DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,708,847

Nhà thơ Tô Kiều Ngân qua đời tại Sài Gòn, thọ 86 tuổi

21 Tháng Mười 201212:00 SA(Xem: 29473)
Nhà thơ Tô Kiều Ngân qua đời tại Sài Gòn, thọ 86 tuổi
Nhà thơ Tô Kiều Ngân qua đời tại Sài Gòn, thọ 86 tuổi




SÀI GÒN -
Nhà thơ Tô Kiều Ngân, một trong những người đồng sáng lập ban thi văn Tao Đàn trên đài phát thanh Sài Gòn năm 1955, vừa qua đời ngày 20 tháng 10, 2012, tại Sài Gòn, thọ 86 tuổi.


 

blank

Di ảnh nhà thơ Tô Kiều Ngân.

 

 

Nhà thơ Tô Kiều Ngân, thế danh Lê Mộng Ngân, sinh năm 1926, tại Huế. Ông bắt đầu sinh hoạt văn nghệ từ năm 1948. Tác phẩm đầu tiên của ông là kịch thơ 4 màn “Ngã Ba Đường,” do ban kịch Sông Ô trình diễn trên sân khấu Huế.

Trong phần viết về Tô Kiều Ngân, nhà thơ Du Tử Lê từng viết: “Tuổi trẻ của ông được nuôi dưỡng trong bầu không khí trang nghiêm cổ kính của thành phố buồn, thành phố của những dấu tích xa xưa, của bao nhiêu triều đại đã hưng phế, nay chỉ còn trơ lại một nội thành với những lăng tẩm u trầm, một dòng sông Hương ‘Nông chờ’ tháng năm lạnh lùng trôi qua, biểu tượng niềm riêng, nỗi quạnh hiu của người dân xứ Huế.”

Vẫn theo bài viết của tác giả Du Tử Lê, năm 1950, Tô Kiều Ngân gia nhập quân đội. Năm 1952 ông đưa gia đình vào Nam. Tại đây, ông lần lượt viết cho các báo Đời Mới, Người Sống Mới, đồng thời cộng tác với một vài tờ báo xuất bản tại Hà Nội như Hồ Gươm, Giác Ngộ...

Năm 1955 ông cùng Đinh Hùng và vài người nữa thành lập ban thi văn Tao Đàn trên đài phát thanh Sài Gòn. Sau đó ông cùng Thanh Nam chủ trương tuần báo Thẩm Mỹ, rồi cộng tác với Sáng Tạo, Văn Nghệ Tiền Phong, Tiểu Thuyết Tuần San v.v...

Về mặt quân đội, có thời ông làm chủ bút tờ Quân Đội bán nguyệt san (do Nha C.T.T.L . ấn hành), đồng thời chủ trương biên tập nguyệt san “Văn Nghệ Chiến Sĩ” của QLVNCH.

Theo cáo phó của gia đình, linh cữu nhà thơ được quàn tại tư gia, số 57/6/4 Điện Biên Phủ, quận Bình Thạnh. Lễ động quan vào ngày 24 tháng 10 năm 2012. Hỏa táng tại nghĩa trang Bình Hưng Hòa.

 

BVN-TH

(từ NV)

Tô Kiều Ngân



tkn
T
ô Kiều Ngân




Tô Kiều Ngân tên thật là Lê Mộng Ngân, người Huế . Ông đa tài lắm: ca hát, làm thơ, ngâm thơ, thổi sáo . Một số bài thơ về Huế của ông được phổ nhạc như “Những Con Đường Trắng” . Ông ngâm bài “Đây Thôn Vỹ Dạ” (Hàn Mặc Tử) thì phải nói là tuyệt . Đa số nghệ sĩ ngâm thơ bài này đều bắt chước lối ngâm của ông . Ông thổi sáo đệm cho nhiều nghệ sĩ ngâm thơ nổi tiếng như Hồ Điệp, Hoàng Oanh, Hoàng Thư, Quang Minh, Quách Đàm . Trước 1975, ông cộng tác với ban Tao Đàn và Thi Nhạc Giao Duyên của thi sĩ Dinh Hùng . Khi Đinh Hùng qua đời năm 1967, ông phụ trách ban Tao Đàn .

