DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,821,079

Mẫu Hệ - Trần Yên Hòa (chương 11 đến 15)

10 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 14130)
Mẫu Hệ - Trần Yên Hòa (chương 11 đến 15)




M
ẫu Hệ






bia_mau_he




Câu chuyện ghi lại giai đoạn từ 30/4/75 đến thời điểm có chương trình HO. Một cảnh đời bi thảm sau cuộc chiến. Người đàn ông bị tập trung cải tạo, đói khát, bệnh tật, lao động khổ sai, không ngày về. Người đàn bà ở nhà với đàn con dại, bị phân biệt đối xử, phải lao vào đời để kiếm miếng ăn. Những phản trắc, lọc lừa, ngoại tình, xác thịt, được viết một cách trung thực với đầy đủ vóc dáng và nhân diện của từng nhân vật. Trong truyện còn ghi lại một thời buổi nhiễu nhương của đất nước trước và sau 30/4/75: Các tướng công sứ quân cát cư từng vùng, Tôn giáo, Đảng phái, Sinh Viên Học sinh tranh đấu, rồi Hộ khẩu, Lý lịch, Tham ô, Hủ hóa...


Chuyện là hư cấu

Mọi nhân vật, không gian, thời gian trong truyện đều là sản phẩm của tưởng tượng

Trần Yên Hòa



* * *



Chương Mười Một



tranh_dc_1

(toàn) phụ bản là tranh Đinh Cường


Chiếc xe đò Minh Trung chạy Sài Gòn - Đà Nẵng đã ra đến Long Khánh. Xe chạy trên quốc lộ 1 đầy những ổ gà. Những trận đánh xảy ra tại đây khoảng hai, ba tháng trước còn để lại những vết sẹo chưa lành hẳn. Xe chạy nhấp nhô trên đoạn đường xấu, dằn lên dằn xuống như đi trên một chiếc thuyền giữa cơn sóng lớn. Nại Hiên một tay bế Anh Chi, tay kia cầm bình sữa cho Anh Chi bú. Hai bé Anh Thư và Đông Nghi ngồi chung một ghế đang lim dim ngủ. Trời nắng chói chan bên ngoài nên bên trong xe sức nóng càng hừng hực hơn, dù xe đã mở những cánh cửa chung quanh để cho gió thông vào, nhưng cũng không làm tan đi sức nóng của buổi trưa mặt trời đứng bóng. Ngồi bên Nại Hiên là một người bộ đội quần áo màu cứt ngựa, đầu đội nón cối xanh cùng màu. Người bộ đội mới đón xe ở ngã ba Vũng Tàu.

Khi xe chạy đến Ngã Ba Vũng Tàu, thì có người đứng bên lề đường ngoắc tay. Xe dừng lại. Người lơ hỏi:

- Anh đi đâu?

- Tam Kỳ.

- Một ngàn hai.

- Tám trăm đi không?

- Lên đi.

Người bộ đội nhảy lên. Người lơ chỉ vào chỗ của Nại Hiên và nói:

- Anh lên chỗ chị có ba đứa con, còn trống một chỗ, hai đứa nhỏ chỉ ngồi chung một ghế thôi, anh nói họ sắp lại dùm.

Người bộ đội đi dọc theo khoảng trống giữa xe, thấy ghế đã có hai đứa bé ngồi, anh nói với Nại Hiên:

- Tôi ngồi chỗ ghế này, chị làm ơn cho hai cháu vào ngồi một ghế dùm.

Nại Hiên khi lên xe thấy ghế còn trống nên nàng để cho con Anh Thư ngồi một ghế, Đông Nghi ngồi một ghế, còn nàng ngồi ghế giữa để trông hai con, nàng mong không có hành khách nào lên nữa để cho mẹ con nàng ngồi rộng rãi một chút. Nhưng nàng mừng hụt, bây giờ đã có người lên, nàng đành nói:

- Tôi mắc bế con bé, anh làm ơn bồng cháu để vào chung một ghế dùm.

Người bộ đội bế Đông Nghi đặt vào chung ghế với Anh Thư rồi ngồi xuống ghế trống cạnh Nại Hiên. Nại Hiên nói tiếng cảm ơn nho nhỏ trong miệng rồi ngồi im. Nàng không có cảm tình với bộ đội. Hình như từ ngày giải phóng đến nay, nàng chưa tiếp xúc lần nào với những người lính được gọi là bộ đội này. Danh từ bộ đội lạ hoắc. Ngày Soại còn trong quân đội, nàng đã mê màu áo trận, áo hoa rừng. Màu sắc ấy có một cái gì hùng hồn và lãng mạn nữa. Còn từ ngày giải phóng, bộ đội thay thế quân đội miền Nam, là những người bận quần aó xốc xếch, đội nón cối, mang dép râu. Hình ảnh này trông luộm thuộm thế nào ấy, không ra dáng vẻ của một đoàn quân chiến thắng.

Nại Hiên ngồi im và lơ mơ trong cơn mệt mỏi, hai tay nàng rã rời. Suốt hơn ba tiếng đồng hồ ngồi trên xe, nàng phải bế Anh Chi trên tay nên hai tay nàng rã rời. Anh Chi bú xong bình sữa đang thiu thiu ngủ. Nại Hiên muốn nhắm mắt một chút thì người bộ đội quay sang hỏi nàng:

- Chị về đâu?

Nại Hiên mở mắt nhìn người bộ đội, trông anh ta có vẻ ngố ngố, vừa quê mùa, vừa chất phát. Nại Hiên trả lời:

- An Tân.

- An Tân chị ở chỗ mô?

Nại Hiên bực mình, nàng sẳng giọng:

- Ở An Tân là An Tân chớ còn ở mô nữa.

Người bộ đội cười trông thật ngớ ngẩn, anh nói:

- Tôi người Tam Kỳ nhưng chiến đấu ở An Tân suốt mấy năm liền, tôi biết nhiều người ở An Tân lắm, sao tôi không biết chị?

Nại Hiên bật cười, nàng nói lại:

- Chẳng lẽ ở An Tân ai anh cũng biết hả?

Người bộ đội thấy mình hơi hố nên nói chữa:

- Không phải ai tôi cũng biết nhưng tôi biết nhiều lắm.

Nại Hiên nói:

- Tôi dạy học một trường trung học ở An Tân.

Người bộ đội nói:

- Như vậy thì tôi không biết là phải.

Nại Hiên cười, nhìn chàng bộ đội có những lời nói ngộ nghĩnh. Nàng không muốn nói nữa, dù sao sắc áo của anh chàng này mặc cũng đứng về phía bên kia của chồng nàng. Cũng có thể, trong những năm Soại đi hành quân trên vùng Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Trà Bồng, Tiên Phước, nếu họ gặp nhau chắc thế nào cũng bắn nhau ngay. Soại đã kể cho nàng nghe khi bắt được những tù binh của cộng sản, những khuôn mặt non choẹt đi nghĩa vụ quân sự đã van xin anh tha cho tội chết. Đến bây giờ, nàng đối diện với kẻ thù của chồng trên chuyến xe này, làm quen, thân thiện, sao được đây?

Xe đi ra đến Long Giao, những đồn đền cao su vẫn xanh lá, chạy theo hàng thẳng tắp như đến một nơi vô tận. Cao su, cà phê, chôm chôm, măng cụt, mảng cầu, là thổ sản của Long Khánh. Nhìn những vườn cây ngút mắt, Nại Hiên tự nhiên thấy lòng mình như nhẹ đi. Ước mơ ngày xưa của nàng chợt hiện về, khi đất nước thanh bình, nàng sẽ xin đổi về dạy ở Đà Lạt hoặc Long Khánh, nơi đó sẽ có những vườn rau cải xanh tốt, những vườn chôm chôm, sầu riêng trĩu quả. Và một cuộc sống bình lặng bên chồng bên con. Bây giờ cuộc đổi đời còn mới quá, để chồng ở lại Sài Gòn, nàng mang các con về quê một mình, nàng thấy mình cũng quyết định một cách vội vã quá. Nhưng nàng tin rằng ngoài đó còn có mẹ nàng. Đó như là một điểm tựa duy nhất. Sài Gòn thì muôn mặt quá nàng làm sao bon chen cho nổi.

Xe đang đi bỗng phải ngừng hẳn lại. Những mô đắp ngăn qua đường khiến cho tài xế phải dừng xe lại và nói với mọi người trên xe:

- Mời bà con xuống xe đi bộ qua phía bên kia cho, mô bị đắp chưa phá đi được, xe chạy trên đó rất nguy hiểm, mời bà con thông cảm xuống xe dùm.

Nại Hiên nghe câu nói bỗng ngớ người ra, nàng chưa dự tính có chuyện lên xuống xe bất thường này, với ba đứa con còn nhỏ dại quá, mỗi lần xuống xe đi bộ như thế này là một trở ngại, khó khăn lớn đối với nàng. Nàng vừa bế Anh Chi trên tay, còn hai đứa kia thì sao? Hai đứa đang ngồi trong một ghế, chúng tựa vào nhau như mê thiếp đi. Thật sự thì hai bé đã mỏi mệt vì ngồi trên xe quá chật, lại bị xóc lên xóc xuống, hai bé không khóc đòi mẹ là may. Nại Hiên nói với người lơ:

- Chú ơi! Tôi có ba đứa con nhỏ quá, xuống xe bế lên bế xuống sao nổi, cho tôi ngồi luôn trên xe được không?

Người lơ trả lời nhát gừng:

- Tùy chị, nhưng xe qua mấy chỗ đắp mô chị chịu nổi không? Xe xóc lắm, có khi ngã đổ luôn thì nguy hiểm lắm.

Nại Hiên thấy không còn cách nào khác. Nàng bế Anh Chi lên tay và tay kia cầm bình sữa. Nàng bảo hai đứa nhỏ:

- Hai đứa đi xuống đi, xe phải chạy qua mô đất nguy hiểm lắm, thôi đi xuống con.

Người bộ đội ngồi bên buột miệng nói:

- Chị để tôi giúp bế hai cháu cho.

Nại Hiên cảm thấy như nhẹ đi cái gánh nặng, cái gánh nặng phải dắt ba đứa con xuống xe rồi đi bộ một đoạn dài nữa, bây giờ có người bộ đội ngồi bên ra ý giúp đỡ, nàng thở phào nói lí nhí trong miệng:

- Cảm ơn anh.

Người bộ đội bế choàng Anh Thư và Đông Nghi, mỗi đứa một tay, đứng lên đi ra cửa xe và từ từ bước xuống đất. Nại Hiên đi theo sau bế Anh Chi. Nàng chỉ mang theo một cái xách tay nhỏ và cái khăn lau mặt. Nàng thấm mệt. Sự trở về như một sự đầu hàng hoàn cảnh, cuộc sống của nàng sẽ trôi giạt đến đâu? Đoạn đường đi về mới đầu đã quá vất vã. Cuộc di tản, chạy loạn đã qua, nàng thoát từ cái chết để tìm đến cái sống, như một sự sinh tồn. Lần trước, dù có ba đứa con mang theo nàng vẫn không thấy mệt mỏi. Sự ham sống mãnh liệt đã ghìm những mệt mỏi đó đi. Bây giờ sự trở về, gia nhập vào những cái cũ, mà còn thấp hơn, tệ hơn. Nàng chỉ mong xin được trở lại làm chân một cô giáo quận lỵ. Mong mỏi được một sự bình an sống bên chồng con. Có được không? Hình ảnh Soại chập chờn quanh quẩn. Nàng mong anh đi trình diện học tập xong trở về với nàng. Cái hào quang và mộng tưởng được làm bà nọ bà kia đã hết...chỉ còn lại sự bơ vơ lạc lõng bây giờ.

