DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,955,055

TƯỚNG PHAN TRỌNG CHINH VÀ ...TÔI - Nguyễn Trọng Hoàn

Monday, October 8, 201212:00 AM(View: 10125)
TƯỚNG PHAN TRỌNG CHINH VÀ ...TÔI - Nguyễn Trọng Hoàn
TƯỚNG PHAN TRỌNG CHINH VÀ ...TÔI.



N
ăm 1967 chiến sự đang bước sang một bước khác. Việt Cộng, một mặt vẫn giữ sở trường cắn trộm là chiến thuật du kích chiến. Một mặt, đưa lính chính quy Bắc Việt xâm nhập miền Nam và phát động những trận đánh mang tính “quy ước bỏ túi” để mở rộng vùng hoạt động lớn hơn, xa hơn.

Cùng với diễn biến phức tạp cuả tình hình chính trị. . .Quân đội Mỹ đã tổ chức những cuộc hành quân phối hợp với Quân lực Việt Nam Cộng hòa trên quy mô lớn. . .

Tôi cùng 13 sĩ quan hăm hở bước ra khỏi cổng trường mẹ, với hào khí. . . “Chỉ ít năm sau thôi, cây can mà một vị tướng thường cầm khi đi thị sát mặt trận thế nào cũng lọt vào tay của mình. . .”
Tôi ra trường trong một bối cảnh như thế đấy, trong một tâm sự như thế đấy.

Con số định mệnh 13, làm bọn tân sĩ quan chúng tôi mất ngay cái hứng khởi dạt dào lúc ban đầu. . . Ông Đại uý có cái đầu hói, Vũ Hữu Soạn trưởng phòng 1 cầm tờ giấy tổng kết cuối cùng, về đơn vị cuối cùng trong cuộc “tranh nhau ra những đơn vị thiện chiến”. Ông huơ huơ tờ giấy:
- Sư đoàn 25 Bộ Binh 13 mống!
Cả khóa gần 200 người cười ầm lên.
Tôi đỏ mặt lên vì xấu hổ, phần vì cái sư đoàn 25 vô danh tiểu tốt, sinh sau đẻ muộn, phần vì con số 13. Thằng cùng khóa Doãn Thiện Niệm bắt thăm trúng Thủy quân lục chiến gắt với tôi:
- Mày vất cái mặt bí sị của mày đi xem nào, tao theo dõi tin chiến sự, Sư đoàn 25 có ông Tướng Nhẩy dù Phan Trọng Chinh, mới vưà có mấy trận Hố Bò, Bời Lời thắng lớn.
Tôi xì:
- Ồ chó ngáp phải ruồi.
Tôi nói như hét:
- Về cái sư đoàn cò con này thì bao giờ mới được cầm can hở trời? Còn con số 13 nữa, cha Soạn này, Đ. biết du di cái gì cả. Để xem trong 13 thằng, thằng nào bỏ mạng sa trường trước tiên.

Tôi nói đùa với Nguyễn Đức Thành khi hai đứa ngồi trên xe đò từ ngã tư Quốc lộ 1 vào Đức Hòa là nơi có Bộ tư lệnh của cái Sư đoàn thổ tả này:
- Đường xá, như thế này thì làm sao dù được về Sài gòn cơ chứ?

Vị Thiếu tá Tổng quản trị, tuy trông như sắp đến tuổi hồi hưu, nhưng rất trẻ tính:
- Chào hai ông Tướng nhà trời, còn 11 ông tướng nữa đâu rồi? Chắc còn bận thề non hẹn biển với mấy em gái hậu phương chứ gì?
Tôi mau miệng:
- Thằng nào cũng sợ là người số 1, hay người thứ 13 của con số xúi quẩy này, cho nên chẳng thằng nào dám thò đầu lên đây Thiếu tá ạ.
Vị Trưởng phòng vui vẻ:
- Hai ông mãnh, ai là người số 1?
Lẽ dĩ nhiên cả hai đưá chẳng thằng nào dám nhận, ông Trưởng phòng già phì cười:
- Không thằng nào dám nhận, tao coi như cả hai đứa là số 1. Tao sẽ thay Thượng đế cải xui thành hên cho hai đứa bay chọn Trung đoàn trước.
Tôi hỏi:
- Bố có thể cho chúng con biết Trung đoàn nào đóng ở chỗ nào không?
Ông Thiếu tá già cầm cây bút chì mỡ chỉ lên một tấm bản đồ “Lãnh thổ phụ trách” to tướng treo trên tường.
- Này xem đây, “Thằng” 49 đang ở Tây Ninh, Trung đoàn trừ đang quạp cơm sấy, cá khô ở Bời Lời, thằng nào muốn?
Cả hai chúng tôi đều nói:
- Cho qua đi bố.
- Mới ra trường đã rét rồi hả các con?
Thành gãi đầu:
- Chả là con có nghe câu truyền miệng:
Đường dài là đường Trần Hưng Đạo.
Gái xạo là gái Tây Ninh!