Hồi còn bé ở Dalat, NNS được Ông Anh họ dẫn vào trường Đại học Chiến Tranh Chính Trị, đối diện trường Trung học Bùi Thị Xuân, dự ké ngày bãi trường của Khóa 30 (?) Căn Bản CTCT năm 1974. NNS lúc đó còn bé lắm, nhưng vẫn nhớ đến hình ảnh một Sĩ quan mang cấp bậc Thiếu tá, mặc đồng phục trận xanh ô liêu, cổ quấn khăn màu xanh da trời, thật phong độ, mà Ông Anh bảo Thiếu tá Tô Kiều Ngân đấy: "có tiếng sáo tuyệt diệu, chả thua gì Nguyễn Đình Nghĩa đâu"... NNS thán phục lắm, về đòi học thổi sáo cho được . Nhờ thế mà hôm nay NNS thêm một món ăn chơi khác: Sáo cũng kha khá, ngoài violin học chính quy từ trường Âm Nhạc Thụy Điển.

Ông Anh còn kể lại câu chuyện T/tá Tô Kiều Ngân từng viết bài Thơ in trong truyền đơn rải xuống chiến khu của Bộ đội miền Bắc, gọi Chiêu hồi, giò NNS vẫn nhớ:

"Từ buổi con lên đường xa Mẹ

Theo anh em sang Lào rồi dấn bước vào Trung

Non xanh núi biếc chập chùng

Sớm nắng biển, chiều mưa rừng gian khổ

Tuổi thanh niên cuộc đời như hoa nở

Vì hòa bình đâu ngại bước gian nguy

Sáu tháng trời, ngày nghỉ đêm đi

Giày vẹt gót áo sờn vai thấm lạnh

Có những chiều Trường Sơn núi rừng cô quạnh

Mẹ hiền ơi con nhợt nhớ Quê mình..."

Mục đích để lung lạc lòng các anh Bộ đội: Sinh Bắc tử Nam, trên đường đi B... Đúng là một Sĩ quan CTCT.. Giờ nhìn Ông đã già lắm rồi (SN 1926, cùng tuổi với Nhạc sĩ tài danh Anh Bằng), NNS thấy bùi ngùi cho một thời Oanh liệt của lớp đàn anh.

Mời Thân hữu đọc Thơ Tô Kiều Ngân:
....................................................................................................



NHỚ HUẾ


Anh nhìn em như nhìn thấy quê mình

Ôi xứ Huế thân yêu chừ xa khuất

Nghe em ngâm những âm thanh trong vắt

Anh hình dung thấy bóng

Một con thuyền

Một giải sương mờ

Một khóm trúc nghiêng nghiêng…

Những kỷ niệm ngày xa xưa bừng dậy

Âm thanh ấy thoát từ câu mái đẩy

Tiếng "hò….ơ.." nghe đứt ruột, buồn sao

Biết mấy đau thương, cũng biết mấy ngọt ngào

Lưu luyến ngàn đời

Như không muốn dứt

Giàn mướp vàng con ong bay hút mật

Trưa thiu thiu chày giã gạo buồn tênh

Giọng hò ru em rười rượi cất lên

Em đã ngủ sao chị còn ru mãi

"À…a…ời..

Hai tay cầm bốn tao nôi

Tao thẳng,tao dùi, tao nhớ, tao thương"

Có phải trưa nay chị nhớ người thương

Nên mượn cớ ru em để ru lòng mình thương nhớ

Có phải ngàn năm thương thương, nhớ nhớ

Khiến tiếng đàn bầu thêm xé ruột bào gan

Tiếng Nam Ai rung tận đáy tâm hồn

Tiếng sáo Huế dài thêm thổn thức

Và tiếng em ngâm lơi lơi, dìu dặt

Chở buồn về vây phủ kín hồn anh

Bọn chúng mình bỏ Huế tha phương

Những thổ ngữ lâu ngày quên lững mất

Bỗng hôm nay em ngâm lên như nhắc

Ôi vui sao giọng Huế của quê mình

Tưởng như mình đang đừng ở Bao Vinh

Đang thơ thẩn bên bờ sông Gia Hội

Vỹ dạ , Kim Luông, Nam Giao , Đất mới…

Nghe thân yêu biết mấy tiếng quê ta

Nhớ giọng hò, điệu hát lời ca

Nhớ hường thầu đâu ngát đường Giao Thủy

Nhớ mái chèo khua bên bờ thôn Vỹ

Nhớ bánh bèo, cơm hến, nhớ chè sen

Nhớ phấn thông vàng rụng lối đi quen

Hột móc , hột muồng, trái sim, trái vả

Nhớ hồ Tịnh tâm thơm sen chiều hạ

Nhớ quít Hương Cần, nhớ cốm Hai lu

Nhớ bờ tre vọng mãi tiếng chim cu…

Ngâm nữa đi em bài thơ giọng Huế

Chúng ta sẽ đưa nhau về thăm quê mẹ

Bằng con thuyền êm ái của thanh âm

Ngâm nữa đi em, ngâm nữa đi em.