Người bộ đội bế hai đứa nhỏ đi trước, anh đi băng băng không ngoái lại. Đoạn đường bị đắp mô cao, gập ghềnh. Có những khúc gỗ lớn nằm giữa đường chắn ngang. Chiếc xe đò không có người ngồi trên, tài xế đang luồn lách tìm những chỗ ít vồng nhất để đi. Dầu vậy, đứng xa nhìn, chiếc xe như chạy trên những đợt sóng, chao qua, nghiêng lại. Nại Hiên cố bế Anh Chi chạy theo người bộ đội, nhưng anh ta đã đi quá nhanh. Hành khách cũng có những người già đi rớt lại phía sau nên nàng thấy an tâm. Đoạn đường bị đắp mô cũng ba, bốn trăm thước. Từ xa, người bộ đội đã dừng lại và thả hai đứa nhỏ xuống đất chạy loanh quanh. Anh Thư đứng từ xa ngoắc tay lia lịa:

- Me, me, con đây.

Nai Hiên đi theo đoàn người cùng chiếc xe đang lừng khừng, chậm chạp bò tới. Khi nàng đến nơi, Đông Nghi và Anh Thư chạy tới bám lấy chân nàng. Nàng nói với hai con như nói với người bộ đội:

- Con tới với chú bộ đội đi, nhờ chú bế lên xe, chứ me mắc bồng em.

Anh Thư phụng phịu nhưng con bé đã thấy me bế Anh Chi rồi nên nó tiu nghĩu quay trở lại với người bộ đội. Những hành khách cũng lục tục leo lên xe. Những bước chân nặng nề, mỏi mệt. Họ lê đôi dép nhựa trên mặt đường lệch xệch. Mới qua khỏi Long Khánh mà ai cũng đã thấy mệt. Đoạn đường còn lại sẽ đi qua bao nhiêu cái đèo, cái dốc, liệu có còn xuống xe đi bộ nữa không? Nại Hiên bế con lên xe trước, nàng chen chúc đi theo những hàng ghế, đến ngồi chỗ ghế của nàng sát bên cửa sổ, mong xe chạy, cánh cửa được kéo xuống, gió sẽ lọt vào cho mát một tí.

Một chặp lâu, người bộ đội mới dắt Anh Chi và Đông Nghi lên xe, hai đứa nhỏ chen nhau ngồi một ghế, người bộ đội cũng ngồi xuống chỗ của mình, anh nói:

- Một cháu qua đây ngồi trên đùi chú đi, chứ hai đứa ngồi một ghế, chật quá chịu sao nổi.

Vừa nói anh vừa bế Đông Nghi lên để trên đùi mình. Nại Hiên nhìn anh với lòng biết ơn. Nàng nói nhỏ:

- Cảm ơn anh.

Nói xong nàng thấy như mình vừa nói một câu quá nhẹ, như là một cử chỉ vỗ về âu yếm.




* * *



tranh_dc_0




Phải hai ngày hai đêm ngủ ngồi trên xe, nghiêng ngã, qua đèo Mang Giang, qua đèo Cù Mông, chiếc xe như bị níu kéo xuống dốc. Ngồi trên xe, Nại Hiên cứ cảm tưởng như xe sắp nhào xuống vực sâu. Xe nhào xuống đó, nàng sẽ chết, sẽ hết tất cả, hết hơi thở, hết ba đứa con, hết Soại, hết bà mẹ ở ngoài quê. Nhiều lúc thiếp ngủ trên chiếc ghế chòng chành khi xe đang đi qua giữa đoạn đường đèo, ngã nghiêng, nàng chợt giật thót người lên, chồm về phía trước. Nàng đang mơ một giấc mơ đầy kinh hoàng, hình như xe đang lao xuống hố. Nhiều lần như vậy. Khi xe về đến thị xã Quảng Ngãi, tâm trí nàng vẫn còn trong cơn hoảng loạn.

Xe đi qua khỏi Nước Mặn, Nại Hiên mới thấy an tâm. Nàng còn sống và trở về đây. Nàng sẽ gặp lại người mẹ già bằng xương bằng thịt chứ không phải là hồn ma bóng quế, không phải về báo mộng là nàng và các con đã rơi xuống một cái đèo nào đó. Gió bên ngoài thổi vào lồng lộng. Xe qua Nước Mặn rồi tới căn cứ Chu Lai, đến Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 6, nơi Soại ngày đó đã đóng quân. Ngày đó, nàng thường vào hậu cứ tiểu đoàn của Soại để hỏi thăm tin tức chồng. Anh đang hành quân ở đâu đó, Ba Gia, Đồng Ké, Núi Tròn, Sơn Tịnh, Nghĩa Hành hay Quế Sơn, Tiên Phước. Mỗi nơi anh đến là mỗi lo âu thấp thỏm của Nại Hiên. Vợ lính. Vợ lính. Sao vợ lính khổ thế này. Anh đi biền biệt. Rồi anh trở về như cơn lốc. Rồi anh lại đi. Bấy giờ mới cách đây ba tháng chứ có lâu lắc gì. Căn cứ Chu Lai đã đổi chủ. Một bản hiệu dài thòng trên tấm bảng đỏ: Doanh Trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Nại Hiên nhìn tấm bảng mà nghe lòng buồn quá.

Xe chạy qua An Tân. Sắp về đến nhà rồi. Bình Yên. Ôi! Sự bình yên quá mỏng manh. Nàng âm thầm cầu nguyện: "Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát."

Nại Hiên đưa mắt ngó quanh. Có đúng nơi đây không? Nơi nàng đã sinh ra và lớn lên. Chẳng lẽ nàng không nhớ. Khu chợ nối xuống bến sông. Nhà nàng trên kia, con đường đất đỏ không sai chệt vào đâu, mà sao nàng thấy lạ lẫm. Nàng nói vói lên với người tài xế:

- Chú cho tôi xuống, chỗ ngã ba chợ.

Người tài xế quay lại nhìn nàng không nói gì và cho xe tấp vào lề. Nại Hiên quay sang nói với người bộ đội:

- Anh làm ơn thả con bé xuống dùm tôi.

Rồi nàng vừa tay bế, tay dắt hai đứa con bước xuống xe. Bước xuống xe, cơn nắng đã xộc vào người nghe hừng hực, chói chan. Hai bàn chân tê rần, Nại Hiên phải dậm dậm xuống đất cho máu lưu thông. Đã hai ngày hai đêm ngồi một khoảng nhỏ trên xe, lại bế đứa con nhỏ trên người, làm sao không tê chân cho được. Người bộ đội thả hai đứa bé xuống lề đường rồi đưa tay vẫy, trong khi các lơ xe bỏ hành lý của Nại Hiên xuống và tài xế rồ máy chạy đi. Sự lo lắng về đồ đạc cũng như ba đứa con làm nàng quên cám ơn người bộ đội. Khi xe chạy một khoảng xa và nàng tìm cách chuyển những va ly về nhà, nàng mới chợt nhớ ra là mình đã quên một lời cám ơn. Dù gì, trên đoạn đường gần một nghìn cây số đã qua, nếu không có người bộ đội đó chắc là nàng đã quá vất vã với ba đứa con. Nhưng chuyện cũng đã qua rồi.


Chương Mười Hai



tranh_dc_3



Bà Ngọ đang ngồi nơi hiên nhà bếp xắt rau cho heo ăn thì nghe tiếng chó sủa ngoài đường, khiến bà ngó ra. Ba chiếc xe đạp thồ chở ba mẹ con Nại Hiên và hành lý tấp vào trong sân. Bà dụi mắt để nhìn cho kỹ. Đúng là Nại Hiên và ba cháu ngoại của bà đã về. Sự lo lắng của bà từ ba tháng nay, kể từ ngày nghe tin Nại Hiên ở Đà Nẵng theo tàu di tản vào Nam. Từ đó đến nay bà bặt tăm tin tức. Mấy người con trai lớn của bà cũng biệt tin từ ngày đó, ngày những người mang súng từ trên núi xuống tiếp thu quận lỵ và cơ quan hội đồng xã.

Bà im lặng nghe ngóng tin tức, nhưng những tin xấu cứ một ngày một lan rộng ra. Mất Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Nha Trang rồi Long Khánh... Bà còn lại một mình trong căn nhà quá rộng, bà chỉ còn một điều là cầu nguyện, cầu nguyện Phật Trời gia hộ cho các con bà được bình yên.

Bây giờ Nại Hiên trở về. Bà thấy mừng trong bụng nhưng bà cũng thương cho đứa con gái út, số nó rồi sẽ khổ. Nhưng bây giờ nó đã trở về với bà, mẹ con phải đùm bọc nhau mà sống thôi. Bà Ngọ vội bỏ con dao xắt rau xuống, rồi đứng lên nói lớn:

- Con Hiên và mấy đứa nhỏ về đó hả? Thế mà bấy rày tao lo cho tụi bay quá.

Mấy đứa nhỏ lục tục xuống xe thồ, đến trước mặt bà ngoại cúi đầu:

- Chào bà ngoại con mới về.

Bà xoa đầu từng đứa rồi hối tụi nhỏ đi tắm. Hai ngày hai đêm trên chiếc xe đò nóng hừng hực làm tụi nhỏ đứa nào đứa nấy cũng rít rịt mồ hôi. Bây giờ về quê, tụi nhỏ như được thả lỏng ra, tụi nó bung ra khỏi tay bà và chạy ù ra giếng. Nước trong lu đã múc sẳn, tụi nhỏ tha hồ đùa dỡn với làn nước mát rượi.

Nại Hiên bế Anh Chi, đứa con gái mới sinh đã chịu nhiều lao đao của nạn chạy giặc, từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng rồi từ Đà Nẵng vào Sài Gòn, Ôi chao! Mỗi lần đi là mỗi lần bế Anh Chi trên tay đã làm cho đôi tay Nại Hiên mỏi muốn rụng rời.

Buổi trưa ở miền quê yên tĩnh. Bây giờ bà Ngọ đã vào nằm nghỉ trên chiếc ghế gỗ đặt dưới hiên nhà. Ở đó, gió từ phía biển thổi qua rặng dương liễu, lồng lộng xuyên suốt mái nhà, luồng vào hàng hiên. Gió mát nên bà thường nằm nghỉ tại đây. Nại Hiên sau khi đã tắm xong, giặt giũ đồ đạc cho mấy đứa con, nàng vào nằm trên tấm phản ngựa giữa nhà. Tấm phản hình như đã có từ hàng trăm năm nay rồi, khi nàng sinh ra và hiểu biết, nàng đã thấy tấm phản đã được kê ở đây. Bây giờ thêm mấy chục năm nữa. Tấm phản nàng đã nằm khi còn là cô bé mũi dãi lòng thòng, đến khi nàng là thiếu nữ, rồi có chồng, có con. Có một thời, Soại làm rể trong căn nhà này, anh đã nằm ở đây phải không anh? Ngày đó anh quen em, anh lên dạy em học và ngủ trên tấm phản này. Em đã lấy chổi lông gà quét cho hết bụi, lấy khăn ướt lau cho sạch để anh nằm ngủ. Ở đây, mỗi tối, em lén mẹ ra nằm với anh. Anh ôm em vào lòng và hai đứa mình rì rầm nói chuyện suốt đêm. Bây giờ thì em trở về đây một mình. Lúc đó anh ở một nơi nào xa tít, khi thì trên núi cao, khi thì dưới miệt biển sâu với đám lính của anh. Anh đã bỏ quên em, đã bỏ em lại đằng sau cho sự tàn phai. Còn bây giờ thì anh một mình ở Sài Gòn, anh đang làm gì trong đó, chuẩn bị đi học tập cải tạo chưa? Em một mình cùng ba đứa con thơ dại. Trở lại căn nhà, khu vườn cũ. Em nhớ anh quá! Soại ơi.

