúc nhìn truớc nhìn sau rồi nói nhỏ với Phố:

- Anh muốn đi không? Em có người dì ruột có chồng dưới miệt Rạch Giá, dượng em làm nghề đánh cá. Em muốn xuống đó tìm đường đi, nhưng Rạch Giá em chưa biết bao giờ, em thân gái một mình đi sợ lắm. Hay anh đi với em, em còn một số vàng.

Phố nghe Thủy Trúc nói, anh rất cảm động. Cái tình cảm con người thật là quái dị. Ngày truớc, khi còn là sĩ quan, anh có thích Thủy Trúc nhưng nàng cách xa anh quá. Khi biết nàng là bồ nhí của ông tướng, anh bỏ ngay ý định theo đuổi mê muội ấy đi. Vì anh biết rõ tính tình ông tướng. Dây vào mà ông biết được, anh sẽ không còn được ở đơn vị truyền tin đâu, và cái chức đại đội trưởng béo bở sẽ không còn trong tay anh nữa. Lúc đó anh sẽ thân bại danh liệt vì một đứa con gái. Bây giờ, hai người gặp nhau trong hoàn cảnh này, hoàn cảnh của con người đã mất hết, không còn gì, họ dễ thông cảm nhau hơn, gần gủi nhau hơn.

Phố chợt chùng lòng khi nghĩ đến vợ con. Ba đứa con và một nguời vợ làm gì để sống khi anh bỏ đi. Nhưng anh chợt nghĩ đến người vợ lúc nào cũng nheo nhéo bên tai khi anh một ngày không làm ra tiền, cảnh này anh làm sao kéo dài được đây.

Anh nói:

- Anh không còn tiền vàng gì hết làm sao chung với em mà đi. Chỉ còn mấy chục ngàn chung với người bạn bán chợ trời câu cơm thôi. Anh không có điều kiện.

Thủy Trúc nói:

- Em thì rất cần đi, cần một người đàn ông để đi cùng, anh có bao nhiêu cũng đuợc, chuyện đó không quan trọng. Em có vàng, trong lúc tranh tối tranh sáng này, mình nên đi ngay. Anh về tính lại đi rồi mai em gặp anh lại ở đây, anh quyết định gấp và cho em biết ý của anh, không được thì em tìm người khác.

Thủy Trúc nói xong liền bỏ đi. Phố ngẩn ngơ đứng nhìn theo một hồi lâu mới trở lại công việc mua hàng. Bây giờ chuyện làm ăn nghe sao cũng chán quá. Anh không còn đầu óc đâu mà lựa tìm mua những cái radio cũ để bán lại cho mấy chàng bộ đội bắc kỳ, kiếm mấy trăm tiền lời. Bây giờ anh đang suy nghĩ đến lời nói của Thủy Trúc và lời chiêu dụ của nàng: Ra đi.



o 0 o




Cô gái ấy xuất thân từ một gia đình trồng cà phê ở Pleiku. Mấy mẫu cà phê cha mẹ nàng trồng và chăm sóc đủ nuôi ăn cho cả gia đình. Khi còn học trung học, Thủy Trúc khám phá ra mình có giọng ca hay. Nàng bắt đầu hát trong những đêm thi đua văn nghệ toàn trường. Đứng trên sân khấu, với chiếc áo dài tím, Thủy Trúc ca bài Hoa Tím Ngày Xưa được đám học sinh con trai hoan hô vỗ tay nồng nhiệt. Với thân hình mỏng manh, Thủy Trúc mang hình ảnh huyền hoặc, liêu trai, lãng đãng. Nàng ưa hát những bản nhạc tình buồn bã, những nhớ nhung thương tiếc, đắm đuối mê ly. Những "chàng" học sinh của phố bụi đỏ sương mù mê nàng như điếu đổ. Nhưng chưa lọt vào mắt xanh nàng một chàng thư sinh nào.

Pleiku là một thành phố lính, đủ mọi sắc lính. Thứ bảy, chủ nhật, bước ra phố là thấy những chiếc xe jeep nhà binh chạy chật đường với đủ mọi cấp bậc sĩ quan. Những bông mai đen được may vào cổ áo của những chàng trai trấn thủ lưu đồn tại miền đất tây nguyên này. Nàng đi học lúc nào cũng có một vài chiếc xe jeep kè kè phía sau. Nhưng nàng chưa yêu ai, chưa yêu ai thực sự.