Cho vợi nhớ thương thầm….


Gi
ọng Huế



Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức

Thả vào mắt em thêm một dáng u hoài

Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm

Thêm mây vào e tan nát lòng ai

Anh quì xuống hôn lên đôi mắt đó

Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng

Chắc tại em ngồi bên anh thỏ thẻ

Tiếng quê hương xao động đến vô cùng

" Hèn chi rứa? răng chừ? em sợ lắm"

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như từng thương câu hát Huế êm đềm….

Cám ơn em đã cho anh nhìn lại

Giòng sông Hương trên bến cảng Sài Gòn

Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh

Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non


Nếu lại được em ru bằng giọng Huế

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô..



NNS



Chuyện Huế ít người biết

blank Tô Kiều Ngân



Tại sao lại gọi là Ngựa Thượng Tứ ?


Ở Huế, khi nói về một người đàn bà hung dữ, có lời ăn tiếng nói thô lỗ, cử chỉ vùng vằng, người ta thường ví kẻ đó như Con ngựa Thượng Tứ . Thượng là thuộc về của Vua . Tứ là xe bốn bánh do ngựa kéo . Gần cửa Đông Nam, một trong tám cửa của kinh thành Huế, xưa có khu vườn nuôi ngựa để kéo xe cho vua . Những con ngựa này thường là dữ dằn phải do đội phi kỵ vệ và khinh kỵ vệ nuôi dạy, huấn luyện cho ngựa trở nên thuần . Người đàn bà dữ dằn lúc nào cũng lồng lên như ngựa chứng thì có gọi là “ngựa Thượng Tứ” cũng đúng thôi . Cửa Đông Nam vì ở gần khu Thượng Tứ nên cũng được dân Huế gọi luôn là cửa Thượng Tứ, không ai còn để ý đến hai chữ Đông Nam ghi trên vọng lâu nữa .



Chợ Đông Ba hay chợ Đông Hoa ?



Chợ Đông Ba, ngôi chợ lớn nhất trong các chợ ở Huế, vốn có tên thật là chợ Đông Hoa – cửa Đông Ba xưa cũng gọi là cửa Đông Hoa . Đây là một cái tên do ta bắt chước Trung Quốc . Thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu cũng có một cái cửa gọi là cửa Đông Hoa . Chỉ vì tránh phạm húy mà người Huế phải gọi trệch ra là Đông Ba vì tên Hoa là tên của bà Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh Mạng, được phong Tá Thiên Nhân hoàng hậu, gốc người Biên Hòa (Nam Bộ) .

Nếu ta nghe người Huế xưa gọi “Ánh sáng”“Yến sáng'” thì cũng đừng ngạc nhiên vì họ sợ phạm húy bởi “Ánh” là tên vua Gia Long nên phải đổi ra thành Yến .

Lão thi ông Ưng Bình Thúc Giạ khi làm thơ cũng đổi chữ “cánh phồn hoa” ra “cánh phiền ba” bởi hơn ai hết, ông phải kỵ húy vì ông là người trong Hoàng tộc .



Tập San “Áo Dài Huế” (Nhớ Huế – tập 3)



(*) Chú thích của BN : Tô Kiều Ngân tên thật là Lê Mộng Ngân, người Huế . Ông đa tài lắm: ca hát, làm thơ, ngâm thơ, thổi sáo . Một số bài thơ về Huế của ông được phổ nhạc như “Những Con Đường Trắng” . Ông ngâm bài “Đây Thôn Vỹ Dạ” (Hàn Mặc Tử) thì phải nói là tuyệt . Đa số nghệ sĩ ngâm thơ bài này đều bắt chước lối ngâm của ông . Ông thổi sáo đệm cho nhiều nghệ sĩ ngâm thơ nổi tiếng như Hồ Điệp, Hoàng Oanh, Hoàng Thư, Quang Minh, Quách Đàm . Trước 1975, ông cộng tác với ban Tao Đàn và Thi Nhạc Giao Duyên của thi sĩ Dinh Hùng . Khi Đinh Hùng qua đời năm 1967, ông phụ trách ban Tao Đàn .




Bắt trẻ con làm cá, lấy trấu làm tép!



Nhân vùng biển Thuận An sắp trở thành thị xã, xin kể vài tục lạ của người dân vùng biển này có từ thời xa xưa .

Dân chài lưới ở Thuận An rất sùng bái nữ thần Thái Dương vì vị thần này đã nhiều phen giúp họ làm ăn phát đạt . Họ lập miếu thờ và mỗi năm, cứ đến ngày 23 tháng chạp âm lịch lại tổ chức lễ hội, trang điểm cho tượng thần, bày ra các trò vui chơi và cúng tế để cầu yên . Họ thường nhắc câu: ”20 làm tốt, 21 xâu tai, 22 đeo hoa, 23 tế Nhân” . Xâu tai, đeo hoa là làm đẹp cho tượng thần và Nhân là tên của nữ thần Thái Dương .

Ngư dân ở đây đã lấy lưới vây trên bến cạn, bắt một số trẻ em trần truồng cho vào trong lưới giả làm cá vừa lưới được, xong nhiều người đem rổ rá đến mua . Cũng diễn ra cảnh chọn cá và kỳ kèo, trả giá, xong thì đem bọn trẻ sang bờ bên kia thả cho chúng chạy .

Họ cũng dùng trấu giả làm tép biển và lấy vợt xúc lên, giả như đang thu hoạch . Tiếp sau đó, có những trò vui như đua trải, nhậu nhẹt và hát bội cho dân làng xem .



Người Huế mà không được nói . . . tiếng Huế !




Đó là lệnh cấm đối với các thiếu nữ được tuyển vào làm cung phi trong Nội, dưới triều Nguyễn . Họ không được nói rặt giọng Huế mà phải nói y như giọng dân Phường Đúc . Phường Đúc là khu quần cư tập trung các người thợ đúc đồng tài giỏi do triều dình tuyển từ Bắc vào hoặc trong Nam ra . Họ là tác giả của chuông chùa Linh Mụ, Cửu vị Thần Công và Cửu Đỉnh ở Huế . Những sản phẩm của họ dãi nắng, dầm mưa, trải bao tuế nguyệt đến nay vẫn chẳng chút nứt rạn hay có tì vết gì . Họ mang theo gia đình ra làm ăn sinh sống lâu ngày ở Huế nên hòa đồng ngôn ngữ với dân địa phương . Dân Phường Đúc không nói rặt một giọng nào mà pha trộn nửa nọ, nửa kia . Các cung phi trong Nội phải bắt chước giọng Phường Đúc, nghĩa là vừa nói nửa Trung, nửa Nam, ai không tuân thì bị tội . Tại sao lại có hiện tượng này ? Kể cũng khó hiểu . Và lệnh này có từ đời nào ? Có người đưa ra giả thuyết: có lẽ chuyện này xuất phát từ thời bà Từ Dũ vốn là một phụ nữ Nam Bộ, con gái của Đại thần Phạm Đăng Hưng, người Gia Định . Bà được phong Nghi Thiên Chương Hoàng hậu, lấy vua Thiệu Trị, đứng đầu bộ phận “hậu cần” của Hoàng đế, có nhiều quyền uy đối với các cung phi khắp ba cung, sáu viện . Có lẽ bà muốn những người dưới tay mình phải dùng giọng nói pha âm sắc Nam Bộ để trao đổi cho dể hiểu chăng, bởi vì người Tân Hòa – Gia Định nghe giọng Huế “đặc sệt” có thể không hiểu mô tê chi cả .

Cũng có thể lệ này xuất hiện sớm hơn, từ thời Minh Mạng vì ông này nổi tiếng là ông vua có nhiều vợ và phần lớn là người miền Nam .

Về giọng nói Phường Đúc thì cho đến nay, thời gian qua quá lâu, trải nhiều thế hệ, giọng nửa Nam nửa Trung đã trở thành Huế rặt .

Ngoài ra còn có một hiện tượng buồn cười khác là các người làm việc trong nội dù là cung phi, lão tỳ, thị tỳ, nô nhân hay nê nhân, lúc mới vào đều phải tự nguyện “câm” đi trong thời gian sáu tháng . Suốt thời gian này, họ không nói gì cả hoặc nói rất ít . Không nói vì sợ phạm húy, lỡ mồm lỡ miệng thì mang họa vào thân . Chờ khi nào thuộc lòng những chữ “nên tránh” gồm trọng húy và khinh húy, hoặc những chữ cấm nói như: chết chóc, đui què, máu me, phong hủi . . . vì những từ này mang điềm gỡ hoặc thô tục, lúc đó họ mới được phép . . . hết câm .