Nại Hiên kêu lên nho nhỏ trong miệng. Bây giờ trước mặt là ba đứa con. Mình phải làm gì để nuôi tụi nhỏ sống được đây. Mẹ thì già quá rồi. Những thửa vườn, những đám ruộng còn đó, nhưng đâu còn là sở hữu của mình nữa. Nhưng mà thôi. Để đó, dẹp mọi phiền muộn âu lo lại cho ngày mai, ngày mốt. Phía trước mặt còn quá dài và đang trải ra. Sẽ choáng hết đời em vào đây. Soại ơi!




* * *

 

 

tranh_dc_4




Căn nhà từ đường kiểu cũ, nơi thờ phượng họ tộc mà cha Nại Hiên đã giữ được trong mấy mươi năm. Mấy mươi năm trôi qua từ ngày tiêu thổ kháng chiến. Ngày đó, nông dân vùng lên làm cách mạng đánh Nhật, đuổi Tây. Tây đóng đâu tận Đà Nẵng, Hội An nên được gọi là vùng bị chiếm, còn vùng nầy là vùng tự do, có Ủy Ban Hành Chánh Xã, có chính quyền cách mạng.

Thời đó, trong một phiên họp của Ủy Ban Hành Chánh quyết định tiêu thổ kháng chiến để chống quân Pháp đi càn, tất cả các nhà ngói, nhà rường phải giở đi, phá đi, trong đó có căn nhà từ đường của họ tộc nhà ông. Ông Ngọ đứng lên phản đối. Tại sao phải giở căn nhà tự đường đã có trên mấy trăm năm. Nơi đó, ông đã thờ phượng ông bà, cúng giỗ hàng năm. Con cái, cháu chắt về đông chật cả căn nhà rộng. Cuộc họp tan trong sự hậm hực của Ủy Ban Hành Chánh. Cũng may mà ông Ngọ đứng lên phản đối nên công việc tiêu thổ kháng chiến của xã tạm thời ngưng thi hành. Sau đó mấy tháng thì rục rịch có tin ký hiệp định đình chiến. Nhờ vậy, căn nhà được trụ lại cho đến bây giờ, hơn hai mươi mốt năm.
Hàng năm các con ông Ngọ mỗi lần kỵ giỗ đều trở về đây lạy tạ ông bà. Nhưng ông Ngọ thì đã ra đi không trở về quá sớm.


Quốc gia tiếp thu. Ông Ngọ ra làm chủ tịch xã. Dù ông là đảng viên Việt Quốc nhưng khi mới thành lập chính quyền, chế độ Ngô Đinh Diệm cũng cần có những người nhu ông trợ lực. Ông làm việc cần mẫn, liêm khiết, nên chỉ mấy năm sau hòa bình lập lại, dân chúng ai cũng đều có chén cơm ăn, cuộc sống an nhàn hon. Cơ quan Hội Đồng Hương Chính đặt phía dưới đường quốc lộ, nằm sát bên là truờng tiểu học và bịnh xá của xã. Bên kia sát mé bờ sông là chợ, người dân mua bán tấp nập, ồn ào náo nhiệt, thật đông vui.

Một hôm, ông Lê Văn Giáo, truởng chi công an quận, cho tài xế lái xe jeep cùng một đoàn tùy tùng vào thăm xã. Ông Ngọ tiếp đón nồng hậu. Ông Giáo đầu hớt tóc ngắn, bận áo quần kiểu hiến binh cũ, cùng đám năm sáu người bận thuờng phục nhưng ai cung biết đó là công an chìm.

Ông Ngọ mời ông Giáo uống nuớc trà, hút thuốc Cẩm Lệ. Ông Giáo lấy trong túi áo ra một gói Melia vàng, quăng xuống bàn ra chìu trịch thuợng, rồi ông Giáo nói:

- Tôi về thăm xã đuợc ông chủ tịch cho biết tình trạng an ninh của xã tốt, tôi rất mừng. Ở những xã miền trên, số cán bộ cộng sản đi tập kết còn sót lại nhiều, họ đào hầm bí mật mà ở, lợi dụng thời cơ hoạt động trở lại. Luật số 10/59 vừa đuợc ban hành là phải tận diệt Việt cộng, nên chúng ta phải đề cao cảnh giác. Nhân đây, tôi cũng có ý kiến với ông chủ tịch là, theo sự gợi ý của ông quận truởng và của cha sở chánh xứ, xin ông cho xây trong công viên hội đồng xã nầy một nhà thờ công giáo. Ngô Tổng Thống là nguời công giáo, ông quyết một lòng chống cộng, nên để toàn dân nhất tâm chống cộng thì hãy kêu gọi họ vào đạo công giáo. Ý ông thế nào?

Ông Ngọ ngồi bật nguời ra sau. Tuy mấy năm gần đây đạo công giáo được sự che chở của chính quyền đã lan tràn mạnh mẽ. Họ áp lực người dân phải theo đạo, nguời nào nghèo không đủ ăn thì theo đạo sẽ được phát gạo ăn. Còn những gia đình có thân nhân đi theo cộng sản tập kết, hay số ở lại quy hàng chính quyền quốc gia cũng bị chính quyền làm khó dễ, hết học tập tố cộng rồi diệt cộng, học hết ngày này qua ngày khác, kéo dài hàng tuần, hàng tháng. Cuối cùng nếu những người đó chấp nhận theo đạo thì sẽ đuợc hết theo học và còn đuợc phát gạo ăn.

Ông Ngọ rất bất bình với công việc trên. Gia đình ông là một gia đinh Phật giáo thun thành suốt mấy đời. Và cả dân xã ông cũng vậy, dù họ không theo Phật nhưng họ thờ cúng tổ tiên, thỉnh thoảng, ba mươi, mồng một hay ngày rằm, tết nhứt, họ đi chùa. Máu huyết đạo Phật đa thấm nhuần vào tim họ. Bây giờ chính quyền cấp trên còn muốn bắt ông chấp nhận cho họ xây nhà thờ ở đây, trong khuôn viên cơ quan Hội Đồng Hương Chính, ông làm sao chịu đuợc.

Ông Ngọ ngồi thẳng trở lại và tằng hắng một tiếng, rồi ông đáp lời:

- Thưa ông truởng chi! Tôi biết từ lâu dân xã tôi vẫn theo đạo Phât rất nhiều, họ đã tự nguyện đóng góp tiền để làm cái chùa trong xóm. Nơi đó, dân chúng Phật tử đến chiêm bái Phật. Tôi thiết nghĩ, có lẽ bên Thiên Chúa các ông cũng vậy thôi. Muốn lập nhà thờ thì nên tìm chỗ nào có khu đất rộng, khang trang, đông đúc dân cư, thì tiện hơn, chứ ở đây là cơ quan hội đồng xã, xây nhà thờ sao tiện.

Nghe ông Ngọ nói xong, mặt ông Giáo cau lại. Ông không ngờ ông Ngọ có thể phản đối công việc xây nhà thờ của quận. Đã qua một số xã trong quận, công việc xây nhà thờ khá suôn sẻ.

Ông Giáo gầm gừ trong miệng:

- Tôi nói với ông chủ tịch là nói cảm tình, nhưng thật ra đây là lệnh của cấp trên. Ông bằng lòng hay không thì tùy, tôi sẽ về báo cáo lại với ông quận truởng.

Nói xong ông Giáo đứng dậy hầm hầm cáo từ ra về, dù trong dự tính, ông Ngọ đa cho mấy nguời dân vệ chạy về nhà ông báo tin cho bà Ngọ lo nấu cơm đãi khách. Ông Ngọ biết ông Giáo giận nhưng ông cũng nói:

- Lâu lâu ông truởng chi mới vào thăm xã, tôi đão với bà nhà tôi lo làm cơm mời quý ông một bữa, xin ông vui lòng ghé nhà tôi dùng bữa cơm đạm bạc.

Ông Giáo vẫn vẻ mặt khó đăm đăm, trả lời:

- Hôm nay tôi bận việc. Thôi xin ông để cho khi khác.

Nói xong ông đi thẳng ra xe, bốn, năm nguời công an bận thuờng phục thấy ông đi ra vội chạy tới mở cửa xe cho ông lên. Nhìn gương mặt ông truởng chi, họ biết ông đang giận, nên họ im lặng leo lên ngồi phía sau xe, chiếc xe đuợc lệnh chạy thẳng về quận lỵ.



*



Khoảng ba tuần sau, một đêm tối, ông bà Ngọ ra ngoài cơ quan Hội Đồng Hương Chính chơi. Ông vẫn coi cơ quan như là nhà của mình. Buổi tối ông thường cùng bà ra đây. Ở đây có một phòng thông tin rất nhiều sách báo, mọi nguời dân ai muốn đọc sách báo thì đến đọc. Một chiếc đèn măng sông soi sáng cả căn phòng rộng. Mấy ông già thì bày cờ tuớng ra đánh.

Khoảng muời giờ, phòng Thông Tin đóng cửa. Ông bà ở lại về sau cùng sau khi đã khóa cửa kỹ luỡng. Trời đêm tối mịt mù, ông cầm cái pin và soi đuờng cho bà đi. Qua khỏi ngã ba chợ, ông bà quẹo theo đuờng đất đỏ về nhà. Có mấy cái bóng nguời đi qua truớc ông bà, ông cứ nghĩ đó là anh em dân vệ đi tuần đêm. Khi ông bà đi lên qua khỏi ngôi chùa làng một chút, bà đi truớc, ông đi thụt về phía sau, thì từ trong bụi rậm nhảy ra một bóng đen, chận ông Ngọ lại. Ông hỏi:

- Ai đó?

Bóng đen không trả lời, loáng một cái, bóng đen cầm súng ria thẳng vào ông Ngọ, ông Ngọ kêu lên cái hự và nằm gục xuống. Bà Ngọ quay trở lại thấy ông Ngọ đã nằm sòng suợt trên đất, bà hoảng hốt kêu lên:

- Bớ làng cứu tôi, bớ làng...

Bóng đen thoát qua nguời bà và chạy thẳng vào bãi cát xa. Mọi nguời nghe tiếng kêu cứu, vội vã cầm đèn ra đến nơi thì thấy ông Ngọ nằm sõng soài trên vung máu. Họ lấy võng bỏ ông lên và khiêng ông về nhà. Đến nơi, đặt ông nằm trên tấm phản ngựa giữa nhà, soi đèn kỹ lại thì thấy ông đã tắt thở.

Bà Ngọ nghe tin ông Ngọ đã chết, bà ngất lên ngất xuống, xỉu lên xỉu xuống mấy lần. Đứa con trai lớn làm việc ở Pleiku, đứa thứ hai đang học ngoài Hội An. Chỉ còn có anh Đạc và Nại Hiên ở nhà. Cả nhà ôm xác ông Ngọ mà khóc. Cái hạnh phúc và cái bất hạnh thật nối liền nhau. Mới ngày hôm qua Nại Hiên còn ngồi trong lòng cha, kể cho cha nghe chuyện học hành ở lớp. Hôm nay nàng đã ôm thân thể ông Ngọ đầy máu me, thân hình lủng nhiều vết đạn, ông nằm im bất động. Những con ruồi xanh từ đâu nghe hơi máu bay kêu vo vo, la đà đậu trên tấm ra trắng đắp qua thân hình ông Ngọ. Phía trên là một bình hương, để một chén cơm trắng và một cái trứng gà luộc đã bóc vỏ.