Thi rớt trung học đệ nhất cấp, Thủy Trúc buồn bã và chán đời. Nàng xin vào Ban Văn Nghệ Tiểu Đoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị. Từ đó giọng hát nàng vang vang khắp các đơn vị quân đội tại Quân Đoàn II, Quân khu 2. Tiếng hát đó muốn được vuợt lên cao để về Sài Gòn như một Khánh Ly đã từ bỏ Đà Lạt về Sài Gòn, đi chân đất hát rong ở sân truờng đại học Văn Khoa và nổi tiếng. Tiếng hát này bị chận lại trong một đêm văn nghệ mừng ngày tái chiếm Tân Cảnh. Ngoài các tướng tá, sĩ quan thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, còn có thêm mấy ông tướng trong Bộ Tổng Tham Muu ra tham dự nữa. Đêm đó là đêm định mệnh cuộc đời của Thủy Trúc.

"Tướng công" là sứ quân lừng lẫy của quân đội miền Nam. Ông đã một thời làm mưa làm gió ở sư đoàn bộ binh, với nhiều thành tích động trời như buôn bán quế khắp cả vùng, cuỡng hiếp gái vị thành niên. Hồi còn ở sư đoàn, ông lập ra câu lạc bộ Phượng Hoàng cho sĩ quan ăn chơi, nhảy đầm thâu đêm suốt sáng, còn ông thì dùng nơi này để tuyển lựa những em còn trinh mà huởng thụ. Báo chí lên tiếng tố cáo, ông bị đổi đi, nhưng sau đó ông được nắm chức vụ cao hơn, quyền hành hơn. Bây giờ ông lên làm tư lệnh Quân Đoàn với uy quyền hét ra lửa cả một vùng, thì ai mà giám cuỡng nỗi lịnh của ông.

Tuớng công ngồi trên dãy ghế danh dự đầu tiên sát sân khấu. Thủy Trúc mặc cái mini jupe ngắn củn cởn phơi bày cặp đùi thon trắng ngần. Bộ ngực vươn cao, thanh tú. Khuôn mặt nhẹ nhàng mà huyền hoặc vô cùng. Nàng hát bản Nguời Yêu Của Lính, nếu em không là nguời yêu của lính, ai thương nhớ em chiều rừng hành quân... Một cái nhìn đầy ham hố và dục vọng từ khuôn mặt như con heo nọc của ông tướng xoáy quanh nguời Thủy Trúc. Ông tướng nghĩ đến thân thể còn trinh nguyên này mà đuợc đặt lên giuờng và ông cúi xuống...thì tuyệt bao nhiêu. Ông búng tay kêu sĩ quan cận vệ nói, mày lịnh cho thằng trưởng ban văn nghệ, bảo con bé sau khi hát xong lên phòng tư lịnh trình diện tao. Nguời cận vệ nói, tuân lệnh, rồi lui ra phía sau hội trường sân khấu.

Đêm đó, và nhiều lần sau đó, Thủy Trúc rơi vào tay ông tướng. Làm bồ nhí của ông tướng, nàng cũng có những quyền lợi riêng và những hãnh diện ngầm, như nàng đã đưa được người anh ruột đang tác chiến ở sư đoàn 22 bộ binh về làm việc ở Bộ Tư Lệnh. Những anh em thân sơ của nàng cũng lần lượt được về đơn vị không tác chiến. Sau đó là những vụ áp phe, mua quan bán tước mà nàng là môi giới. Nàng đã trổ tài vặt như một người đan bà kinh nghiệm sành sỏi, đã ỉ ôi với ông tướng để nàng được toại nguyện những đòi hỏi vật chất. Một nguyên tắc mà ai ai cũng biết, đã trở thành hiển nhiên trong cuộc sống, đó là đi "ngõ sau" bao giờ cũng linh nghiệm hơn đi ngõ truớc. Nàng chấp nhận cái thân hình phi nộn của ông tướng, mùi mô hôi dầu, râu ria lởm chởm, nhất là cái bụng phệ và cái đầu hớt ngắn của ông, như một sự đấu giá, một đánh đổi. Đánh đổi. Đấu giá cuộc đời nàng.

Ai ở cao nguyên cũng biết điều đó, với quyền uy ngất trời của tướng quân. Ai cũng bợ đỡ nàng để được lợi lộc hay tránh xa nàng để khỏi mang họa vào thân. Với Phố cũng vậy. Đem Thủy Trúc hát ở đon vị anh, anh ngồi ở hàng ghế đầu và anh đã mê giọng hát trầm buồn đó, mê tấm thân mảnh dẻ nhu sương khói, cùng đôi chân thun dài nhún nhẩy của nàng. Nhưng anh cũng "de" ra ngay, sau khi biết nàng là bồ nhí của ông tướng. Cho nên, đến mãi bây giờ, trong anh, những thèm muốn âm thầm vẫn còn tuôn chảy, đó là nổi khát khao chiếm hữu.

Tình cờ hôm nay Thủy Trúc đến và rủ anh đi vuợt biên, anh thấy phấn kích lạ thuờng. Mọi thất vọng, an phận của những ngày qua đã tắt ngấm trong anh. Bây giờ là sự ham hố uớc muốn vuợt thoát ra khỏi đất nuớc quá mạnh, khiến anh bị choáng ngợp, rủ rê anh đến những mộng tưởng khôn cùng.

Trong thâm tâm anh đã hình thành một tính toán, dự định sẽ hành động trong những ngày tới.



Chương Năm



bk_6




Đêm buông xuống khu chợ trời. Soại và Phố đang thu xếp dọn dẹp hàng vào những thùng, những hộp cạc tông và những xắc ma ranh. Tất cả lên xe ba gát chở gởi vào kho, đó là những phòng chứa hàng của những nhà gần đó cho thuê hàng tháng.

Phố nói:

- Mai mình bán ngày cuối nghe Soại, ngày mốt bọn mình đi trình diện rồi. Mai mình cố bán cho hết hàng, nếu không hết đem sang lại cho sạp bên cạnh. Tau đã nói với họ chịu rồi, chắc không lỗ lắm đâu. Mai mày ra sớm dọn hàng, tau lo tính tiền thu được, mình chia nhau rồi mốt "tan hàng cố gắng", "giữa đoàn hùng binh có tôi đi đầu hàng" nghe.

Soại bật cười vì cách ví von của Phố. Anh cũng đã có dự tính như vậy. Mai là ngày chót hai người làm ăn chung với nhau. Bao nhiêu vốn liếng anh đều bỏ vô mua hàng, mỗi ngày hai người chỉ lấy ra tiêu xài đủ tiền ăn. Tất cả Phố đều có tính toán ghi vào sổ sách hết nên Soại tin tưởng. Anh có một chút hạnh phúc nhỏ là nếu lần này anh có được một ít tiền lời, anh sẽ dành dụm gởi về cho Nại Hiên. Nại Hiên chắc sẽ ngạc nhiên và vui lắm. Anh sẽ kể cho Nại Hiên nghe chuyện anh đi buôn bán ở chợ trời chắc Nại Hiên sẽ không tin được. Nhưng có tiền dư, gởi về phụ nàng nuôi con, nàng sẽ không nói là anh vô tài bất tướng nữa. Sau khi gởi xong hàng, Phố đạp xe về Thanh Đa còn Soại thì đón xe buýt về hướng Ngã Tư Bảy Hiền.

Bước chân lên tầng thứ năm của căn building. Đèn các căn phòng của dân ngụ cư đã sáng lên bên trong, còn khu hành lang thì vẫn tối mù. Mệt. Một ngày dang ngoài nắng, chào mời đủ mọi hạng người, Soại thấy mệt mỏi vô cùng. Ngày trước, mới ba bốn tháng trước đây thôi, anh còn chỉ huy một đại đội tác chiến. Một "lệnh" anh nói ra, cả hơn một trăm người lính đều phải tuân theo răm rắp. Thế mà trong một thời gian ngắn, tất cả đã đổi thay. Anh không tiếc cái chức vụ anh đang nắm và quyền hành anh đang có, sá gì những chuyện vô thường ấy. Nhưng, mỗi lần đứng bán hàng, nài nỉ ỉ ôi với khách để kiếm chút tiền lời, anh thấy như mình đã đánh mất đi một quảng đời tuổi trẻ đầy mộng mơ, đầy khát vọng.

Tiếng bước chân kéo lê trên cầu thang nghe buồn thảm, âm điệu nhão nhoẹt. Soại muốn về phòng sớm, ăn qua quít cái gì đó rồi ngủ. Giấc ngủ sẽ dỗ dành anh, vỗ về anh, đưa anh về vùng tuổi thơ, ở một nơi chốn miền quê hoang dã, anh tung tăn với cánh diều, với đàn trâu. Không suy nghĩ. Không bận bịu. Hay anh sẽ về với Nại Hiên và các con. Sẽ ôm Nại Hiên và các con trong lòng.

Cánh cửa của một căn phòng mở ra, căn phòng vợ chồng anh Đông, trung úy trưởng chi cảnh sát quận, cũng di tản từ ngày miền trung mất, chạy tấp vào đây.

Vợ anh Đông mở cửa, vẫy tay gọi Soại:

- Anh Soại, anh Soại, vào đây tôi nói cái này.

Nhìn dáng vẻ và kiểu cách, Soại thấy chị Đông có điều gì quan trọng muốn nói với mình. Tuy ở cùng quê, và nay thì cư ngụ cùng một dãy lầu chung cư, nhưng anh ít giao thiệp với gia đình Đông lắm. Biết nhau thôi. Ở cùng chung một dãy lầu, đi ra đi vô chào nhau một tiếng, hỏi vài ba câu chuyện, rồi phần ai nấy đi, công chuyện ai nấy làm. Hôm nay có chuyện gì mà chị Đông gọi anh cần kíp vậy?