Tập San “Áo Dài Huế” (Nhớ Huế – tập 3)



Trước đây, BN có nhắc đến một số nghệ sĩ ngâm thơ đã từng cộng tác với thi nhạc sĩ Tô Kiều Ngân trước 1975 trong ban Tao Đàn và Thi Nhạc Giao Duyên như Hồ Điệp, Hoàng Oanh, Hoàng Thư, Quang Minh, Quách Đàm . BN quên kể Hoàng Thư đã qua đời đầu năm 2000, còn Hồ Điệp thì đã bị mất tích trên đường vượt biên bằng đường bộ


BVN-TH

 

Tràng giang (tho Huy Can,To Kieu Ngan ngâm) 

 

 

 

CHIA BUỒN

 


   Nhận Được Tin Buồn

 Nhà thơ, nghệ sĩ TÔ KIỀU NGÂN
 qua đời tại VN, hưởng thọ 86 tuổi.




 

hoa_tang_1_1

 




Lễ nhập quan vào lúc 14 giờ ngày 20 tháng 10 năm 2012 (nhằm ngày mồng 06 tháng 09 năm Nhâm Thìn).
Lễ động quan lúc 09 giờ sáng ngày 24 tháng 10 năm 2012 (nhằm ngày 10 tháng 09 năm Nhâm Thìn).
Hỏa táng tại Bình Hưng Hòa.
Hiện đang quàn tại tư gia số 57/6/4 Đường Điện Biên Phủ, Quân Bình Thạnh, Sài Gòn.
 
Chúng tôi nh
ững Bạn Văn xin chia buồn cùng tang quyến và cầu chúc hương linh Ông sớm an vui nơi miền Cực Lạc.



Bạn Văn:


Nguyễn Đình Toàn, Du Tử Lê, Thành Tôn, Đạm Thạch, Trần Văn Nam, Trần Thế Phong, Phạm Xuân Đài, Nguyễn Xuân Hoàng, Viên Linh, Đỗ Tiến Đức, Trúc Chi, Nguyễn Tường Thiết, Nguyễn Văn Sâm, Đỗ Việt Anh, Đào Trung Đạo, Đinh Cường, Hà Nguyên Thạch, Hoàng Thị Bích Ni, Nguyễn Hữu Thụy, Hà Nguyên Dũng, Trần Dzạ Lữ, Trần Phù Thế, Hồ Minh Dũng, Trần Doãn Nho, Lâm Chương, Phan Xuân Sinh, Hoàng Lộc, Luân Hoán, Phan Ni Tấn, Nguyễn Nam An, T.Vấn, Lê Hân, Vĩnh Điện, Trần Tuấn Kiệt, Hàm Anh, Ngọc Nôi, Huy Tưởng, Hồ Thành Đức & Bé Ký, Phạm Nhã Dự, Rừng, Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn, Lương Thư Trung, Phạm Quốc Bảo, Thái Tú Hạp, Nguyễn Thanh Châu, Trần Huiền Ân, Phạm Cao Hoàng, Lương La (xuquang.com), Cao Thoi Châu, Bắc Phong, Phạm Tường, Trần Lê Hoa Tranh, Trân Sa, Huỳnh Hữu Ủy, Chu Vương Miện, Nguyễn Đình Thuần, Xuân Thao, Song Thao, Phạm Ngọc Lư, Đynh Trầm Ca, Phan Bá Thụy Dương, Phùng Nguyễn, Lữ Quỳnh, Hà Thúc Sinh, Nguyễn Thanh Huy, Đức Phổ, Mặc Lâm, Võ Chân Cửu, Võ Văn Lê, Hà Nguyên Du, Trần Văn Sơn, Đặng Phú Phong, Hồ Chí Bửu, Cái Trọng Ty, Cung Tích Biền, Đoàn Thạch Biền, Nguyễn Nhật Ánh,  Đức Ph, Phan Trang Hy, Khánh Hồng & Trần Yên Hòa.

 


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20187:42 SA(Xem: 33)
Ông sinh ở Hải Phòng năm 1937, tên khai sinh là Phạm Văn Rao…Di cư vào Nam
19 Tháng Năm 20186:18 CH(Xem: 119)
Trên diễn đàn họ gọi Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ (Tổng biên tập TC Sông Hương) là ‘bọn tay sai của địch…”
15 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 146)
Tháng Năm, 1969, tuần báo Khởi Hành, cơ quan ngôn luận của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội, số 1
09 Tháng Năm 20187:20 SA(Xem: 240)
Tên thật: Huỳnh Văn Hiến. Nơi sinh: Đà Nẵng. Năm sinh: 1942. Năm mất: 1995
05 Tháng Năm 20189:32 SA(Xem: 345)
bìa Uyên Nguyên. kỹ thuật typesetting Trần Yên Hòa. nhà xuất bản Bạn Văn Nghệ. phần phục lục: thơ Luân Hoán giới thiệu TYH