Ngày đó, Nại Hiên còn rất nhỏ, hình như nàng đang học lớp đệ thất ngoài thị xã. Nàng trở về nhà nghỉ thứ bảy, chủ nhật, thì ông Ngọ bị nạn.

Sáng hôm sau, ban hội Đồng Hương Chính liền báo khẩn về quận việc ông Ngọ bị sát hại. Ông quận truởng Đặng cấp tốc cho đánh xe vào thăm và lên án gắt gao bọn cộng sản nằm vùng, đã âm muu ám sát ông Ngọ, một vị chủ tịch mà dân ai cũng cảm mến.

Ông quận truởng Đặng thắp hương truớc quan tài ông Ngọ và có lời thảm thiết:

- Chúng tôi rất lấy làm buồn khi đuợc tin ông Phạm Ngọ, một chiến sĩ quốc gia chân chính đã bị cộng sản âm mưu sát hại. Chúng tôi cố gắng hết sức để trả mối thù này cho gia đình nạn nhân. Truớc hết, tôi sẽ can thiệp để các con ông Ngọ được huởng quy chế Quốc Gia Nghĩa Tử, mong đem lại một chút an ủi cho gia đình. Chúng tôi cầu nguyện linh hồn ông Ngọ đuợc siêu thăng tịnh độ và mong gia đình bớt buồn đau.

Những tiếng thở dài rất nhẹ của những nguời đi tham dự. Đám tang đuợc diễn ra sau đó với thật đông đồng bào từ các thôn, ấp xa, nghe tin ông mất, đã tới thăm viếng và đưa tiễn. Ba phát súng của dân vệ bắn lên trời để đưa ông khi quan tài hạ huyệt. Bà Ngọ và những đứa con lăn lộn khóc.

Trong đám đông có tiếng nói rỉ tai nhau:

- Việt cộng ở đâu mà giết ông Ngọ, chỉ bọn công an chìm lập mưu ám hại ổng thôi. Ông không cho xây nhà thờ ở xã nên họ muốn triệt hạ ổng. Tội nghiệp một con người cương trực.


Những năm sau đó, Nại Hiên vẫn còn ám ảnh về cái chết của cha mình. Nàng lúc nào cũng thấy cha chập chờn trong những cơn mộng dữ, thân hình ông máu me, quằn quại. Nàng ôm lấy cha và khóc thét lên. Hình ảnh ấy bám chặt, ăn sâu tận cùng tâm tuởng nàng, một tuổi thơ dữ dội.

Sau đó, ông Diêu, một chân thư ký trong Ban Hội Đồng được lên thay ông Ngọ.

Những ngày đau buồn đó đã qua. Bà Ngọ sống âm thầm cùng các con, lo cho các con ăn học. Toàn, ngườ anh cả đã thành danh, đã hoạt động có tiếng tăm trong chính giới. Còn những người con khác cũng có bằng cấp và nghề nghiệp. Di vãng lùi dần phía đàng sau, nhưng mỗi khi nghĩ lại ngày ông Ngọ bị bắn chết với viên đạn của kẻ vô danh, bà lại nghe lòng mình nhói đau.

Bây giờ cũng trên mười lăm, mười sáu năm, cuộc đổi đời một lần nữa lại đến. Bà đối diện thẳng với những nguời từ trên núi xuống, những nguời mà ông Ngọ và các con bà đều coi như kẻ thù không đội trời chung.

 


Chương Mười Ba



tranh_dc_5



Nghỉ một ngày để lấy lại sức nhưng Nại Hiên có nghỉ được đâu. Nàng phải giặt cả mấy thau quần áo của các con, rồi lo dọn dẹp căn phòng nàng ngủ cho sạch sẽ một tí. Một mình bà Ngọ ở trong căn nhà rộng, bà lo không xuể nên bụi bặm bám lên một lớp mốc meo. Đến sáng hôm nay, Nại Hiên dự định sẽ vào trường trung học để xin đi dạy lại.

Nắng đã lên. Trời tháng sáu buổi sáng chưa tới bảy giờ mà nắng đã chói lóa. Gió thổi nhẹ nhàng qua mấy hàng cây trước nhà. Hàng cây mảng cầu đứng im khô rang. Hàng mảng cầu hàng năm vẫn cho sai trái, năm nay vì nắng khô hạn quá nên không có trái nào.

Nại Hiên bận chiếc áo dài màu tím than. Màu áo mà Soại đã mua cho nàng khi tiểu đoàn anh về huấn luyện ở Phú Bài. Soại ra Huế vào một tiệm vải ở đường Trần Hưng Đạo, thấy màu áo tím than hợp với nàng nên đã mua về làm quà cho vợ. Soại vẫn thích, và vẫn khen nàng xinh đẹp nhất khi bận chiếc áo này. Chiếc áo may sau ngày hai người cưới nhau, đến bây giờ cũng đã trên năm năm. Nại Hiên muốn bận chiếc áo mang hình ảnh của Soại để đi đến đâu nàng cũng thấy vững tâm hơn, như có anh bên cạnh. Nhưng chợt một ý nghĩ khác đến với nàng. Đã đổi đời rồi mà còn mơ mộng như ngày cũ sao? Như ngày mới ra trường được đổi về dạy ở trường quận lỵ quê hương, nàng đã bận chiếc áo dài hồng rực rỡ khi đi trình diện nhiệm sở. Bây giờ, đã hết rồi thời đó, chính ở Sài Gòn trong những ngày qua, đi ra đường cũng không còn ai mặc một chiếc áo dài. Những chiếc áo sơ mi màu trắng bạc, màu cứt ngựa bộ đội, những quần tây bằng vải kaki rộng thùng thình của những nữ cán bộ miền bắc vào. Những mơ mộng thời trước chỉ là những phù phiếm, bây giờ phải sống hợp thời, vì miếng cơm manh áo. Cái ước vọng tột cùng của nàng là mong được đi dạy lại học lại, được đứng trên bục giảng để giảng cho học sinh của nàng bài vạn vật mà nàng đã giảng dở dang vì tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng bom. Và điều cốt lõi là tiền lương. Ba đứa con nàng lúc nào cũng cần cơm, sữa.

Nại Hiên vào phòng thay lại cái quần tây đen và cái sơ mi trắng dài tay. Nhìn vào gương thấy mình lạ đi một chút, trông có vẻ cứng cáp, già dặn hơn một chút. Như thế này là được rồi, vừa lịch sự vừa "hợp thời". Nàng muốn tô thêm trên môi một chút son, xoa lên má một chút phần hồng cho gương mặt tươi mát lên. Nhưng nàng lại rụt tay về. Có nên không? mình đỏm dáng quá nhiều khi lại mất điểm. Nhớ đến những gương mặt của các nữ cán bộ miền bắc mà nàng đã thấy ở Sài Gòn, nàng như đi thụt lùi lại. Thôi, dùng son phấn mà làm chi, như vậy là được rồi.

Nại Hiên nhờ mẹ trông coi ba đứa nhỏ. Nàng đứng trước bàn thờ Phật và bàn thờ cha lâm râm khấn vái. Tự nhiên trong lúc này đây nàng hết tin tưởng trong ý nghĩ mình, một cô giáo sư trung học đệ nhị cấp, bốn năm sư phạm và trải qua ba năm đứng lớp tận tụy với đám học trò. Thầy hiệu trưởng, các bạn đồng nghiệp và kể cả đám học trò vẫn thường khen nàng dạy hay, dễ hiểu, vì nàng giảng bài rất hấp dẫn, dù là một đề tài vạn vật khô khan. Bây giờ những thành tích ấy có còn được là cái giấy chứng nhận cho nàng được dạy lại? Nàng nhớ như in một câu trong thông cáo nàng nghe được ở đài phát thanh Sài Gòn "các nhân viên công chức chế độ cũ hãy trở về nhiệm sở làm việc, chính sách của cách mạng trước sau như một...". Câu nói đó cho nàng một niềm tin tưởng và nay, nàng đã quay về.

Nại Hiên bước thật nhẹ trên đường làng, ra đường quốc lộ đón xe vào trường, trong lòng thật hồi hộp.

Con đường vẫn là con đường cũ từ buổi ấu thơ, con đường đất đỏ dẫn nàng đi học, hai bên có những bụi gai dại. Nại Hiên đi bộ đến ngã ba và dự định đón xe lam vào trường.

Những ngôi nhà ngoài quốc lộ đều là của những người quen. Ngày trước nàng đi dạy học trên chiếc xe honda dame, gặp nàng ai cũng cúi đầu chào, chào cô út hay chào cô giáo. Bây giờ nàng nhìn những ngôi nhà cũ đó, có nhà gia đình đã bỏ đi, cửa đóng im ỉm, có nhà còn lại thì họ nhìn nàng rồi ngó lơ. Có lẽ họ sợ sự quen biết, sự chào hỏi, có thể làm họ bị liên lụy chăng? Nại Hiên chưa hiểu sâu xa đến chuyện này, con người mới đó mà sao có sự thay đổi nhanh chóng vậy? Nàng đứng bên đường ở ngã ba đợi xe lam. Không có ai chào hỏi nàng, dù là những người nàng biết. Xa lạ, xa lạ đến thế sao?

May mà Nại Hiên chờ khoảng đâu mười phút thì có một chiếc xe lam chạy đến, nàng dơ tay vẫy. Chiếc xe lam tấp vô lề. Xe đã chật quá rồi, nàng cố ngồi chen ở phía sau.

Người lái xe quay đầu lại hỏi:

- Cô đi đâu?

Nại Hiên trả lời:

- Bác cho tôi vào trường trung học.

Người lái xe nhìn kỷ nàng, rồi cười, nói nhỏ:

- Ủa, cô Hiên, cô về hồi mô vậy, tưởng cô đi thoát rồi chớ. Thôi lên băng trên này ngồi với tôi đi, chỗ ngồi dưới chật chội lắm.

Nại Hiên nhìn người lái xe, thì ra là bác Ngạc, cha của Bằng. Bằng là bạn học của nàng thời còn trung học. Bằng đi sĩ quan cảnh sát, không biết bây giờ Bằng ở đâu? Nàng đứng dậy xuống xe đi lên phía băng trên.

Nại Hiên hỏi bác Ngạc, vẻ mừng vui:

- Bác Ngạc đó hả? anh Bằng đâu bác?

Giọng bác Ngạc nhỏ xuống:

- Nó đi cải tạo rồi, trên Tiên Lãnh, đã ba tháng nay không có tin tức gì cả. Cô về đây một mình hả?

- Dạ, một mình với mấy đứa nhỏ, anh Soại ở trong Sài Gòn trình diện trong đó.

Bác Ngạc lại hỏi:

- Cô đi đâu đây?

- Vô trường trình diện coi thử có đi dạy lại được không bác.

Ông Ngạc thở dài:

- Tôi nghĩ cũng khó lắm, con Giang vợ thằng Bằng ở lại chớ đâu có đi di tản, mà xin dạy lại họ cũng không cho, nói là vợ sĩ quan ngụy. Nhưng cô cứ xin thử coi.

Xe chạy tới trường trung học, ngôi trường hiện lên trong màu nắng. Nại Hiên xa trường đã hơn năm tháng rồi, từ ngày nàng di tản. Hy vọng mình được nhận lại, vì là một trường quận lỵ rất cần giáo sư trung học đệ nhị cấp.

Nại Hiên xuống xe, trả tiền, ông Ngạc khoát tay, nói:

- Thôi khỏi cô, cho cô quá giang một lần, để lần khác đi.

Nàng nói cảm ơn rồi chào ông Ngạc, bước vào cổng trường.

Lạ, lạ như chưa bao giờ mình đã ở đây, đã dạo trên hành lang này, đã đứng trên bục giảng. Trường đang trong giờ học nên im lặng, ngoài tiếng giảng bài của các giáo sư. Cột cờ giữa sân đang bay bay lá cờ đỏ sao vàng. Nại Hiên thấy lạnh ở hai vai và sống lưng. Như là mình đi đến một nơi chốn nào khác chứ không phải là ngôi trường quê hương mà mình đã gắn bó suốt mấy năm. Bước lên hành lang, đi vô văn phòng. Một người đàn ông như là nhân viên trực, ngồi ở bàn ngoài cùng. Người đàn ông bận áo xanh màu cứt ngựa, quần kaki vàng, mang dép râu, khuôn mặt khô và nhọn, có để lún phún một ít râu mép, nhìn nàng và hỏi:

- Cô tìm ai?

Nại Hiên nói rất lễ phép:

- Thưa thầy, xin thầy cho tôi gặp thầy hiệu trưởng.

Người đàn ông nhìn nàng với vẻ soi mói, xong lại nói:

- Có chuyện gì vậy?

Nại Hiên trình bày hoàn cảnh mình:

- Thưa thầy, tôi trước là giáo sư dạy trường này, vì chiến tranh cho nên tôi chạy vào Sài Gòn, nay theo thông cáo của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn, ai trở về nhiệm sở nấy, nên tôi về trình diện đây để xin dạy lại.

Người đàn ông nghe nàng nói, nhìn nàng một chặp nữa rồi chậm rãi lên tiếng:

- Cô ngồi đó đợi đi, để tôi vào trình với đồng chí hiệu trưởng.

Nói xong, ông đứng dậy đi vào phòng trong. Nại Hiên nhìn quanh văn phòng làm việc, bức ảnh HCM để râu dài được treo trên giữa tường, phía dưới có câu khẩu hiệu viết bằng chữ đỏ: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Từ ngày ở Sài Gòn đến nay, nàng đã thấy lá cờ và hình ảnh ông Hồ đã quen, nên nàng không còn dị ứng nữa.

Nại Hiên nhìn quanh trong văn phòng. Không có một ai. Có lẽ các thấy cô đang còn dạy ở lớp. Nàng muốn gặp một người bạn giáo sư quen biết cũ nào đó để hỏi chuyện. Thấy Tần đâu? thấy Võ đâu, thấy Quảng, thấy Tú... Các thầy hồi trước ai cũng bị động viên đi lính, ai cũng mang lon thiếu úy, trung úy, chắc là phải đi tập trung cải tạo rồi. Còn các cô giáo, cô Hòa, cô Hoàng, cô Lý, có còn dạy ở đây không? Hay đã di tản? Cuộc di tản vĩ đại chưa từng có trong lịch sử, đã để lại đàng sau biết bao nhiêu tang tóc v à hệ lụy. Nàng nhìn quanh mong cho đến giờ ra chơi để gặp lại một người bạn quen nào đó. Thời gian trôi qua thật chậm. Nàng không thấy ai bước vô văn phòng. Nàng thấy mình thật xa lạ.

Cũng khoảng mười lăm phút, người đàn ông khi nãy trở ra. Ông ngồi vào bàn mới lên tiếng:

- Cô vào đi, đồng chí hiệu trưởng chờ cô trong đó.

Nại Hiên đứng dậy bước vào phòng trong. Nàng xa nơi này chưa đầy năm tháng mà tất cả đã đổi thay. Ngày trước, phòng thầy Võ, hiệu trưởng, dành một căn phòng bên kia. Nay thì phòng hiệu trưởng được xếp vào chung với văn phòng làm việc, chỉ ngăn cách bởi những tấm cạc tông được đóng quanh, có một cánh cửa nhỏ mở ra, vào. Nại Hiên ngập ngừng do dự một chút, không biết có nên gõ cửa hay không đây? Người nhân viên trực đã báo là có mình vào trình diện, nhưng nàng cũng lịch sự muốn báo trước là nàng đã đến, nên đưa tay lên gõ lên cánh cửa mấy tiếng. Có tiếng sột soạt bên trong rồi tiếng nói cất lên:

- Vào đi, khỏi cần gõ cửa.

Giọng nói chắc nịch, pha lẫn giữa giọng Quảng Nam và giọng Bắc. Nàng bước vào, thấy người đàn ông ngồi sau một cái bàn dài. Người đàn ông hớt tóc ngắn, bận một cái áo màu xanh lá cây, chiếc quần bộ đội, mang đôi dép râu để lộ ra những ngón chân dài. Người đàn ông nhìn nàng không cười, đưa mắt đảo qua nàng một lượt có vẻ quan sát.

Nại Hiên nói:

- Thưa thầy Hiệu trưởng.

- Chào cô, cô có chuyện gì vậy?

Nại Hiên nói qua tiếng nén của hơi thở:

- Thưa thầy, tôi là Nại Hiên, trước dạy ở trường này, vì chiến tranh nên tôi di tản vào Sài Gòn, nay nước nhà đã thống nhất, tôi trở về trình diện và xin dạy lại.

Người đàn ông hơi mĩm cười, nhưng nụ cười được ghìm lại ngay. Ông nói:

- Cô cho tôi coi một số giấy tờ, dĩ nhiên đây chỉ là thủ tục. Tôi đã xem danh sách các giáo viên cũ ở trường. Tôi biết cô tốt nghiệp đại học sư phạm khoa sinh vật, phải không?

- Thưa thấy, dạ đúng.

Nại Hiên vừa nói vừa lục trong xách ra cái thẻ căn cước. Chỉ còn có vậy để xác nhận nàng. Còn những bằng cấp tốt nghiệp, trong cơn thất tán đã mất hết. Những giấy tờ trong lúc ra bãi biển An Hải đã rơi mất. Sau này nàng tìm kiếm, lục lọi trong tất cả những đồ đạt mang theo, không còn một thứ gì.

Nàng đưa cái thẻ căn cước. Người hiệu trưởng khoát tay:

- Thôi, khỏi cần.

Rôì ông nhấn mạnh:

- Cô nên biết là nay cách mạng đã chiến thắng hoàn toàn, kể cả Saì Gòn là nơi tạm coi là an toàn nhất. Cô đã bỏ trường để di tản theo địch, nay cùng đường cô trở về đây mà xin dạy lại. Cô nên nhớ rằng đội ngũ giáo viên của nhà nước ta, ngoài việc chuyên môn là giảng dạy cho học sinh, còn là nền tảng đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa. Tuy rằng trên đã có lệnh thu dụng lại những giáo viên chế độ cũ, nhưng mà...tôi biết cô đầu óc chưa được khai thông đâu, nên cô phải qua một lớp học tập bồi dưỡng về chính trị bốn tuần lễ ngoài Tam Kỳ, cô dự học xong lớp đó rồi về đây tôi sẽ xét cho cô.

Ông nói một thôi dài và khi ngưng lại ông mới rút trong tập sơ mi màu xanh ra một tờ giấy, ông ghi tên Nại Hiên vào khoảng để trống rồi ông ký phía dưới. Xong ông đưa cho nàng và nói.

- Cô cầm tờ giấy giơí thiệu này về, đem ra ngoài phòng giáo dục thị xã, hỏi khi nào có lớp bồi dưỡng, cô theo học khóa đó, xong lấy giấy chứng nhận vào đây cho tôi biết.

Nàng cầm lấy tờ giấy và muốn hỏi thêm vài điều, những điều nàng cần biết về những người bạn đồng nghiệp cũ, nhưng nàng lại thôi. Nại Hiên bỏ tờ giấy vào trong bóp và đứng dậy chào ông Hiệu Trưởng:

- Xin chào thầy.

- Chào cô.

Ông không đứng dậy đưa nàng cũng không nói thêm lời nào. Căn phòng vẫn im phắt.

Bước lên xe lam trở về nhà, lúc này Nại Hiên mới chợt thấy ra con đường trước mặt không suôn sẻ như nàng tưởng. Nàng vẫn cho rằng chuyện dạy học là tấm lòng, là sự thương yêu học sinh, tận tụy với nghề nghiệp, cùng với mảnh bằng Đại Học Sư Phạm là được. Bây giờ nàng như đứng trước một bức tường thành. Tư Tưởng, Chính Trị. Thì ra, bao nhiêu năm người ta đã đổ máu, đã tạo nên bao chết chóc thảm khốc cũng vì cái tư tưởng chính trị đó sao? Nàng thở dài, nhìn những người khách cùng ngồi trên chiếc ghế xe lam, mặt mày người nào cũng tối tăm, buồn thảm.

Nại Hiên vừa bước đến sân nhà thì ba đứa con nàng chạy ra bu quanh mẹ. Anh Thư nói:

- Me đi rồi, em Nghi ở nhà phá em Chi không cho em Chi ngủ.

Đông Nghi liếng thoắn kể:

- Bà ngoại cho con củ khoai lang, chị Thư đánh mất của con me.

Nàng thấy vui trong lòng vì mấy đứa con đều vui chơi, quấn quít bên nàng. Nàng bước vô nhà nghe mát dịu cả người vì đã đi ngoài trời trưa nóng bức. Bé Anh Chi được ngủ trên tấm phản ngựa được lau thật kỷ, sạch sẽ. Nàng im lặng đi vào phòng thay cặp đồ mặc ở nhà thì bà Ngọ từ dưới bếp đi lên, bà hỏi:

- Con Hiên về đó hả? vào trường có kết quả gì không con?

Nại Hiên không muốn làm cho mẹ buồn, mẹ thất vọng, nên nàng nói nửa vời:

- Con cũng chưa biết nữa, thấy hiệu trưởng nói phải qua một lớp bồi dưỡng về chính trị.

Bà Ngọ đến ngồi trên một cái trường kỷ bằng gỗ kê giữa nhà, thường vẫn dùng để tiếp khách, bà nhỏ nhẹ: - Tao nghĩ cũng khó, nhà mình toàn làm bên quốc gia cả, bây giờ caí gì họ cũng nhìn vô lý lịch.

Nại Hiên đi ra chái bếp chỗ kê lu nước lạnh, lấy gáo múc nước rửa mặt. Nước lạnh làm nàng tỉnh táo ra. Nhìn gương mặt mình qua làn nước, hình bóng lao xao, nàng tự dưng thấy cô đơn quá. Xong nàng trở vào ngồi một bên cái trường kỷ, đối diện với mẹ, nàng nói:

- Con vào trường gặp ông hiệu trưởng, thầy bà gì mà bận áo bỏ ra ngoài quần, mang dép cao su trông chẳng giống ai. Ông cho cái giấy giới thiệu ra ngoài phòng giáo dục thị xã Tam Kỳ học bồi dưỡng, xong rồi về ổng sẽ xét. Nghe nói ổng ở đâu trên Kỳ Sanh tập kết ra bắc mơí về hả mẹ?

Bà Ngọ nói:

- Thì nó là thằng Tám Thọ đó chứ ai. Hồi cha đi kháng chiến làm ở Ủy Ban Hành Chánh xã, nó làm du kích cũng thường hay lui tới đây với cha, đến năm năm tư nó đi tập kết. Nay nó về, nghe nói nó có đi Trung Quốc học hành gì đó nên được làm Hiệu Trưởng. Tao biết nó hồi còn nhỏ, chứ bây giờ nghe nói, chứ chưa gặp lần nào.

