DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,709,430

Tiểu đoàn 52 Biệt Động Quân - Vương Hồng Anh

11 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 10607)
Tiểu đoàn 52 Biệt Động Quân - Vương Hồng Anh

Tiểu đoàn 52 Biệt Động Quân ” Sấm Sét Miền Đông”… Từ Đồng Xoài đến Bà Rịa 1965

 

 

 blank

 


blank

Hai chiến binh Biệt động quân tại chiến trường Đồng Xoài

 

 

Trong chiến sử của binh chủng Biệt động quân, Tiểu đoàn 52 Biệt động quân là 1 trong những đơn vị đã có những trận đánh được ghi vào quân sử Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ sau hơn 1 năm thành lập, Tiểu đoàn 52 Biệt động quân (BĐQ) đã được báo chí vinh tặng danh hiệu “tiểu đoàn Sấm Sét Miền Đông” sau trận đánh lịch sử tại quận lỵ quận Đôn Luân (Đồng Xoài), vào tháng 5/1965. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Việt Nam, Cộng quân đã huy động ba trung đoàn chủ lực để đánh chiếm một quận lỵ của Việt Nam Cộng Hòa, và dàn quân để nghênh chiến các đơn vị tiếp ứng. Là lực lượng trừ bị cơ hữu của Quân đoàn 3, Tiểu đoàn 52 Biệt động quân được điều đồng tiếp cứu quân trú phòng ở Đôn Luân

*Trận chiến tại Đồng Xoài

Theo kế hoạch hành quân, toàn tiểu đoàn được trực thăng vận xuống Phước Thành vào buổi trưa và sau đó đổ quân xuống sân vận động quận lỵ vào 4 giờ chiều, đúng vào lúc Cộng quân đã tràn ngập trụ sở quận. Qua liên lạc, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 xác nhận là lực lượng chi khu Đôn Luân còn làm chủ tình hình trong quận lỵ. Đại đội 4 của tiểu đoàn tiến vào thì bị Cộng quân từ quận đường bắn ra. Trước tình hình đó, ba đại đội còn lại và ban chỉ huy tiểu đoàn đã rút ra ngoài hàng rào trước cửa để đợi Quân đoàn tái xác nhận. 15 phút sau, trung đội 1 của đại đội 3 bám sát hàng rào ngoài quận đường quan sát và thấy rõ Cộng quân đang sử dụng đại liên đặt trên chiến xa của chi khu (địch đã chiếm được) để tác xạ vào đội hình của Biệt động quân

Sau khi nhận được báo cáo, Đại úy Hoàng Thọ Nhu, tiểu đoàn trưởng, xin sự yểm trợ của Không lực Hoa Kỳ qua sự liên lạc của cố vấn, oanh tạc ngay vào quận đường. Hai phi cơ B-57 đã nhào xuống tiêu diệt các ổ hỏa lực của Cộng quân trên 2 xe thiết giáp. Đợt oanh tạc kết thúc, kho đạn trong chi khu (quận) nỗ dữ dội. Trung úy Trần Thanh Thủy, đại đội trưởng đại đội 3 quyết định tung trung đội 1 bò vào chiếm lại quận đường. Khoảng 8 giờ đêm, kho đạn ngừng nổ, đại đội 3 đã bố trí quanh hàng rào phòng thủ của chi khu để đợi Cộng quân từ hai trại bên kéo trở lại. Biệt động quân đánh tan hai cánh quân này và sau đó tràn lên tái chiếm căn cứ Biệt kích và Pháo binh trong quận lỵ trước khi trời sáng. Tiểu đoàn 52 Biệt động quân đã tịch thu hàng trăm vũ khí, trong đó có hơn 50 súng AK 47. Sau chiến thắng này, tiểu đoàn được tuyên dương công trạng trước Quân đội.

* Trận phản phục của Tiểu đoàn Sấm Sét Miền Đông gần Bà Rịa, trên Quốc lộ 15:

Tháng 10/1965, do áp lực nặng của Cộng quân tại Phước Tuy, tiểu đoàn Sấm Sét Miền Đông được Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 tăng phái cho tiểu khu Phước Tuy, đặt dưới quyền điều động của Trung tá Lê Đức Đạt-tiểu khu trưởng (năm 1972, ông là Đại tá Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh, tự sát tại Tân Cảnh cuối tháng 4/1972). Theo phân nhiệm, tiểu đoàn là nỗ lực chính trong các cuộc hành quân tảo thanh và giải tỏa áp lực của Cộng quân tại Xuyên Mộc, Đất Đỏ, Hàm Long, Núi Đất. Do phải tăng phái 1 đại đội của Tiểu đoàn (đại đội 1/52) phòng ngự ở Bình Giả, nên tiểu đoàn chỉ còn 3 đại đội và ban chỉ huy tiểu đoàn tham gia cuộc hành quân trên địa bàn Phước Tuy