- Thôi xin bố tha cho chúng con làm phước.
Ông lão vẫn vui:
- “Thằng” nữa là “ thằng” 50 đang đóng tại Củ Chi.
Hai chúng tôi đồng loạt:
- Củ Chi, Chỉ Cu! Nghe đã nhột rồi. Bố cho qua luôn nghe bố!

Ông già di ngòi bút xuống một vùng có mầu xanh bát ngàn của đước, bần và dừa nước. Ngọn bút của ông dừng lại một huyện lỵ có một con sông xanh ngăn ngắt, có chỗ thóp lại như cái vòng eo con gái, có chỗ phình ra như cái bụng cuả một thiếu phụ đang mang bầu, đang ôm ấp rạo rực.
- Thằng 46 này đóng bản doanh tại Cần Giuộc, năm vừa qua, có hai sĩ quan tử trận...
Thành ngạc nhiên:
- Cả năm mới có hai sĩ quan tử trận trong một chiến trường khốc liệt như thế này thì có gì lạ hả bố.
Ông Thiếu tá già cười hinh hích:
- Cái lạ là chúng chết. . .Trên giường của các em nội tuyến Việt Cộng, ngay sau khi chén xong bát cơm mới chợ Đào mới chết chứ! Hai thằng bay có muốn theo chân đàn anh ấy không? Khoái gái Long An rồi hỉ?
Thành lại đía:
- Thà một phút huy hoàng rồi phụt tắt, bố ạ.

Ông Thiếu Tá già gấp tập hồ sơ lại:
- Bây giờ nói chuyện nghiêm túc. Mời hai ông “Tướng” ra Đức Hòa ăn cơm, đúng 2 gi
, sửa sang quân phục, vào trình diện ông Tướng thật, nhớ đúng giờ nghe mấy cha nội.
Nghe đến ông Tướng thật này, tụi tôi đã mất hứng, vì những lời đồn đãi vì tính “réc lô” của ông ta.

Đúng giờ. . .Tôi và Thành đứng trước văn phòng Tư lệnh, cửa mở toang, chúng tôi dáo dác tìm sĩ quan Chánh văn phòng, nhưng không thấy.
Tôi bảo Thành:
- Chẳng thấy ma nào cả.

Tôi tiến đến gần một ông, có lẽ là hạ sĩ quan, đang mặc cái áo thung, quần lính, đang ngồi ở tam cấp bên cạnh:
Thành hỏi:
- Ê, chú lính kia, văn phòng văn phiếc cái gì mà chẳng có một mống nào cả là làm sao?
Ông hạ sĩ quan hỏi:
- Mấy ông mới ra trường hả, sao thấy không khí tác chiến thế nào?
Thành bỗng ra oai:
- Bộ ông là lính mà muốn cà giỡn với sĩ quan hả ?Tôi hỏi ông Văn phòng có làm việc không?
Tôi nhìn ông lính già còm cõi mà thương, ông già hình như vẫn quen bị quát nạt, vẫn từ tốn nói:
- Hình như Thiếu tướng vừa đi thị sát mặt trận về thì phải, còn Thiếu tá Chánh văn phòng, vợ đau, đi phép rồi. Các Thiếu úy chờ một chút đi!
Thành kéo tay tôi:
- Tao với mày trở lại phòng Tổng quản trị giả lã với ông già gân kia một chút rồi dọt lẹ. Con bồ tao nó đang chờ ở Sài Gòn.