Nại Hiên ngồi nghe, nàng tưởng tượng lại lúc gặp ở phòng Hiệu Trưởng ban sáng. Tám Thọ, cái tên nghe cũng biết là “cách mạng” rồi. Chợt nàng nhớ đến đôi dép râu Tám Thọ mang, để lòi mấy ngón chân đen kịt ngọ ngoẹ phía dưới bàn chân và hàm răng ám vàng thuốc lá. Bà Ngọ nói tiếp:

- Anh Lôc chồng chị Loan mày cũng từ bắc về thăm nhà đây tháng trước, nó hỏi thăm con Hồng, thằng Tư, thằng Thọ bây giờ ở đâu? Tao cũng trả lời qua loa là ở Sài Gòn. Nghe nói bây giờ nó về, làm đâu ngoài phòng thông tin thị xã Tam Kỳ đó.

Nại Hiên nghe mẹ nói mà lòng thật dửng dưng, thật ra những người này nàng cảm thấy như không có quan hệ gì với mình. Anh Lộc là chồng của chị Loan, chị ruột của nàng, chị mất đã mấy năm nay vì một cơn bạo bệnh. Những đứa con chị đã lớn, đã đi làm ăn mỗi đứa một nơi. Anh Lộc đi tập kết từ năm 1954. Đã hai mươi mốt năm, lúc đó nàng còn bé tí. Hồi đó, ai cũng theo kháng chiến, cả cha nàng cũng vậy. Bây giờ anh Lộc trở về với một gia đình riêng ở ngoài Bắc. Chị Loan đợi chờ suốt mười mấy năm. Rồi trong cơn bạo bịnh chị đã chết bỏ lại một đàn con năm đứa. Bây giờ anh Lộc trở về. Mọi chuyện thật là xa lạ. Nếu bây giờ nàng gặp lại anh Lộc ở đâu đó, nàng cũng chẳng biết là ai.



* * *



tranh_dc_6




Đã ba ngày qua, Nại Hiên sống trong cảm giác buồn bã, bồn chồn. Nàng lẩn quẩn trong những suy nghĩ không đầu không đuôi. Bây giờ ra trình diện học khóa bồi dưỡng ngoài thị xã nàng sẽ ở đâu? ăn uống ra làm sao? Chuyện này ngày xưa thật là dễ dàng, bây giờ sao thấy khó khăn quá. Ngày xưa, nơi chốn đó, thị xã Tam Kỳ, nàng đã sống, đã ăn học ở đó gần bảy năm trung học.

Hồi mới vào lớp đệ thất, cha nàng gởi nàng trọ nhà ông Nhật, tài xế cho ông quận Đặng. Ngôi nhà ở ngã ba, từ đó đến trường trung học chỉ có mấy trăm bước thôi. Nàng ở trọ tại đây và ăn cơm tháng. Mỗi tối nàng lên căn gác để học, làm bài rồi ngủ luôn trên gác với chị Bông. Chị Bông là con riêng của bác Nhật gái, chị lớn hơn Hiên bốn, năm tuổi gì đó. Bác Nhật trai có vợ trước đã chết nên gá nghĩa với bác Nhật gái được mấy năm nay. Hai người chưa có con riêng. Buổi tối, chị Bông cùng học bài với Nại Hiên trên cái bàn tròn kê sát cửa sổ. Hai chị em như đôi bạn thân. Chị có sắc đẹp trung bình nhưng cơ thể chị thì nẩy nở đầy đặn, căng tròn nhựa sống, nhất là hai vú chị săn chắc và to. Buổi tối ở nhà, chị bận chiếc áo sơ mi trắng, không bận cọt xê, nên hai đầu vú chị lấp ló sau làn vải mỏng trông hấp dẫn lắm. Chính Nại Hiên là con gái mà còn muốn nhìn nói chi đến đàn ông. Buổi tối hai chị em ngủ trên chiếc giường hẹp. Chị thường ôm Nại Hiên, chị vòng tay choàng qua người nàng ôm chặc lấy bờ vai. Cặp vú chị cạ vào cánh tay làm nàng nghe nhột nhạt, kèm theo hơi thở của chị dồn dập, Nại Hiên nghe lòng mình dậy lên một nổi xốn xang.

Một hôm, đang trong giấc ngủ, nàng nghe một tiếng động nhẹ, nàng chợt tỉnh, hé mắt ra nhìn, có một bóng đen đến gần kề chiếc giường. Bóng đen đứng thật im lặng, khi không thấy động tỉnh, bóng đen ngồi xuống cạnh giường và đưa tay xoa lên ngực chị Bông. Chị Bông co người lại rồi hất cái cánh tay kia ra. Nhưng cánh tay đó không sợ hãi lại tiếp tục đặt lên ngực chị Bông và xoa nhẹ. Lại thêm một bàn tay nữa đặt lên ngực bên kia. Nại Hiên vẫn nằm hé mắt nhìn trong màn đêm tối, nàng nghe như hơi thở mình bị đọng lại. Bóng đen vẫn hai tay ôm lấy ngực chị Bông mà xoa bóp. Chị Bông nằm ngửa người ra, có hơi thở gấp. Bóng đen cúi xuống hôn chị, một tay vẫn xoa ngực, còn một tay đưa xuống phía dưới. Tiếng chị Bông thở mỗi lúc một dồn dập hơn kèm theo tiếng ú ớ. Cuối cùng khi người đàn ông leo lên mình chị thì chị dùng chân đạp cái bóng đen rời khỏi giường rớt xuống sàn gỗ. Một tiếng động khô khốc trong đêm tạo nên một âm thanh thảng thốt. Bị đạp văng xuống sàn, bóng đen đứng dậy và rút xuống cầu thang gác. Nại Hiên hé mắt nhìn trong bóng đêm mờ mờ, cái bóng lùn thấp giống như là của bác Nhật trai. Rồi chị Bông nấc lên khóc rấm rức. Nại Hiên nằm im nghe tiếng nức nở nho nhỏ của chị mà chợt rùng mình, thương cảm cho chị. Nàng cũng cố giữ im lặng coi như mình đang say ngủ không hay biết gì.

Nàng đem chuyện buổi tối ở nhà bác Nhật kể cho anh Đạt nghe. Một tuần sau đó anh Đạt tìm nhà khác cho nàng trọ học. Lúc này nàng dời về nhà cụ Lãm, ở gần trường trung học Trí Đức. Nơi đây là một căn nhà rộng, bà trợ Lãm đã về hưu, chuyên nấy cơm tháng cho học sinh xa nhà đến trọ học. Nàng yên tâm trọ học ở đây suốt một thời trung học.

Câu chuyện của chị Bông bị người cha dượng hiếp không biết do đâu mà bỗng dưng bùng ra dữ dội ở thị xã. Người ta đồn rằng bác Nhật trai đã ngủ với con gái của vợ mình và tin đồn ngày càng lan rộng ra xa. Ở một thị xã bé nhỏ, một tin gì xảy ra là từ đàng dưới lan truyền đến đàng trên, không ai không biết. Chị Bông đang theo học đệ ngũ trường Trí Đức, có nhiều nam sinh nhìn chị bằng đôi mắt nửa như đùa cợt, nửa như thương hại. Những câu nói bóng gió về bác Nhật vẫn lưu truyền trong đám đông. Nại Hiên nghĩ về đêm hôm đó như một đêm kinh hoàng trong trí nhớ nhỏ bé của nàng.

Bây giờ đã xa gần mười năm. Trở lại thị xã nàng sẽ trọ ở đâu, ăn ở đâu? Ở đây nàng và các con còn ăn uống lấp liếm, đắp đổi qua ngày với mẹ, chứ đi xa thật là một trở ngại vô cùng. Mà học bồi dưỡng những một tháng chứ có ngày một ngày hai đâu.

Con đường trước mặt muốn khai thông là nàng phải theo học khóa bồi dưỡng chính trị. Khóa nầy như một căn bản cho mọi công nhân viên chức hiểu được chế độ mới là gì. Muốn sống và làm việc trong guồng máy đó thì phải chấp nhận.

Nàng chợt nghĩ đến bà nội của mấy đứa con nàng, bà mẹ Soại. Bà đang sống một mình ở một nơi cách thị xã khoảng tám cây số. Nàng có thể mang mấy đứa con về thăm bà rồi nhờ bà coi hộ, rồi hàng ngày nàng sẽ đi xe đạp xuống thị xã để theo học khóa bồi dưỡng. Nghĩ rồi nàng vào bàn với mẹ, bà Ngọ nghĩ cũng xuôi nên cho Nại Hiên về bên nội.


Chương Mười Bốn



tranh_dc_7




Bà Khải, mẹ Soại là một người đàn bà nhà quê lam lũ. Bà sống với cánh đồng, với thửa ruộng, với đám khoai từ thuở còn là con gái. Bà đã trải qua bao nhiêu chế độ. Chế độ nào bà cũng là người dân tay lấm chân bùn bình thường. Nhưng rồi hai đứa con trai của bà lớn lên đi lính, đóng ở cùng nơi chi xứ, bà lo lắng cho hai đứa con trai nên bà cũng mong cho phe quốc gia được thắng trận. Nhưng không may cho bà, phe Quốc gia thua trận, các con bà thất tán mỗi đứa mỗi nơi. Bà một mình trong căn nhà tranh lạnh lẽo. Đứa con gái lớn có nhà gần chợ Quán, thỉnh thoảng ghé thăm mua cho bà con cá, miếng thịt. Còn thì bà cứ rau dưa hàng bữa. Bà sống âm thầm như một cái bóng.

Từ ngày tháng ba, những người trên núi về đây lập chính quyền, kêu gọi dân chúng đi dân công phá mìn, khai thông đồn bót. Những người bạn với Soại, cùng sĩ quan như Soại, đều bị bắt, dẫn lên núi, nhốt đâu trên Tiên Lãnh, một nơi tuốt trên núi cao rừng rậm. Bà lo cho hai con bà, thằng Giang, thằng Soại, tụi nó chạy vào Sài Gòn có bình an không? có thoát được cảnh đi gỡ mìn, lấp hầm chông như ở đây không?

Bà thương mấy đứa cháu nội của bà còn nhỏ dại quá, đứa nào cũng còn quá bé bỏng mà mẹ nó làm nghề giáo không biêt có đảm đương, nuôi nổi tụi nó không? Tuy nhiên, bà còn giận con vợ thằng Soại lắm. Ngày bà ra Đà Nẵng thăm hai vợ chồng nó, nó cứ cầm cái chổi quét nhà, hể bà để cái món đồ gì của bà ở đâu, khi bà lấy đi thì nó cầm cái chổi mà quét, coi bà như một bà nhà quê dơ dáy. Bà đã gom hết áo quần của bà lại, rồi đi ra bến xe để về lại trong quê. Sau đó Soại có về xin lỗi bà nhưng bà chỉ giận con vợ nó thôi chứ bà đâu có giận đứa hai con trai mà bà đã đứt ruột đẻ ra, và bà cũng biết là tụi nó cũng thương bà hết mực.

Bây giờ là tháng sáu ta, gió hiu hiu thổi trong những lùm tre tạo ra những âm thanh rì rào êm ả. Mặt trời chói lóa, toả sáng cả một không gian rộng lớn. Những con chim giồng giộc làm tổ treo lòng thòng trên những ngọn cây cao, chim giồng giộc cất tiếng kêu vang cả một góc vườn. Một buổi sáng miền quê yên tỉnh.

Bà Khải đang lom khom tưới những luống cải bà mới gieo hôm kia. Tánh bà không ở không được. Từ một cô thiếu nữ ở nông thôn, bà quần quật ngoài đồng ruộng suốt cả ngày, bà quen với công việc đồng áng nên nay cũng gần bảy mươi tuổi rồi mà bà không ngồi không. Không làm việc này bà cũng làm việc nọ, kiếm thêm miếng rau cải ăn cho nhẹ bụng. Bà lo chăm sóc mấy luống cải mới gieo. Chung quanh vườn, tiếng chim kêu ríu rít trong những tầng lá rậm, chim chuối, chim sâu, chim chìa vôi, chất mào, quành quạch, nhảy nhót trong ánh nắng chan hòa buổi trưa. Bà Khải chợt nghe tiếng xe đạp chạy vào trong sân và tiếng trẻ con tíu tít.