Soại quay đầu lại hỏi chị Đông:

- Có chuyện gì vậy chị?

Chị Đông ngoắc tay cho anh lại gần rồi nói nhỏ với anh:

- Hồi sáng nay bà Mậu, vợ ông dân biểu Mậu, chủ building này, dẫn du kích phường tới đây, hăm dọa tụi tôi quá trời. Bà nói tụi mình phải dọn ra khỏi đây gấp gấp chứ mai mốt bà vào mà thấy mình còn ở đây, bà kêu du kích bắt đi cải tạo hết. Bà hăm thế, anh lo mà liệu đi tìm chỗ ở đi.

Soại biết điều này trước sau gì cũng xảy ra, nhưng anh chẳng có gì lo lắng. Ở đây chỉ là ở tạm trong những ngày di tản. Bây giờ vợ con anh đã trở về quê, ngày mốt anh đi trình diện, căn phòng này sẽ trả lại cho chủ. Anh đâu có ý ở lỳ để chiếm hữu đâu.

Soại trả lời chị Đông:

- Phần tôi khỏi lo. Mốt tôi đi trình diện rồi, sẽ trả phòng lại chủ thôi. Anh Đông cũng đi trình diện chứ chị?

- Đi chớ sao không, nhưng mà ảnh đi trình diện rồi không biết tụi tôi ở đâu đây, khổ quá. Tôi không dám về quê vì ổng làm trưởng chi cảnh sát nhiều tư thù tư oán lắm.

Soại nói để an ủi chị Đông:

- Anh đi mười ngày rồi về chứ gì mà chị lo dữ vậy. Hay chị cứ nói với bà Mậu thuê lại căn phòng này cho mẹ con chị ở, chờ ngày anh Đông về. Chứ loại phòng này tụi mình không ở, ai mà thuê.

Chị Đông nói trong nước mắt:

- Thật khổ cho thân tôi, người gì mà ác nhân ác đức, mới đây, mới đó mà quay mặt liền. Ngày nào về vận động tranh cử ở quận tôi, ông bà Mậu đến nhà tôi luôn, năn nỉ ỉ ôi ông nhà tôi kiếm phiếu cho ổng. Bây giờ lại trở mặt ngang.

Soại im lặng. Anh gật đầu chào chị Đông rồi đi về phía phòng mình. Mở cửa ra, căn phòng nóng hừng hực. Anh để nguyên áo quần nằm lăn ra giường, nhắm mắt lại.




bia_mau_he

bìa Mẫu Hệ

(xb 2004)



Tr
ần Yên Hòa
(còn tiếp)



Khúc Đợi Tình – Thơ Trần Yên Hòa. Nhạc: Vĩnh Điện. Tiếng hát: Tâm Thư






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 9034)
Đẹp ngẩn ngơ cái nắng Tam Kỳ. Nhuộm vàng phố nhỏ chút tình si. Rợp bóng con đường hoa bò cạp. Ngày xưa qua đó tuổi xuân thì. Hoa nở lung linh màu nắng mới. Em có về trên phố nắng trưa. Ngày đi mang cả mùa hạ nhớ. Rơi đầy trong gió sắc hương
06 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 9579)
Với tôi, đó là thước đo hay, chỉ dấu rõ nét nhất của một tài năng văn xuôi. Và, với “Sấp Ngửa” (phần truyện ngắn), Trần Yên Hòa xứng đáng được nhìn như thế.
02 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 6636)
Sấp Ngửa, tác phẩm mới nhất của Trần Yên Hòa ra mắt tháng 5 năm nay (2016), sau khi vừa tái bản truyện dài Mẫu Hệ, như là một kết hợp vừa tân truyện vừa vẽ lại chân dung một số bạn văn đa phần người cùng quê anh. Sách dày hơn 350 trang, khổ lớn, trình bày in ấn đẹp, trang nhã, phát hành song hành trên amazo
27 Tháng Năm 201612:00 SA(Xem: 5550)
Vẫn giọng thơ Hoàng Lộc cách đây năm mươi năm, vẫn văn phong, ngôn ngữ ngời ngời, lồng lộng mà chỉ Hoàng Lộc mới có. Đến bây giờ anh đã trên bảy mươi, một chuổi tháng năm dài với thơ không mỏi mệt
26 Tháng Năm 201612:00 SA(Xem: 9160)
Gã nối kết những tay em với danh từ rất kêu, rất nghĩa hiệp. Những điều mà ai cũng cố tìm ở nơi lưu lạc, nơi xứ sở lưu vong này một chữ tình. Phải, đúng vậy chớ, là chúng ta mất hết chỉ còn có nhau