. .Vị Thiếu tá già cười:
- Sao g
p “Sếp” xong rồi phải không? Sự vụ lệnh đây, tớ viết cho các ngươi trước hai ngày. Chơi vừa vừa thôi nha, mào gà với thổ lậu không theo quý con đi hành quân được đâu đấy. Mà “sếp” hôm nay sao ban huấn từ ngắn gọn vậy?
Thành trả lời:
- Văn phòng Tư lệnh gì mà vắng như cái chùa Bà Đanh, Chánh văn phòng chẳng thấy, Tướng. . . Tiếc cũng chẳng thấy?
Vị thiếu tá há hốc mồm:
- Các con nói sao? Chính bố mày đây, mới đem sự vụ lệnh của mấy con cho ổng ký, các con nói chi lạ rứa?
Vẫn Thành:
- Không thấy ai thì nói không thấy, chúng con nói dóc bố hả. Đã thế còn g
p thằng cha lính già nói năng lôm côm.
Vị Thiếu tá hỏi dồn:
- Ông già nào?
Thành bực tức:
- Thì cái thằng lính già hay hạ sĩ gì đó, mặc cái áo thung cháo lòng, ăn nói cà trớn!
Ông Thiếu tá hỏi dồn:
- Rồi các ông nói với ông ta làm sao?
Thành nổi nóng thật sự:
- Bố ơi, Bố làm sao vậy? Lính ra lính, quan ra quan. Con chửi vào mặt nó rồi!
Nét mặt của vị sĩ quan già bỗng xạm lại:
- Chết cha các con rồi, các con ơi. Ông đó là ông Tướng Tư lệnh đó!
Mặt Thành không còn hột máu, ông Trưởng phòng vừa lôi hai đứa chúng tôi trở ngược văn phòng Tư lệnh vừa nói:
- Đúng là con số 13.

Hai thằng tân sĩ quan mi ra trường ngổ ngáo, coi trời bằng vung, biến thành hai con chi chi, trong khi ông lính già lúc nãy, biến thành ông Thiếu tướng Tư lệnh Sư đoàn trong quân phục Nhẩy dù với hai ngôi sao lấp lánh trên ve áo, đang vừa uy nghi, vừa như hai tảng băng ngồi kia.
Thành biết tội, xưng danh như hét:
- Thiếu úy Nguyễn Đức Thành, số quân 65/ 119….. . Trình diện và xin lỗi Thiếu tướng!
Sau đó đến lần tôi, tôi cũng trình diện như thế nhưng bỏ hai tiếng xin lỗi đi.

Thiếu tướng Chinh, đứng phắt dậy, với một động tác nhanh, gọn, cứng cáp ông dơ tay chào lại. Con “tim non” cuả hai thằng tôi nhẩy nhót trong lồng ngực cho đến khi ông vừa cười, vừa bắt tay chúng tôi.
Ông hỏi Thành:
- Tại sao cậu xin lỗi tôi?
Thành bẻn lẻn:
- Tại tôi vừa. . .chửi Thiếu tướng!
Thiếu tướng Chinh cười ha hả:
- Không biết, không có tội. Vả lại cậu chỉnh tớ lúc đó là phải. Phải vào tay tớ, tớ còn hoạnh họe cho ra nhẽ. Xem “cái anh chàng” đó cấp bậc gì, làm ở phòng ban nào, giờ hành chánh sao lại ăn vận như thế nữa cơ?

Sau khi thân mật hỏi han, khuyên bảo cách cư xử với những người lính sao cho công bằng, sao cho có tình thân, tình người. Ông chấm dứt phần thuyết giảng:
- Hai Thiếu úy đưa sự vụ lệnh đây.
Ông lấy bút hí hoáy cái gì rồi trao cho chúng tôi, ông đứng lên vỗ vai từng đứa:
- Tôi hy vọng sẽ đến tận mặt trận gắn huy chương cho các bạn, gắng lên nghe.
Chúng tôi hớn hở mang cái không khí ấm áp ấy ra về. và chúng tôi còn thấy ấm áp hơn khi thấy hàng chữ ông viết trên sự vụ lệnh:
“Cho đương sự đi phép 4 ngày, trước khi trình diện đơn vị mới”
T
ôi kể câu chuyện nhỏ này như một tấm lòng của một thuộc cấp đối với vị chỉ huy đáng kính của tôi.



Tôi có đọc bài viết của ông Đặng Văn Nhâm mạt sát các tướng lãnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trong đó có hai vị Tướng mà tôi đã là thuộc cấp là Tướng Đỗ Cao Trí và Tướng Phan Trọng Chinh.

Từ ngày mất nước đến giờ, tôi vun bón một thói quen có từ ngày còn mũ mão: Chỉ nên đánh giá thượng cấp của mình qua tinh thần phục vụ Quân Đội, đạo đức và phong thái của vị đó đối với thượng cấp và thuộc cấp của ông ta. Còn kỳ dư, tôi trộm nghĩ, chúng tôi là những người xuất thân từ các trường quân sự, chứ không phải từ các nhà tu. Do vậy, trong khói súng trận mạc vô tình và tử sinh cận kề, có lúc chúng tôi sa đà vào những cuộc tình chằng chéo, cũng như lầm lẫn một cách tự tin vào sự chính đáng và không chính đáng với những cái tặc lưỡi:
- Không biết ngay đêm nay, hay chiều mai mình có còn được sống trên cõi đời mong manh này nữa không nhỉ?