Ngày 11 tháng 11/1965, theo kế hoạch của Bộ chỉ huy Tiểu khu Phước Tuy, đại đội 2/52 do Trung úy Trần Trọng Truồi chỉ huy được chỉ định hoạt động dọc theo đèo Mẹ Bồng Con, tiểu đoàn chỉ còn lại hai đại đội 3/54, 4/52 và được lệnh di chuyển từ vùng hành quân về vị trí mới. Thành phần này được Tiểu khu Phước Tuy tăng cường hai xe thiết giáp (loại xe của Mã Lai dùng để tiểu trừ du kích) và 1 đại đội Địa phương quân. Đoàn quân do Đại úy Nguyễn Hiệp, tiểu đoàn phó chỉ huy. (Tháng 9/1966, đại úy Hiệp giữ chức tiểu đoàn trưởng, thăng thiếu tá sau trận đánh Suối Long).

Trong khi tiểu đoàn đang di chuyển trên Quốc lộ 15 thì Bộ chỉ huy Tiểu khu Phước Tuy được một hồi chánh viên cho biết là trung đoàn của anh ta đang bố trí sát sân bắn ở đầu tỉnh đợi phục kích Tiểu đoàn 52 BĐQ. Liền ngay sau đó, phi cơ quan sát L 19 được gởi tới, quan sát viên xác nhận đã thấy các cụm bố trí của Cộng quân (CQ). Khi vị tiểu đoàn phó nhận được thông báo về cuộc phục kích của CQ thì đoàn xe đã tiến vào khu vực mà địch quân đang bố trí. Theo lời kể của Đại úy Hiệp với một số phóng viên chiến trường sau khi trận đánh kết thúc, thì vị tiểu đoàn phó này đã kịp thời đưa ra một quyết định khẩn cấp là cho lệnh đoàn xe dừng lại khi còn cách khúc quanh 50 thước-nơi mà Cộng quân được lệnh khai hỏa khi chiếc xe đầu tiên xuất hiện, đồng thời chỉ định trung đội đi đầu của đại đội 3 khởi động khai hỏa khi có lệnh.

Trở lại với trận phục kích trên Quốc lộ 15, theo các tài liệu tổng hợp của đặc san Mũ Nâu và KBC, tuyến phục kích của địch quân dài 2 km với 2 tiểu đoàn dàn trận từ chân núi Thị Vải. Tiểu đoàn CQ thứ ba nằm cạnh sân bắn của tỉnh. Khi đoàn xe vừa ngừng, các chiến binh Nũ Nâu đã tự động nhảy xuống bố trí. Trung đội 1 của đại đội 3 do 1 trung úy chỉ huy được đại úy Trần Thanh Thủy-đại đội trưởng, tăng cường 2 thiện xạ nổi tiếng thuộc ban chỉ huy đại đội là Thượng sĩ Hoàng Tào với cây súng M 14 và Hạ sĩ nhất Đinh Đô với cây AR 15 thần tốc, hai tay súng này đã yểm trợ cho tổ đại liên của trung đội 1 khai hỏa loạt súng đầu tiên cho trận đánh thay vì phát súng đầu tiên do Cộng quân khai hỏa. Tổ hỏa lực tiền tiêu của CQ đặt tại vườn mít nằm sát Quốc lộ 1, đã phải lúng túng khi Biệt động quân khai hỏa trước, vì theo kế hoạch phục kích của CQ, tổ hỏa lực này chỉ khai hỏa khi chiếc xe đầu tiên của BĐQ đến khúc quanh

Sau khi khai hỏa, trung đội 1/đại đội 3 tràn lên chiếm vườn mít. Cây B 40 của tổ hỏa lực CQ chỉ mới bắn được một phát trúng xe cơ giới của Địa phương quân gây phát hỏa, đã bị một toán chiến binh trung đội 1 tràn lên đoạt ngay. Trận chiến trở nên quyết liệt hơn khi Cộng quân từ các vị trí bên trong bắn xối xả về hướng của Biệt động quân để yểm trợ cho thành phần xung kích đang tràn ra. Tại Vườn Mít, tổ đại liên M 60 cùng hai thiện xạ M 14 và AR 15 đã chận đứng đợt xung phong của địch. Để yểm trợ cho tiểu đoàn 52 BDQ, sau khi nhận được yêu cầu của Quân đoàn 3, phản lực cơ F 100 của Không quân Hoa Kỳ từ Đệ thất hạm đội đã bay vào vùng xảy ra giao tranh. Để Không quân khó oanh tạc, Cộng quân cố tràn ra bám sát trận địa, vườn mít trở thành mục tiêu của cả hai bên.