Con Anh Thư nói:

- Chào bà nội, con mới về.

Rồi tiếng con bé Đông Nghi tiếp theo:

- Bà nội, bà nội.

Nại Hiến bước xuống khỏi chiếc xe đạp thồ, một tay nàng bế Anh Chi, một tay mở ví lấy tiền trả tiền xe. Xong nàng mới chào bà Khải:

- Thưa mẹ, con mới về.

Bà Khải dừng tưới rau, thả chiếc gàu xuống đất, rồi bước vào sân. Bà vui vẻ nói:

- Nhà Thư về đó hả, vậy mà tau lo quá, không biết mẹ con bay bây giờ ở đâu? Có chuyện gì không? sao lại về đây con?

Nại Hiên muốn nói hoàn cảnh của mình, của các con, của Soại, nhưng thấy bây giờ chưa tiện nên nàng nói lãng ra:

- Vô nhà đi mẹ, đứng ngoài này nắng quá.

- Thì con vô trước đi, để tau rữa chân đã rồi vô sau.

Nại Hiên đi vào trong nhà, nàng kéo cánh cửa bằng tre từ trên sập xuống, loại cửa này có từ xưa lắm rồi, được đan bằng tranh, cột từ phía trên, khi mở cửa thì chống lên, khi đóng thì sập xuống. Nàng bước vào trong, căn nhà tối thui và ẩm. Cái bàn thờ bên giữa, đèn sáng hiu hắt lộ hình ảnh ông Khải, tấm hình được vẽ, lấy mẫu từ tấm hình căn cước khi ông chết để lại. Nàng cũng thấy lòng mình cũng lạnh nguội như mùi ẩm thấp của căn nhà. Nàng chống cửa lên và mở cửa sổ cho gió thông vào. Căn nhà, khu vườn, nàng nghe Soại kể nhiều lần, trong ký ức về một mảnh vườn đẹp, có hồ nuôi cá, có cây dừa dăng bóng, cây dâu đất chín vòng đỏ cả gốc, cây bòng, cây chanh. Nàng đã về đây hồi chiến tranh một lần với Soại, lúc đó căn nhà bị xe thiết giáp ủi sập, chỉ còn là một cái nền nhà loang lỗ. Căn nhà này bà Khải mới dựng lại trong ba tháng nay, để có chỗ, theo bà, mà chui ra, chui vào.

Cái lạnh của căn nhà làm Nại Hiên ái ngại. Mình sẽ ở đây sao? Các con mình rồi sẽ ngủ ở đâu, ngoài một cái giường dành cho bà Khải. Căn nhà không có gì cả, trống trơn, rồi lấy gì sống đây?

Bà Khải rửa chân xong, bước vô nhà, bà vẫn đi chân đất, chỉ khi có khách khứa hay có đi đâu xa, mà mới mang giày hoặc dép chứ ở nhà là bà đi chân trần. Quen rồi, mang dép vào nghe nó vướng vướng làm sao. Bà ngồi xuống chiếc giường rồi nói với Nại Hiên:

- Tau nghe tụi bay bình yên là tau mừng, mi cũng chạy vô Sài gòn rồi trở ra hả, đời chi nghe cực quá he!

Nại Hiên nói:

- Con về được một tuần rồi mẹ. Anh Soại ở lại trình diện trong đó, anh Giang cũng vậy, mấy anh con cũng ở trong đó chứ không ai dám về ngoài nầy, ai cũng sợ về địa phương. Con thì ở bên ngành giáo dục, nghe thông cáo bảo về dạy học lại nên con dẫn mấy đứa về, vào trường xin thì ông Hiệu trưởng ổng biểu phải đi học bồi dưỡng chính trị ở Tam Kỳ một tháng, nên con phải về đây nhờ mẹ.

- Nhờ cái chi?

- Thì con gởi mấy đứa nhỏ ở đây, con đi học bồi dưỡng một tháng, con mượn chiếc xe đạp của chị Kim sáng đi chiều về, được không mẹ?

Bà Khải ôn tồn:

- Con cứ coi nhà này như nhà con vậy, có chi đâu, mẹ với cha sống với nhau hơn năm mươi năm, bao nhiêu dành dụm cũng cố gắng dành cho các con, nhưng không may chiến tranh làm tiêu tan cả. Căn nhà này cũng chỉ còn trơ cái nền, mẹ mới làm lại để có chỗ chui ra chui vào. Bây giờ thằng Soại đi học tập, con về đây ở với mẹ là mẹ mừng lắm, sớm hôm mẹ con có nhau, có mấy cháu mẹ cũng vui, có cơm ăn cơm có cháo ăn cháo.

Nại Hiên nghe bà Khải nói là thấy lòng mình dịu lại, nàng tự trách mình ngày trước khi nàng sống ở Đà Nẵng với Soại, mỗi lần bà ra thăm con, thăm cháu, có nhiều điều vì nàng kỹ tính quá làm cho bà buồn giận, bỏ về quê. Nàng vẫn đinh ninh trong lòng bà sẽ giận nàng chuyện đó. Nay nàng trở về trong sự thất thế như thế này, nếu bà xua đuổi thì nàng cũng không có gì phiền trách, tính đàn bà thường hay nhớ dai, nhưng nay nàng đã trút đi được cái lo ấy. Nại Hiên cầm lấy bàn tay nhăn nheo của bà Khải, nàng lí nhí trong miệng:

- Con cảm ơn mẹ, anh Soại đi cải tạo con mong ảnh về sớm, nếu được ảnh về đây, con đi dạy có chút lương, ảnh về làm ruộng thêm mình sống qua ngày cũng được, mẹ ha?

- Con nói vậy mẹ cũng vui, mong cho các con có cái ăn, cái mặc, chứ đời mẹ già rồi sống sao cũng được.

Nại Hiên không dám nói thêm, sợ động đến tấm lòng của bà Khải, hai đứa con đi lính và nay cả hai cũng đang trong diện tập trung. Nàng đứng dậy, nói nhỏ:

- Hôm nay con nấu cơm cho mẹ nhé, mẹ ngồi nghỉ đi, con biết chỗ để gạo rồi. Nấu cơm và luộc rau lang ăn mẹ nghe, con lâu rồi không ăn rau lang cũng thèm lắm.

Nàng xuống bếp nhúm lửa, vo gạo. Cái nhà bếp là một chái tranh che ra ngoài, một đống tro ủ than lửa đỏ, một cái bộ kiềng ông táo bằng sắt đặt trên bếp than, bên ngoài là vò nước lạnh, có cái gáo dừa móc trên một cành cây, mấy cái nồi, niêu, soong, chảo, mắc linh tinh trên tấm phên tre. Cuộc sống thật bình dị, nếu chấp nhận thì cũng dễ dàng.

Chị hai Kim, chị của Soại, nghe tin Hiên dẫn cháu về thì tất tả đạp xe vào thăm. Dáng chị tất bật trông rõ khổ. Chồng chị đi lính địa phương quân làm việc ở chi khu, nay đang đi dân công gỡ mình đâu trên rừng núi Phước Long. Anh nhắn về là công việc không có gì nặng nhọc và nguy hiểm cả, nhưng chị vẫn lo. Cả Hựu cũng đi lính chi khu, giải phóng về, cả Hựu ra trình diện bị đưa đi phá đồn bót, gỡ mình, cũng trên miệt Tiên Phước, chẳng may gặp mình nổ tung banh xác. Mà đâu có kêu kiện được ai. Thời buổi giao mùa đen trắng chưa rõ, lòng người cũng sống theo thời, gió chiều nào xuôi chiều đó cho yên.

Nay nghe tin Nại Hiên về, chị liền vô thăm để hỏi thăm tin tức của Soại. Một lòng nhất quyết không cho Soại về đây trình diện, dù sao trong Sài Gòn cũng đỡ hơn ở quê.

Chị Kim để xe đạp ở ngoài cổng rồi hấp tấp đi vào trong nhà. Bà Khải đang ngồi ăn trầu ở trên chiếc chỏng tre kê ngoài mái hiên. Nơi đây, bà thường nằm nghỉ buổi trưa. Gió mát hiu hiu, nhiều lúc bà ngủ luôn một giấc đến chiều. Tuổi già, bây giờ bà sống an phận, trồng rau rác trong vườn để lấy rau ăn. Buổi chiều bà đi ra chợ Quán bán thuốc rê kiếm chút tiền lời mua cá thịt. Còn gạo, nước mắm, than củi thì có chị Kim lo. Bà cũng an phận, chứ ngồi nhà mà nhớ hai thằng con trai đang đi cải tạo ở nơi chốn nào bà không biết, cũng làm bà buồn khổ nát lòng ra. Thì đi ra ngồi ngoài chợ buôn bán chút đỉnh, nhìn người qua kẻ lại cho vui, chớ ngồi nhà, nghĩ đến con là bà khóc.

Nghe toếng xe đạp chạy ngoài đường, bà Khải biết chị hai Kim vào, bà nhìn ra thì chị hai Kim đã vào đến sân nhà. Từ ngoài, chị Kim nói lớn vào trong:

- Mẹ con con Hiên về đó hả? Về được đây là mừng rồi, chứ nghe nói ở Sài Gòn, Long Khánh đánh nhau dữ dội, chị lo quá.

Nại Hiên đang lui cui dưới bếp, nàng đang vo gạo nấu cơm. Khi bắc nồi cơm lên ông lò xong, nàng lau tay rồi đi lên nhà trên.

Nại Hiên nói:

- Chào chị hai, em và mấy cháu về trong ngoại tuần nay, hôm nay mới về thăm bà nội.

Chị hai Kim hỏi dồn:

- Em về còn thằng Soại, thằng Giang ra sao? Nghe nói họ chiếm Sài Gòn 30/4, chị lo quá, không biết tụi bay chạy vào đó có bình yên không?

Nại Hiên nói với vẻ dè dặt:

- Em về vì ở trong đó nghe thông cáo ở đài phát thanh nói công nhân viên chức ai về nhiệm sở cũ sẽ được thu dụng lại, em nghĩ mình đi dạy có tội tình gì đâu nên em về. Em đã trình diện trong trường em, ông hiệu trưởng bảo em phải đi học khóa bồi dưỡng về chính trị rồi mới xét.

Chị Kim tỏ vẻ lo lắng:

- Em cứ theo học đi, nhưng chị nghĩ cũng khó. Cô Lan, vợ anh Biền, đại uý cảnh sát, ảnh đi học tập ở Tiên Lãnh, cô Lan ở nhà đi học bồi dưỡng xong về mà họ cũng không cho đi dạy lại. Thành phần mình bây giờ khó lắm.

Nại Hiên vẫn còn chút tin tưởng nên cố gắng trả lời, nàng nói như nàng đang cổ động tinh thần cho chính mình.

- Dù gì thì em cũng về rồi, họ bảo sao mình làm vậy, em nghĩ là em chỉ đi dạy chứ có tham gia chính trị chính em gì đâu, với lại em có bằng Đại Học Sư Phạm.

Chị Kim không muốn bàn ra làm cho Nại Hiên lo lắng thêm. Chị nói:

- Chị nói vậy thôi chứ em đi học bồi dưỡng cứ đi. Bây giờ em tính sao?

- Em tính em đi học dưới Tam Kỳ bốn tuần lận, em nhờ mẹ coi dùm mấy cháu cho em, chị cho em mượn chiếc xe đạp, em sáng đi chiều về, cũng cực nhưng em cố gắng, chứ biết làm sao!

Chị Kim:

- Đi về hàng ngày cũng cực lắm, nhưng mà em đã quyết như vậy thì cũng được, xe đạp chị có hai chiếc, em cứ lấy một chiếc mà đi.

Nghe chị Kim nói vậy, Nại Hiên cũng thấy nhẹ người. Một chiếc xe đạp bây giờ còn quý giá hơn chiếc honda ngày trước nhiều, nếu không có chiếc xe đạp thì nàng cũng chẳng biết xoay xở ra làm sao, mà mua một chiếc xe đạp bây giờ cũng rất khó, tiền bạc đâu có để mà mua.

Chuyện trò xong Nại Hiên xuống bếp nấu cơm tiếp. Chị Kim chạy ra chợ mua miếng thịt heo nhỏ, bà Khải ra vườn hái đọt lang vào luộc. Bữa cơm đạm bạc nhưng ai ăn cũng ngon miệng, có rau lang luộc chấm nước mắm cá nục và ăn với thịt heo ba chỉ. Nồi cơm trắng nấu bốn lon gạo mà ba người lớn và hai đứa con nít đã ăn hết sạch. Cơm ngon thì ngon nhưng nghĩ đến sức ăn như thế này, trong thời buổi gạo châu củi quế, làm ra bát cơm để ăn được cũng khó lắm.


Chương Mười Lăm


tranh_dc_8




Nại Hiên thức dậy từ sáng sớm. Nàng lo nấu cơm và dọn dẹp nhà cửa, lo cho bà Khải và ba đứa con bữa ăn sáng. Nàng lấy lon Guigoz bới cho mình một lon cơm và một khúc cá chiên, để nàng ăn buổi trưa. Hôm nay, Nại Hiên định xuống Phòng Giáo Dục để hỏi thủ tục theo học khóa huấn luyện bổ túc chính trị, bao giờ khai giảng?. Dù gì nàng cũng phải đi hỏi. Đây là một cái cầu nối duy nhất để nàng bước tiếp con đường dạy học. Nếu muốn đi dạy lại thì phải qua cây cầu này. Nàng tự nhủ lòng như thế. Nàng đã quyết định phấn đấu, vượt qua những khó khăn để được đi dạy lại. Nàng nghĩ đó là con đường duy nhất cho nàng có thể nuôi ba đứa con, chứ đi ra buôn bán hay làm ruộng, làm sao nàng làm nỗi. Để tiện việc ăn uống và không quá tốn kém, nàng quyết định bới cơm theo ăn trưa. Thời buổi này mà lấy tiền đâu ăn cơm quán. Trong giờ nghỉ trưa, nàng sẽ đem cơm ra ăn. Nàng mang theo một lon guigoz đựng nước sôi để nguội. Như vậy là nàng đã quá tiết kiệm. Qua khóa học, may mà được đi dạy lại, nàng có chút lương hàng tháng, nàng sẽ mua gạo gởi lại cho bà Khải, vì nàng biết bà Khải đã già, chẳng còn làm ra được gì nhiều, ăn miếng cơm của bà lúc này nàng nghe đắng chát, nhưng biết làm sao hơn.

Nại Hiên lựa một cái quần tây cũ, màu nâu đậm, ống quần vừa phải không rộng lắm và cũng không chật quá. Chiếc áo sơ mi màu xanh da trời. Như vậy là được rồi. Từ hồi “giải phóng” đến nay, nàng chưa bao giờ được mặc một lần chiếc áo dài, nên nàng cũng thèm thuồng được mặc lắm, những chiếc áo dài nàng còn giữ treo đầy trong tủ. Nhưng nay, tự dưng, trong hoàn cảnh này, đi trình diện để theo học khóa bồi dưỡng, nàng vẫn thấy mặc áo dài không còn hợp thời nữa. Áo dài bây giờ đã thành một món hàng xa xỉ phẩm, mốt thời thượng quá lố, mặc nó vào tự nhiên cảm thấy lạ lẫm, như là quá phong lưu, quá đài các và phi lao động.

Chiếc xe đạp của chị Kim cho mượn là chiếc xe đạp sườn đầm sơn màu xanh đậm. Đàng sau baga chị kẹp thêm hai thanh gỗ dài để chở hàng. Nại Hiên tháo hai thanh gỗ ra và buộc cái xách trong đó đựng cơm nước của nàng lo cho bữa ăn trưa. Nàng kiểm tra lại bánh xe đạp có đủ độ cứng chưa. Nàng xem lại cái yên xe, cái yên đã sờn rách, các ốc vít gắn trên yên xe đã long, nàng phải lấy dây cao su bó chặt lại nên cái yên cộm lên. Nhưng dù sao nàng cũng yên tâm ngồi đạp xe hơn là ngồi trên cái yên quá lõng lẽo.

Nại Hiên chuẩn bị xong xuôi, nàng trở vào trong nhà dặn dò Anh Thư và Đông Nghi:

- Hai con ở nhà với bà nội, me đi xuống thị xã có chút việc chiều mẹ mới về, hai con không được phá nghe, me về nghe bà nội mách lại là bị ăn đòn đó nghe.

Hai đứa con gái vừa mới thức dậy, vẫn còn ngái ngủ nên gật đầu cho có lệ. Biết me đi thị xã nên con Anh Thư dặn dò thêm:

- Chiều me về mua cà rem cho con nghe.

- Ừ, me sẽ mua quà về cho các con.

Nại Hiên nhìn vào trong buồng thấy bà Khải còn đang ngủ với bé Anh Chi, dù vậy nàng vẫn chào:

- Thưa mẹ con đi.

Nàng bước ra sân, dắt chiếc xe đạp ra khỏi cổng rồi mới leo lên xe. Vì mới đi lại xe đạp, cũng hơn trên mười năm, từ ngày gia đình nàng sắm chiếc Honda dame, nàng không đi xe đạp nữa, nên nàng lái lạng quạng lúc đầu. Đường trong xóm buổi sáng vắng người nên cũng đỡ lo. Khi đạp xe đến đường tỉnh lộ, nàng thấy tay lái mình mới nhuần nhuyễn đôi chút. Buổi sáng sớm nên ít người đi lại trên đường, một vài chiếc xe đạp thồ chạy ngược chiều, một vài người quang gánh đi chợ Chiên Đàn sớm. Trời se lạnh, gió mát thổi rì rào trên các lùm cây. Một đêm đã qua và một ngày mới bắt đầu.

Nàng đạp xe vô đến Kỳ Hương là thấy mình đã quá mệt, mồ hôi mồ kê chảy ra ướt cả vạt áo sau lưng. Nại Hiên thở mạnh, cố dấn bàn chân đạp mạnh lên pedal xe. Chiếc xe đã cũ nên nặng trình trịch. Nại Hiên quẹo xe theo hướng tòa hành chánh tỉnh cũ. Cách đây hơn khoảng năm tháng thôi, khu vực này là tỉnh lỵ Quảng Tín. Có mấy lần nàng đã đến đây, đến với Soại bằng trên chiếc xe jeep của anh, trong những lúc anh đi công tác liên lạc Trung Đoàn với Tiểu Khu. Anh đã chở nàng đến đây và bảo nàng vào quán cà phê ngồi đợi anh. Anh quay lại một vài tiếng sau đó, rồi hai người cùng đi ăn phở hoặc mì Quảng. Nơi này, với nàng tuy đã biết qua, nhưng nay thì rất lạ. Chỉ cách đây trên năm tháng, đây là nơi các ty, sở của tòa hành chánh tỉnh. Bây giờ đã đổi chủ. Nơi nào của đơn vị quân đội cũ nay đều đổi tên “Doanh Trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” với màu chữ vàng trên nền đỏ chói.

Nại Hiên loay hoay trên đường lên tòa hành chánh. Nàng nhớ lời hướng dẫn của ông hiệu trưởng trong trường hôm nọ. Phòng Giáo Dục bây giờ là Cơ Sở Học Chánh ngày trước. Nại Hiên đi theo trí nhớ của những năm tháng cũ, khi nàng ra trường sư phạm về trình diện ở Sở Học Chánh. Những hàng cây dương liễu, bạch đàn, trồng hai bên đường theo gió reo vi vu. Một cơn gió mát thổi qua làm nàng thấy khoẻ lại đôi chút. Đạp xe trên đoạn đường tám cây số, qua hai cây cầu bị gãy đổ phải dắt xe men theo bờ ruộng đi quanh. Bây giờ đã đến đây rồi, phải tiếp tục con đường đang đi, không thể quay lại được. Dù thế nào đi nữa nàng cũng phải cố gắng.

Nại Hiên mừng quýnh lên khi từ đàng xa nàng thấy tấm bảng màu xanh đậm có hàng chữ "Phòng Giáo Dục". Nàng đạp xe mau hơn, đôi mắt nháo nhác tim chỗ để xe, nàng dựa xe vào bậc thềm xi măng rồi khóa xe cẩn thận lại. Nàng bỗng bật cười khan. Chiếc xe đạp cà tàng thế này mà bây giờ quý quá, không có nó là không làm gì được, mất là không có tiền đền cho chị Kim. Khóa xong xe nàng bước lên thềm đi đến Phòng Giáo Dục.

Văn phòng chỉ có hai người làm việc. Cách trang trí thô sơ, giản dị. Những cái bàn gỗ với những xấp hồ sơ. Trên tường là tấm hình ông Hồ với chòm râu bạc và câu châm ngôn kẻ màu vàng trên tấm vải đỏ: Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Tự Do.


Tr
ần Yên Hòa
(còn tiếp)


Sông Quê - Nhạc: Đynh Trầm Ca. Cẩm Ly & Quốc Đại








Ý kiến bạn đọc
31 Tháng Mười 20127:00 SA
Khách
I'm impressed! You've managed the almost impsiobsle.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 10905)
Đẹp ngẩn ngơ cái nắng Tam Kỳ. Nhuộm vàng phố nhỏ chút tình si. Rợp bóng con đường hoa bò cạp. Ngày xưa qua đó tuổi xuân thì. Hoa nở lung linh màu nắng mới. Em có về trên phố nắng trưa. Ngày đi mang cả mùa hạ nhớ. Rơi đầy trong gió sắc hương
06 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 11701)
Với tôi, đó là thước đo hay, chỉ dấu rõ nét nhất của một tài năng văn xuôi. Và, với “Sấp Ngửa” (phần truyện ngắn), Trần Yên Hòa xứng đáng được nhìn như thế.
02 Tháng Sáu 201612:00 SA(Xem: 7844)
Sấp Ngửa, tác phẩm mới nhất của Trần Yên Hòa ra mắt tháng 5 năm nay (2016), sau khi vừa tái bản truyện dài Mẫu Hệ, như là một kết hợp vừa tân truyện vừa vẽ lại chân dung một số bạn văn đa phần người cùng quê anh. Sách dày hơn 350 trang, khổ lớn, trình bày in ấn đẹp, trang nhã, phát hành song hành trên amazo
27 Tháng Năm 201612:00 SA(Xem: 6517)
Vẫn giọng thơ Hoàng Lộc cách đây năm mươi năm, vẫn văn phong, ngôn ngữ ngời ngời, lồng lộng mà chỉ Hoàng Lộc mới có. Đến bây giờ anh đã trên bảy mươi, một chuổi tháng năm dài với thơ không mỏi mệt
26 Tháng Năm 201612:00 SA(Xem: 10751)
Gã nối kết những tay em với danh từ rất kêu, rất nghĩa hiệp. Những điều mà ai cũng cố tìm ở nơi lưu lạc, nơi xứ sở lưu vong này một chữ tình. Phải, đúng vậy chớ, là chúng ta mất hết chỉ còn có nhau