Tuy nhiên đa phần những người lính trận chúng tôi, thường biết dừng lại ngay lằn vạch của đạo lý. Còn đối với những người không tự chủ được, chúng tôi cũng không lên án họ. Chúng tôi chỉ kiên quyết, thậm chí khinh bỉ khi thấy chiến hữu mình có tinh thần chủ bại, tránh né mặt trận đang diễn ra phía trước.

Tóm lại, trong chiến tranh, chúng tôi nhìn vào vị chỉ huy, đồng môn, đồng cấp với mình. Thuộc cấp của mình bằng việc làm, sự cống hiến cho Đại cuộc của người đó chứ không phài con người phàm tục của người đó. . .
Thói quen thứ hai mà tôi vun bón tóm gom chỉ vào một chữ Nhẫn, mà tôi treo trang trọng bên cạnh di ảnh của mẹ tôi, người đã mặc khải cho tôi về cái cương nhược của triết lý nằm lọt thỏm trong một chữ này. . .

. . . Tôi cũng đã học thuộc lòng bài Tự Tình Khúc của Cao thánh nhân, cái thái độ dung dị của một người, lên chưa tới mình voi, xuống thì xuống hơn con chó: “Buổi sáng còn ngồi xử án trên chốn công đường. Buổi chiều đã là thân tội đồ ngay dưới chiếu!”
Nhờ vậy, khi bị ném vào trại cải tạo, trong khi bạn bè tôi cứ điên tiết lên khi phải tiếp xúc với bọn hạ tiện quản giáo. Tôi khuyên họ chỉ có một câu:
- Nếu họ cao sang, họ chẳng phải bọn giá áo túi cơm, chẳng phải là Việt Cộng. Và giá như bây giờ tôi sẽ thêm vào: Chẳng phải thứ bìm bìm leo giậu đổ như ông
ĐVNhâm! Vì, đối với những người lính chúng tôi, phần đời đáng sống nhất đã sống rồi. Phần đời tủi nhục nhất đã tủi nhục rồi.

Cho nên bây giờ khi mất gươm quy khứ, có bị liếm mặt cũng không sao bởi có thấm thía gì đâu với quá khứ vừa hào hùng, vừa nhục nhã vừa qua kia chứ!

Thói quen thứ ba tôi cũng đang “củng cố” là: Phải cẩn thận khi viết! Phần này, tôi nghĩ tào lao theo kiểu lính tráng: Văn học là nhân học, có nội hàm là con tim, có ngoại diện là văn chương, mà Văn là đẹp, Chương là sáng. Chủ về Nghĩa tâm can, chứ không chủ về Chữ phù phiếm.
Ông Duyên Anh chết đi để lại vài lời ong tiếng về cách hành xử ngổ ngáo của ông, nhưng ông cũng đã để lại cho kho tàng văn học những cuốn sách có giá trị mà ngay cả những người đố kỵ ông ta, cũng không thể phủ nhận được. Tôi chỉ muốn nhắc một câu nói bổ bã trong khi ruợu vào của ông:
- Cần
đ. gì phải quan tâm đến dấu chấm phẩy, chờ khi nào VN có hàn lâm viện hẵng hay, chấm phẩy sao chẳng được, miễn sao diễn đạt được cái ý của mình.

Phải cẩn thận khi viết”. Bút sa thì gà chết, bạn có thể bao biện về ngôn từ của một câu văn, nhưng nếu bạn có liêm sĩ, bạn không thể lấp liếm cái Nghĩa của câu mà vì sân si hỉ nộ nhất thời, bạn đã phóng bút viết ra.
Ông Đặng Văn Nhâm, sau nhiều bài viết, có dụng ý của một người “ Đốt Đền”, thấy dư luận, nhất là dư luận bất lợi từ những người một thời mặc áo lính, ông có viết một bài phân trần. Thường thì, đọc xong một bài phân trần của ai, người có lòng nhỏ nhen đến mấy, lòng cũng thấy dịu lại. Nhưng đọc xong bài của ông Đặng Văn Nhâm. Những người giận ông lại đâm ra thù ông. Còn bản thân tôi nghĩ ngay đêm một anh chàng say rượu, có bộ dạng như anh Chí Phèo, tay cầm mấy cái mảnh chai. Chân nam đá chân chiêu, vừa như phân giải, vừa như đe dọa:
- Thằng nào con nào bảo nhà ông say, ông đánh cho bỏ mẹ đấy.
Người lớn trẻ con, tránh dạt qua hai bên đường. . .



Tôi lại trở về với bà mẹ Nhẫn của tôi. . .
Nhà tôi ngay trong lòng chợ Hóc Môn, khi anh em chúng tôi bắt đầu khôn lớn. Mẹ tôi gửi tứ tung anh em chúng tôi đến các cậu, mợ, cô, dì để trọ học. (Chắc vì có chút chữ nghĩa nên mẹ tôi muốn nghe theo lời khuyên của Mạnh mẫu không muốn con mình bị ám trong không khí của chợ búa chăng?)
Có một buổi sáng chủ nhật, tôi bỗng choàng dạy khi nghe thấy tiếng ai quát nạt ngoài cửa:
- Bà Tú đâu, sao cứ đổ nước lên sạp của tôi thế này?
Hình như mẹ tôi đã để sẵn một cái rẻ lau, tất tưởi chạy ra, vừa lau vừa xin lỗi:
- Xin lỗi bà, xin lỗi bà.
Chị tôi giận lắm, nói với mẹ:
- Sao mẹ hiền thế, cái sạp cá của bà ta, cách xa cửa nhà mình hàng mấy thước, nước nào, ai đổ mà sáng nào bà ta cũng sinh sự với mẹ vậy?
Mẹ tôi cười hiền từ:
- Ối dào, lời lẽ đâu mà chửi lộn với họ cơ chứ?
Ngày mẹ tôi chết, bà hàng cá ấy đã bỏ cả mấy buổi chợ để đến giúp tang. Khi hạ huyệt, tiếng khóc của bà ta lại nghe rất bi ai thảm thiết!

Không biết bà ta tiếc, khi mẹ tôi chết rồi, không còn ai để bắt nạt, hay chữ nhẫn của mẹ tôi đã cảm hóa người đàn bà nanh nọc kia?



(Viết lại nhân ngày sinh nhật 14 tháng 11 cuả một ông Thày. . .)
NGUYỄN TRỌNG HOÀN

Chiều Trên Phá Tam Giang. Nhạc: Trần Thiện Thanh. Thơ: Tô Thùy Yên. Tiếng hát: Lê Uyên và Thiên Kim

Reader's Comment
Monday, March 4, 20138:00 AM
Guest
BBT đã post sai. Đã xoá hình. Thành thật xin lỗi tác giả. TYH
Monday, March 4, 20138:00 AM
Guest
Hình vị tướng trong bài là Chuẩn Tướng Không quân Phan Phụng Tiên, không phải là Trung Tướng Phan Trọng Chinh. Người đọc có thể nhìn thấy rõ tên Phạn Phụng Tiên trên ngực áo và chiếc mũ với huy hiệu của Quân chủng Không quân. Xin đề nghị Ban Chủ trương Website thay tấm hình này.
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Sunday, April 21, 20196:59 AM(View: 39)
Theo Lĩnh Nam chích quái, thời thượng cổ có hai anh em họ Cao là Cao Tân và Cao Lang rất giống nhau và rất thương yêu nhau. Khoảng năm 17 và 18 tuổi, cha mẹ từ trần, hai anh em đến theo học đạo sĩ Lưu Huyền. Đạo sĩ có người con gái khoảng cùng tuổi tên Liên. Hai anh em đều thầm yêu cô Liên, muốn cưới làm vợ. Cô gái biết được Cao Tân là anh, nên kết duyên cùng Cao Tân. Hai vợ chồng sống rất đầm ấm và hạnh phúc, nhưng người em là Cao Lang cảm thấy buồn rầu nên bỏ nhà ra đi, và qua đời bên một dòng suối sâu, hóa thành một cây cao (nhứt trụ kình thiên = một trụ chống trời). Cao Tân ở nhà, thấy em ra đi lâu ngày, liền đi tìm và cuối cùng thất vọng, gieo mình chết bên dòng suối, hóa thành phiến đá. Vợ Cao Tân đi tìm chồng, đến dòng sông, cũng buồn quá, gieo mình ôm lấy phiến đá mà chết, biến thành một dây leo quanh phiến đá. Ông bà họ Lưu đi tìm, tới đây quá đau xót, lập miếu thờ. Về sau, một hôm vua Hùng đi tuần tra, dừng chân nghỉ mát ở trước miếu, thấy cây xanh lá tốt mọc
Wednesday, April 17, 20197:09 PM(View: 29)
Mỗi người dân Việt trong tâm thức đều mang niềm kiêu hãnh là con cháu Tiên-Rồng. Bởi lẽ theo truyền thuyết, hai linh vật siêu nhiên này là vật tổ của Việt tộc - Lạc Long Quân và Âu Cơ - đã từ lâu hiện hữu trong tâm khảm của chúng ta như thủy tổ của giống nòi. Một cách cụ thể, hai linh vật này đã hoá thân thành tổ phụ người Việt, mang thuộc tính cao qúy của giống Rồng-Tiên, có phép nhiệm màu có thể bay bổng, lặn sâu, làm mưa, làm gió hay “hô phong hoán vũ,” phò trợ thị tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách của thời tiết khắc nghiệt của nghề nông và sự xâm lấn, hủy diệt của các thị tộc khác. Hai Linh vật này xuất hiện trong thần thoại dựng nước, sản sinh ra thủy tổ người Việt dưới hình thức một bọc trăm trứng của loài chim hoá thân. Đó chính là tiền thân của Họ Hồng Bàng, với 18 đời vua Hùng dựng nước. Khái niệm vật tổ Tiên-Rồng hoá thân dưới dạng Giao long, Lạc Hồng, Phượng Hoàng... là những sinh vật cụ thể hoặc siêu nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tâm linh hoặc sinh hoạt đời
Monday, April 15, 20197:53 AM(View: 57)
Theo bản tin Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 09/4/2019: Quy hoạch báo chí ‘vi hiến’, sẽ ‘làm thất nghiệp’ hàng nghìn nhà báo? Theo tìm hiểu của VOA, tính đến giữa năm 2018, Việt Nam có hơn 1.100 cơ quan báo chí các loại, gồm 857 báo và tạp chí in, 195 trang báo điện tử và tạp chí điện tử, 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương...” Báo Chí (Press) đã có từ xa xưa, kế đến là Truyền Thanh (Broadcasting) và Truyền Hình (Television - TV) thường gọi là Truyền Thông (Media), sau nầy có thêm Internet nên gọi là Truyền Thông Đại Chúng (Communication). Theo Wikipedia “Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet. Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là "seven mass media" (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến. Nó bao gồm: In ấn từ cuối thế kỷ 15. Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19. Điện ảnh từ khoảng năm 1900. Phát thanh từ
Wednesday, April 10, 20199:13 AM(View: 64)
Như một số bằng hữu thời chiến tranh miền Nam. Tôi ẩn trú trong giao-thông-hào-xanh của thơ Nguyên Sa. (*) Đó là những bài thơ tình như những trái bom lãng mạn. thăng hoa hoặc chia sẻ với tình yêu đôi lứa. Nó cấy mầm hân hoan giữa một đời sống bầm giập! Nó đẩy lui mọi bất trắc giữa hai đầu sống / chết của thế hệ chúng tôi. Mặc dù thời đó, cũng như bây giờ. Có đôi ba người (cũng làm thơ) Lại lên án những bài thơ-tình của Nguyên Sa. (Và thơ tình của những nhà thơ khác) Họ tuyên bố lén lút trong những họp mặt dăm ba người rằng. Thơ-tình thực chất chỉ là thơ… “tán gái!”. Họ có thể bị tiêm nhiễm bởi chủ trương: “…Nhà thơ cũng phải biết… xung phong?!?” Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ, mỗi người làm thơ. Đều tuyệt đối tự do với khuynh hướng riêng tư của mình. Nhưng khi những người này mạt sát “thơ-tình”. Thì tôi chỉ có thể hiểu: Do tỵ hiềm, mặc cảm. Họ là đám là dây leo trên cây cành thi ca Việt Nam phong phú. Họ kiến tạo những “thời sự…gỉa”.
Sunday, April 7, 20198:04 AM(View: 162)
Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, Hè năm 1971, tôi rời Nha trang để theo khọc Khóa 3 Trung Cấp CTCT ở quân trường cũ tại Đà Lạt. Sau khóa học, tôi về phục vụ tại Đà Nẵng và sau đó trở lại quân trường nầy cho đến ngày mất nước. Trong quãng thời gian đó, tôi thường về Nha Trang, nơi chốn tôi “dừng bước giang hồ” khi lập gia đình. “Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang... tất cả đã