Theo lệnh của Tiểu đoàn phó, Đại úy Trần Thanh Thủy-đại đội trưởng đại đội 3 cho rút trung đội 1 rút về bên kia Quốc lộ dể Không quân dễ dàng oanh kích Cộng quân. Trong khi F 100 oanh tạc dữ dội, thì trung đội 1 men theo Quốc lộ tiến về khúc quanh sát sân bắn để đợi dịp xung phong vào cánh trái của địch quân.

Đối phương cố bám sát Biệt động quân để vô hiệu hóa các phi vụ không yểm, trong khi đó phía sau của Tiểu đoàn 52 BĐQ là bãi sình lầy lội, do đó Đại úy Hiệp-tiểu đoàn phó đã xin Không quân oanh tạc dọc Quốc lộ, chấp nhận cùng địch tổn thất nếu bị rủi ro. Cùng lúc đó, đại đội 2/52 đang hoạt động tại đèo Mẹ Bồng Con được lệnh rời vùng hành quân để tiếp ứng. Cả đại đội này đã quá giang xe đò về bố trí ở ấp sát khu vực phục kích. Trung úy Trần Trọng Truồi, đại đội trưởng đã cho các trung đội dàn quân để đợi lệnh xung phong tấn công địch quân từ cánh phải. Với lối điều quân linh động, lực lượng Tiểu đoàn 52 Biệt động quân dù ít nhưng đã có được 2 gọng kềm phía ngoài để kẹp ngược lại các đơn vị Cộng quân

Sau 1 giờ giao tranh với nhiều phi tuần F 100 yểm trợ liên tục, Cộng quân đã bị tổn thất nặng. Trời gần tối, Đại úy Hiệp xin ngưng không trợ và cho lệnh các đại đội xung phong. Tiểu đoàn 52 Biệt động quân từ chính diện và hai bên trái phải của Cộng quân đồng loạt tiến lên theo tiếng còi của cấp chỉ huy. Tuyến phục kích bị chọc thủng, Cộng quân tháo chạy về cánh rừng sát chân núi Thị Vải. Sau trận đánh, Tiểu đoàn 52 Biệt động quân đã được các tướng lãnh Hoa Kỳ ngợi khen. Theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ tại Việt Nam, Tổng thống Jonhson đã ký quyết định ân thưởng huy chương Danh Dự của Tổng thống Hoa Kỳ cho Tiểu đoàn Sấm Sét Miền Đông.



Vương Hồng Anh

 

Tình Ca. Phạm Duy. Paris by Night

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20187:31 SA(Xem: 61)
Năm 1979 là năm tệ hệ nhất của đời tôi ở cái đất Sài thành. Ban ngày tôi ra chợ sách bán sách và thuốc lá ké một góc sạp sách của người bạn cùng đơn vị trước 75 để kiếm sống qua ngày. Sách lèo tèo vài ba cuốn. Thuốc lá thì vài bao. Vốn liếng đều do cô bạn nhỏ cùng quê tốt bụng giúp đỡ. Nhiều bữa không bán buôn được gì tôi chạy ra đầu đường uống nước máy trừ cơm. Ban đêm rúc vào một góc nào đó ngủ bụi. Vậy mà cũng lây lất ngày này qua tháng nọ như một phép lạ. Một hôm, anh bạn trẻ Đỗ Thất Kinh từ trên Bản Thuột về Sài Gòn tìm kế sinh nhai, may mắn tìm được một chân giao bơ đậu phọng cho khách hàng. Đang đói, tôi bám theo liền. Chật vật vậy mà hai anh em cũng sống qua ngày. Có điều ban đêm tôi phải tìm chỗ ngủ vì bạn tôi cũng ở lậu; rầy đây mai đó nhưng khá hơn tôi là bạn ngủ dưới một mái nhà.
21 Tháng Năm 20182:23 CH(Xem: 217)
Một Đại Hội 21 của các cựu SVSQ Trường VBQGVN vừa được tổ chức vào những ngày 11, 12 và 13 tháng 5/2018 tại thành phố San Jose, miền Bắc Cali, đã thành công tốt đẹp. Xin được chúc mừng và ngợi ca ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức để có được một Đại Hội với nhiều hình thức truyền thống Võ Bị đáng được tự hào. Đại Hội cũng đã bầu ra một vị Tân Tổng Hội Trưởng, tốt nghiệp Khóa 24, có đầy đủ khả năng để chu toàn trách nhiệm.Tuy nhiên bên cạnh sự thành công và niềm tự hào đó, dường như vẫn phảng phất điều gì làm người ta cảm thấy ít nhiều tiếc nuối, xót xa. Bởi chỉ hơn một tháng sau, vào các ngày 23-24 và 25 tháng 6 tới đây, cũng sẽ có một Đại Hội 21 nữa được tổ chức tại Westminster, miền Nam Cali, và cũng để bầu một Tân Tổng Hội Trưởng. Điều khó hiểu là cả hai Đại Hội cùng mang tên Đại Hội 21 này đều nhân danh Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 318)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 130)
Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 222)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương